Vũ Khí Trong Chiến Tranh Việt Nam
Có thể bạn quan tâm
Thành quả của Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc gắn liền với sự giúp đỡ trên tinh thần quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc.
Sự giúp đỡ của bạn bè khắp nơi trên thế giới bắt nguồn từ tính chính nghĩa của hai cuộc kháng chiến, từ đường lối và chính sách ngoại giao, đường lối quốc tế của Việt Nam, và với ảnh hưởng và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhờ vậy, ở vào thời điểm hai nước Liên Xô và Trung Quốc xảy ra những bất đồng quan điểm, vào lúc cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam đang được Mỹ đẩy lên tới mức cao nhất, thì sự viện trợ và giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc cho Việt Nam vẫn được đảm bảo.
Trước chiến tranh Đông Dương, binh lính Việt Nam chủ yếu sử dụng các loại vũ khí thu được của Pháp – Nhật và một phần tự sản xuất trong nước.
Chỉ hai tuần sau khi tuyên bố độc lập, ngày 15/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký chỉ thị thành lập Phòng Quân giới trực thuộc Bộ Quốc phòng (tiền thân của ngành CNQP ngày nay).
Người có công đầu trong việc đặt nền móng vững vàng cho công nghiệp quốc phòng Việt Nam thời kỳ này là Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Ông là tác giả của hàng loạt thiết kế súng ống công phá trang bị cho bộ đội Việt Nam thời bấy giờ. Điển hình là súng chống tăng Bazoka, được quân giới Việt Nam sản xuất trang bị cho bộ đội đánh Pháp trong chiến dịch Việt Bắc 1947.
Kháng chiến chống Pháp
Trong cuộc chiến tranh chống Pháp từ năm 1947, trang bị của quân đội Việt Nam so với thời kỳ đầu không thay đổi nhiều. Việt Nam chủ yếu vẫn phải dùng lại vũ khí chiến lợi phẩm thu được của Pháp, Nhật, Anh để đánh Pháp. Bên cạnh đó, các xưởng quân giới bắt đầu “nhen nhóm” tự chế vũ khí giúp bộ đội đánh Pháp.
Từ năm 1950, quân đội Việt Minh đã được Trung Quốc và Liên Xô viện trợ vũ khí. Số lượng tuy không nhiều nhưng đều là những vũ khí quan trọng, nhiều loại vũ khí đã góp phần không nhỏ trong cuộc chiến chống quân Pháp xâm lược; nổi bật là chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc thời đại Pháp cai trị Việt Nam trong gần 100 năm.
Việt Nam có được sự viện trợ này là do thiết lập quan hệ ngoại giao từ trước đó. Ngày 20/1/1950 Việt Nam và Trung Quốc chính thức đặt mối quan hệ ngoại giao, sau khi đặt mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên đường tới Bắc Kinh.
Ngày 3/2/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Bắc Kinh sang Moskva để dự cuộc họp với các nhà lãnh đạo các nước Trung Quốc và Liên Xô. Trong cuộc họp này, có Nguyên soái Stalin, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai ở Moskva, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Liên Xô giúp trang bị cho Việt Nam 10 sư đoàn bộ binh và một trung đoàn pháo cao xạ.
Stalin đồng ý với yêu cầu của Việt Nam, tuy nhiên đề xuất phân công vai trò giữa Liên Xô và Trung Quốc: Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam những thứ đang cần, những thứ gì Trung Quốc chưa có thì hãy lấy trong số hàng Liên Xô đã viện trợ cho Trung Quốc chuyển cho Việt Nam và sẽ được Liên Xô hoàn trả.
Sau đó, Trung Quốc chuyển giao chuyến hàng đầu tiên cho Việt Nam, trong đó vũ khí bộ binh bao gồm 1.990 súng trường và 27 trung liên Mỹ, 43 trung liên Anh, 29 trung liên và 24 đại liên Trung Quốc.
Tiếp theo, các đại đoàn của Việt Nam thành lập và được trang bị bằng những loại vũ khí được Trung Quốc và Liên Xô viện trợ gồm tiểu liên kiểu 50 bắn đạn 7,62x25mm và súng trường kiểu 24, trung liên ZB-26, đại liên Kiểu 24 bắn chung cỡ đạn 7,92x57mm.
