Vương Quốc Phù Nam - Haivanchan
Có thể bạn quan tâm
Vương quốc Phù Nam
(Thế kỉ I – nửa đầu thế kỉ VII)
1. Vương quốc Phù Nam: quá trình hình thành, phát triển và suy tàn
vSự thành lập nước Phù Nam: truyền thuyết và thực tế
Về sự thành lập nước Phu Nam, đến nay các nhà khoa học đã tìm được những bằng chứng cả về văn hoá dân gian lẫn khảo cổ học để đưa ra những đoán định chính xác về hoàn cảnh cũng như thời điểm thành lập nước Phù Nam.
Thư tịch cổ Trung Hoa là những nguồn tư liệu cho chúng ta biết nhất về truyền thuyết lập nước Phù Nam. TừTấn ThưđếnNamTề thư,rồiLương thưcó chép truyền thuyết lập nước của Phù Nam. Tuy có khác nhau về chi tiết nhưng đều thống nhất ởmột điểm: nhà nước Phù Nam ra đời là kết quả của cuộc hôn nhân giữa một chàng trai Ấn Độ tên là Hỗn Điền (hay Hỗn Hội) với một người con gái bản địa, đã được tôn lên làm vua là Liễu Diệp.
Vào khoảng những năm 50 của thế kỉ XX, một nhà nữ dân tộc học người Pháp đã tiến hành khảo cứu thực địa, phát hiện và công bố 5 truyện kể dân gian về sự thành lập nước Phù Nam[2]. Năm dị bản truyện dân gian tuy có khác nhau đôi chút nhưng đều có chung một cốt lõi: Prah Thong dùng kế li gián chiếm đất của vua Chăm, lên ngôi vua, lập ra dòng giống mặt trời (Adityayamsa) Prah Bat Atychavongsa, lập ra nước Kon Kampuchia Thidey. Prah Thong khi còn là hoàng tử hay lúc lên ngôi đều lấy vợ Rắn.
Như vậy, ở đây đã có sự phù hợp nhất định giữa truyện kể dân gian với nguồn thư tịch cổ Trung Hoa. Tuy nhiên, nếu so với nguồn tư liệu dân gian, thì thư tịch cổ Trung Hoa đã trình bày sự thành lập nước Phù Nam một cách hợp lí hơn. Nhưng điều băn khoăn là tên người và sự tích có vẻ như vẫn còn nửa thực, nửa hư.
Sự hoài nghi này sau đó đã được khẳng định bằng một tấm bia Chămpa (Bia Mĩ Sơn (3) - 658) có viết về một sự kiện khác, dựa vào một nguồn tư liệu khác về sự thành lập nước Phù Nam:“Ở nước này, Kaundinya, bò mộng của những người Bà La Môn đã cắm cây lao mà ông đã nhận được của người con gái Bà La Môn kiệt xuất là Asvathaman, con của Drona. Người con gái của vua các Naga, xuất thân… người sáng lập trên thế gian dòng giống mang tên Sôma; điều kì thú là nàng đã hòa nhập tình trạng đó, sống trong một nơi cư trú của người trần… Bò mộng của các Munis, tên gọi là Kaundinya đã cưới nàng để hoàn tất lễ nghi”.
Văn bia mang đậm dấu ấn của tập tục Hinđu giáo Ấn Độ. Trong một mức độ đã có sự phù hợp giữa tên của các nhân vật trong văn bia với thư tịch cổ Trung Hoa. Hồn Điền (hay Hỗn Hội) chuyển âm sang tiếng Phạn chính là Kaundinya, còn Liễu Diệp được đoán là Sôma.
Tóm lại, dù còn những băn khoăn nhất định, nhưng đối chiếu các tài liệu có được, giới nghiên cứu đã thống nhất đi đến khẳng định sự thành lập vương quốc Phù Nam là kết quả của một cuộc hôn nhân giữa một chàng trai Ấn Độ Bà La Môn kiệt xuất Hỗn Điền - Kaundinya với một người con gái bản địa“trẻ, khỏe mạnh, đã được tôn lên làm vua Liễu Diệp – Sôma”.Sự kết đôi này đã làm thành một đôi vương giả đẹp đẽ, mở đầu cho vương triều Phù Nam.
Theo Phạm Tầm (sứ giả Trung Quốc), Vương quốc Phù Nam tồn tại trải 13 đời vua.
Tùy thư,sử của nhà Tùy(589 - 618) chép tiếp sự kiện năm 616, Phù Nam còn sai sứ sang tiến công“lễ vật rất hậu, sau đó là dứt”. Tân Đường thư,sử nhà Đường (618 - 907) còn ghi đến thời Vũ Đức (618 - 626) và Trinh Quán (627 - 649), Phù Nam vẫn cử sứ sang cống.