Cũng từ năm 1950, Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam 8 khẩu súng cối 82mm do Liên Xô chế tạo. Tính đến chiến dịch Điện Biên Phủ, phần lớn hỏa lực súng cối từ cấp trung đoàn trở lên đã được trang bị thống nhất bằng súng cối 82mm viện trợ với tổng cộng 176 khẩu sản xuất bởi cả Liên Xô và Trung Quốc.
Ở cấp tiểu đoàn được trang bị súng cối 60mm kiểu 31, hỏa lực bắn thẳng cấp trung đoàn và đại đoàn được biên chế thêm các phân đội súng không giật ĐKZ 57mm M18 của Mỹ.
Đến đợt cuối chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã viện trợ gấp rút thêm cho Việt Nam 1 tiểu đoàn gồm 12 khẩu ĐKZ75mm M20 của Mỹ cùng với 4.000 viên đạn. Kể từ tháng 4/1950, Trung Quốc tiến hành vận chuyển và bàn giao cho Việt Nam hàng chục khẩu sơn pháo 75mm kiểu 41 đều do Nhật sản xuất.
Số vũ khí này giúp trang bị cho Trung đoàn pháo binh 675 đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam thành lập ngày 20/11/1950 cũng như một số phân đội pháo nằm trong các đơn vị bộ binh.
Đây là hỏa lực chủ yếu của Việt Nam trong các chiến dịch lớn trên chiến trường Bắc Bộ trong giai đoạn 1950-1953. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 675 tham chiến với 18 khẩu pháo sơn pháo 75mm.
Đồng thời với việc thành lập trung đoàn pháo mang vác, Bộ Tổng tư lệnh cũng quyết định chuyển đổi và xây dựng Trung đoàn bộ binh 34 thành trung đoàn pháo cơ giới đầu tiên. Tháng 3/1951, Trung đoàn 34 đổi tên thành Trung đoàn pháo binh 45 với trang bị ban đầu là 2 khẩu lựu pháo 105mm Mỹ loại M2A1 thu được trong chiến dịch Biên giới.
Tháng 6/1951, trên cơ sở viện trợ do Trung Quốc chuyển giao, tiểu đoàn phòng không đầu tiên mang phiên hiệu 387 trực thuộc đại đoàn 308 được thành lập.
Tính đến đầu năm 1953, lực lượng phòng không của Việt Nam đã phát triển lên tới 8 tiểu đoàn (bao gồm 1 tiểu đoàn trực thuộc Bộ tổng tư lệnh, 1 tiểu đoàn của Liên khu 5 và 6 tiểu đoàn của 6 đại đoàn bộ binh) cùng một số đại đội phòng không trực thuộc Bộ và các liên khu, tỉnh.
Trang bị của các đơn vị này có 500 khẩu súng máy phòng không 12,7mm kiểu DShK do Liên Xô sản xuất. Tháng 5/1951, đại đội 612 trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu, đơn vị phòng không đầu tiên sử dụng pháo cao xạ của được thành lập. Đại đội được trang bị 4 khẩu pháo cao xạ 37mm kiểu 1939 do Liên Xô sản xuất.
Đến tháng 4/1954, khi chiến dịch Điện Biên Phủ bước vào giai đoạn tổng công kích, Trung Quốc viện trợ gấp cho Việt Nam 1 tiểu đoàn tên lửa H6 gồm 12 hệ thống pháo phản lực bắn loạt 6 nòng cỡ 102mm. Tiểu đoàn H6 mang phiên hiệu d244/e675/f351 đã kịp thời tham gia chiến đấu trong đợt tấn công cuối cùng với tổng cộng 836 viên đạn được bắn (chiếm 20,9% cơ số đạn dự trữ).
Vũ khí bộ binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam trước năm 1950 phổ biến là súng trường với đủ loại hỗn tạp. Từ súng trường Mosin Nagan của Liên Xô đến súng trường Thất Cửu của Trung Quốc, súng trường Muscton của Pháp, súng trường Chiêu Hòa của Nhật Bản, súng trường Remington của Anh.
Số lượng súng máy rất ít, chủ yếu là chiến lợi phẩm thu được của địch. Từ năm 1950, trong đội hình chiến đấu của cấp trung đội bộ binh Việt Nam đã xuất hiện nhiều súng tiểu liên K-50 của Trung Quốc viện trợ, sản xuất theo mẫu tiểu liên PPSh-41 của Liên Xô, sử dụng băng đạn cong. Đặc biệt là ở các đơn vị hỏa lực cấp đại đội và tiểu đoàn đã có nhiều súng đại liên Maksim do Liên Xô viện trợ. Hỏa lực súng máy được tăng cường đã giúp tăng thêm sức mạnh tấn công cũng như phòng thủ của các đơn vị bộ binh của Việt Nam.
Ngoài vũ khí, Trung Quốc còn viện trợ khoảng 1.700 tấn gạo, bằng 6,8% tổng số gạo huy động cho chiến dịch, viện trợ 3.600 viên đạn pháo 105 mm (đó là cơ số đạn đi theo 24 khẩu pháo viện trợ đưa về Việt Nam từ cuối năm 1953), chiếm 18% tổng số đạn pháo sử dụng, sau chuyển thêm cho Việt Nam 7.400 viên đạn 105 mm, mặc dù đạn pháo 105 mm của Trung Quốc đã trở nên khan hiếm sau chiến tranh Triều Tiên.
Trung đoàn lựu pháo 105 mm là đơn vị hỏa lực mạnh nhất của Việt Nam, do Trung Quốc giúp đỡ đã rót đạn xuống đầu đối phương khiến địch hoảng hốt, mất tinh thần.
Về phía Liên Xô, từ năm 1950, sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, Liên Xô đã viện trợ Việt Nam 76 khẩu pháo cao xạ 37 ly, 14 dàn hỏa tiễn H6, và một số tiểu liên K50 là của Liên Xô.
Ðặc biệt, trong đợt ba của chiến dịch Ðiện Biên Phủ, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định bổ sung 12 dàn tên lửa H6 (trong tổng số 14 dàn) do Liên Xô viện trợ tham chiến, trực tiếp tác chiến tại khu vực bắc Him Lam.
Tên lửa H6 đã phát huy uy lực, khiến lính Pháp vô cùng hoảng loạn, góp phần nhanh chóng làm cho quân đội Pháp suy sụp ý chí kháng cự.
Kháng chiến chống Mỹ
Sau chiến tranh Thế Giới II, nước Mỹ vượt lên và trở thành một siêu cường quốc tế, cầm đầu phe đế quốc chủ nghĩa. Lợi dụng đế quốc Pháp suy yếu và sa lầy trong cuộc chiến tranh Đông Dương, Mỹ từng bước lấn quyền và thay Pháp độc chiếm địa bàn có vị trí chiến lược trọng yếu, giàu tài nguyên thiên nhiên này.
Khi Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ thì Mỹ đã từng bước đưa người vào miền Nam Việt Nam thay thế Pháp, biến miền nam Việt Nam thành một căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới, với toan tính thống trị lâu dài.
Lúc này thế giới sau khi đã thắng được phe Trục phát xít trong chiến tranh TG, lại phân chia thành hai cực, hai phe phái quốc tế đối đầu căng thẳng với cuộc chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang giữa Liên Xô và Hoa Kỳ.
Sau 9 năm chiến đấu, miền Bắc được giải phóng, miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của Mỹ, thì nhiệm vụ đấu tranh giải phóng miền Nam trở thành nhiệm vụ số một của Việt Nam.
Sự kiện đoàn đại biểu Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu thăm ba nước Trung Quốc, Mông Cổ và Liên Xô trong vòng một tháng (22/6 đến 22/7/1955), đã mở đầu thời kỳ bạn bè quốc tế trên thế giới ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam chống Mỹ.