Dựa trên niên đại các đời vua, nhất là những vua có niên đại đáng tin cậy, tính ngược lại cho phép chúng ta đoán định được thời điểm lập nước Phù Nam là ở khoảng đầu thế kỉ I CN. Và mốc sụp đổ, kết thúc sự tồn tại của Phù Nam là khoảng năm 649.
vQuá trình phát triển của Vương quốc Phù Nam (I - VII)
Quá trình phát triển của Vương quốc Phù Nam trong hơn 6 thế kỉ có thể chi làm 3 giai đoạn chính:
-Giai đoạn hình thành: đầu thế kỉ I – đầu thế kỉ III.
-Giai đoạn phát triển: đầu thế kỉ III – thế kỉ V.
-Giai đoạn suy vong và sụp đổ: thế kỉ VI – nửa đầu thế kỉ VII.
Trong quá trình đó có một số điểm cần lưu ý làm rõ.
Một là, tên gọi của nước
Nguồn thư tịch cổ Trung Hoa(Khang Thái ngoại quốc truyện, Phù Nam truyện, Phù Nam kí…)đều phiên âm tên của nước là Phù Nam. Chữ“Phù”được viết có bộ thủ, có nghĩa làphò giúp,chứ không viết chữ“phù”có bộ thủy, nghĩa lànổi.Sau này, người Pháp và người Châu Âu phiên âm là Fou/Fu.
Sự ghi chép đơn giản như vậy của người Trung Hoa đã dẫn tới sự nhầm lẫn của nhiều học giả cho rằng: tên nước Phù Nam là một từcó gốc Khmerlà Bnam, Phnom, Vnam (nghĩa lànúi).
Theo cách hiểu này, năm 1927, L.Finot đã coi người Khmer có truyền thống núi, gắn với việc thờ thần và lập kinh đô trên núi. Tác giả đã dẫn chứng một số địa điểm để minh hoạ cho nhận định của mình: Phmon Kulen, Phnom Bakheng, Udong…. Ông nêu lên một ví dụ rất tiêu biểu như ở những nơi không có núi, người ta cũng đắp đất thành gò núi để thờ thần và lập kinh đô, như trường hợp của Phnom Pênh.
Cũng theo quan điểm này, đến những năm 80, các học giả vẫn cho rằng“Chính tên gọi Phù Nam cũng phát sinh từ một từ Khmer là Phnom, Bnam tức là núi”(Keneth R.Hall).
Thực tế, phải thấy rõ ràng là, thờ thần trên đỉnh đồi, đình núi cao không phải là của riêng dân tộc nào, mà là một hiện tượng rất phổ biến để tỏ lòng tôn kính thần của các dân tộc. Mặt khác, thần và vua (hoàng cung) cũng thường không ở một nơi: vua ở dưới thấp, dưới chân núi Phnom Kulen, Phnom Bakheng là như vậy. Đến cung điện của vua Ăngkorvat, Ăngkor Thom đều được xây dựng trên đất bằng, trong thành. Phnom Pênh - đồi bà Pênh được đắp trên bờ sông để lập đền thờ Phật, trở thành nơi tụ cư rất lâu, trước khi đặt kinh đô. Như vậy, người Khmer đắp núi để lập kinh đô và thờ thần là không chính xác. Hơn nữa, người khmer chưa bao giờ nhận mình làtruyền thống – dòng dõi Mặt trời.
Quay trở lại với tập tục của người Khmer, tuy là dòng núi nhưng họ lại không lập kinh đô trên đỉnh núi Ba Phnom ở Prey Veng. Cho nên, đã không thể có và cũng không bao giờ, chưa ởđâu, có việc lấy một danh từ chung bình thường (như sông, núi, suối…) để gọi tên quốc gia. Do đó, Phù Nam không phải bắt nguồn từ một từ Khmer cổ.
Phù Nam, thực chất là một danh từ riêng, chỉ tên gọi của một tộc người, trong số nhóm người Môn Cổ ở phía Nam Đông Dương, Nam Trường Sơn. Họ tự gọi mình làNgười Núi, Người Phnom, Bnam.Các vua Phù Nam tự gọi mình là Kurung Bnam (Vua Núi), văn bia gọi là Saidendraja (Vua Núi)”.
Tóm lại, tên nước Phù Nam bắt nguồn từ tiếng Phạn, được Khmer hóa. Sự gần gũi về âm tiết có gốc Môn Cổ nhưng nghĩa khác nhau (Bnam: tên tộc người với Phnom: danh từ chung, nghĩa là núi bình thường) đã gây ra sự nhầm lẫn trong cách hiểu về nguồn gốc tên gọi của Phù Nam.