Ngay sau chuyến thăm, theo thỏa thuận giữa Việt Nam với ba nước, về kinh tế, trong hai năm Liên Xô giúp đỡ các thiết bị máy móc, kỹ thuật để khôi phục và phát triển 25 xí nghiệp; Trung Quốc giúp khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu đường, xây dựng nhà máy dệt, nhà máy thuộc da, nhà máy giấy; Mông Cổ giúp 500 tấn thực phẩm và một số bò và cừu để lập các nông trường chăn nuôi. Đến cuối năm 1962, Liên Xô đã giúp 1.400 triệu rúp, giúp xây dựng 34 nhà máy lớn, 19 nông trường và cải tạo 27 nông trường, một số trường đại học, 1 bệnh viện lớn.
Khối lượng hàng quân sự Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hunggari, Bungari, Rumani, CHDC Đức, CHDCND Triều Tiên và Cuba viện trợ từ năm 1955 đến 1975, qua từng giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1955-1960: tổng số 49.585 tấn, gồm: 4.105 tấn hàng hậu cần, 45.480 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: viện trợ 29.996 tấn, Trung Quốc viện trợ 19.589 tấn.
- Giai đoạn 1961-1964: tổng số 70.295 tấn, gồm: 230 tấn hàng hậu cần, 70.065 tấn vũ khí, trang bị – kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 47.223 tấn: Trung Quốc 22.982 tấn, các nước khác: 442 tấn.
- Giai đoạn 1965-1968: tổng số 517.393 tấn, gồm: 105.614 tấn hàng hậu cần, 411.779 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 226.969 tấn, Trung Quốc: 170.798 tấn, các nước khác 119.626 tấn.
- Giai đoạn 1969-1972: tổng số 1.000.796 tấn, gồm: 316.130 tấn hàng hậu cần, 684.666 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô 143.793 tấn, Trung Quốc 761.001 tấn, các nước khác 96.002 tấn.
- Giai đoạn 1973-1975: Tổng số 724.512 tấn, gồm: 75.267 tấn hàng hậu cần, 49.246 tấn vũ khí, trang bị – kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 65.601 tấn, Trung Quốc: 620.354 tấn, các nước khác: 38.557 tấn.
Như vậy, qua 20 năm, Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước khác đã viện trợ cho Việt Nam tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn.
Theo Báo Quân Đội Nhân Dân, Hội thảo khoa học “đại thắng mùa xuân 1975 – Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”, tổ chức tại TP Hồ Chí Minh năm 2008 (Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Ban tuyên giáo thành ủy TPHCM), SIPRI
Đánh giá:
Chia sẻ bài này đến mọi người:
- In
- X
Từ khóa » Súng Dùng Trong Chiến Tranh Việt Nam
-
Danh Sách Vũ Khí Sử Dụng Trong Chiến Tranh Việt Nam - Wikipedia
-
Thể Loại:Vũ Khí Trong Chiến Tranh Việt Nam - Wikipedia
-
Các Loại Súng Mỹ Dùng Trong Chiến Tranh Việt Nam - VnExpress
-
5 Loại Vũ Khí 'chết Chóc' Nhất Lịch Sử Quân Sự Hiện đại, Cả Trong Chiến ...
-
Những Vũ Khí Trong 60 Ngày đêm Chiến đấu Tại Hà Nội
-
Những Vũ Khí được Sử Dụng Nhiều Nhất Trong Thế Chiến II
-
Vũ Khí Mỹ Trong Chiến Tranh VN - Kỳ 3: 'Đồ Chơi' Của Lục Quân
-
Những Vũ Khí Bộ Binh Nga Viết Lên Huyền Thoại Trong Chiến Tranh Vệ ...
-
Vũ Khí Trong Hai Cuộc Kháng Chiến Chống Thực Dân Pháp Và đế Quốc ...
-
Vũ Khí Trong Chiến Tranh Việt Nam: S-75 Dvina, Súng Chống Tăng ...
-
Kiến Thức Quốc Phòng - Cổng TTĐT Bộ Quốc Phòng Việt Nam
-
Vũ Khí Sử Dụng Trong Chiến Tranh Việt Nam Chiến Tranh Việt Nam
-
Đánh Giặc, Trước Hết Phải Có Vũ Khí - Chỉ đạo Chiến Lược Của Hồ Chí ...