Hai là, về địa bàn của Phù Nam
Đây là điểm tưởng chừng dễ thống nhất, nhưng các học giả do dựa trên những nguồn tài liệu khác nhau vẫn có những đoán định khác nhau.
Các thư tịch cổ Trung Quốc có ghi lại cương vực của quốc gia Phù Nam như sau:
Tấn thưghi:“Phù Nam cách Lâm Ấp về phía Tây hơn 3.000 lí, ở trong vùng Vịnh biển lớn nhất. Đất rộng 3.000 lí”.
Nam Tề thưchép:“Nước Phù Nam ở trong vùng dân Man, phía Tây của biển lớn, ở miền Nam của Nhật Nam, dài rộng hơn 3000 lí, có sông chảy về phía Đông ra biển”.
Lương thư chépvà có thêm một vài chi tiết làm cụ thể hơn:“Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam trong vịnh lớn, phía Tây của biển cách Nhật Nam có đến 7.000 lí, cách Lâm Ấp ở phía Tây Nam đến hơn 3.000 lí. Thành cách biển 500 lí (khoảng 200km), có sông rộng 10 lí, từ Tây Bắc chảy sang Đông nhập vào biển. Nước rộng hơn 3.000 lí, đất trong vùng ẩm thấp nhưng bằng phẳng rộng rãi”.
Các học giả phương Tây trong quá trình tìm hiểu về Vương quốc Phù Nam có tham khảo nguồn tài liệu này đã ước đoán: Phù Nam là một địa bàn rộng, ở vùng Đông Bắc Ấn Độ. Nhiều học giả phương Tây tỏ ý nghi ngờ về sự tin cậy của nguồn tài liệu thư tịch Trung Hoa:“Các chỉ dẫn của người Trung Hoa chỉ đem lại sự hỗ trợ không đáng kể cho việc định vị Phù Nam”[.Tuy nhiên, do còn chịu ảnh hưởng của quan điểm thực dân, các học giả phương tây, đặc biệt là Pháp vẫn cho rằng nước Phù Nam trải dài từ Konkin (miền Bắc Việt Nam) đến nước Xiêm, rằng Phù Nam trongVăn hiến thông khảocủa Mã Đoan Lâm cũng là Chân Lạp trong các tài liệu khác, rằng đó là 2 tên gọi của hai thời kì kể tiếp nhau của một quốc gia. Năm 1896, Schelegel lạiđưa ra luận điểm: Phù Nam là hai từ của người Thái nên đoán đây là một quốc gia của người Thái.
Trên cơ sở những thành tựu khảo cổ học mới được công bố và phương pháp điền dã thực địa, GS Lương Ninh đã đính chính:Đây là những nhầm lẫn và sai lầm của các học giả phương Tây.Trong cuốnNước Phù Nam,tác giả cho rằng, địa bàn đó hẳn có một vùng rừng núi phía Tây, nay là Kirivong, có nghĩa là Dòng vua Núi… Hơn nữa, vùng đồng bằng ven biển mới là địa bàn chủ yếu, bởi đây có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc tụ cư đông đúc, phát triển kinh tế, kể cả nông nghiệp, đánh cá và mở cửa giao tiếp với bên ngoài.
Nhận định này được khẳng định chắc chắn hơn nhờ không ảnh P.Paris chụp năm 1941 phát hiện có một con kênh thẳng tắp dài 100km, nối cảng thị óc Eo với Châu Đốc, một hệ thống kênh cắt ngang nối trục kênh chính với biển và một chuỗi 5 kênh nối Châu Đốc với núi Angkor Borei. Như vậy, toàn miền Tây sông Hậu nối với nhau tìm ấp, thông ra biển, nối cảng thị với đầu nguồn sông Hậu là Châu Đốc, lại nối với núi Angkor Borei.

Phù Nam (400 - 500)
Từ những dẫn chứng trên có thể khẳng định rõ ràng là: địa bàn của Phù Nam là vùng đất Nam Bộ Việt Nam (phía tây sông Hậu). Sau này, trong quá trình phát triển, mở rộng cương vực lãnh thổ, lúc rộng lớn nhất, Phù Nam bao gồm cả Chân Lạp, bán đảo Malaya, khu vực sông semun và một phần Thái Lan.
Ba là, vị trí và tên kinh đô
Thư tịch cổ Trung Quốc (Lương thưvàTân Đường thư) chép:“Vua đặt kinh đô ở Đặc Mục”lại ghi“vua thích đi săn, mọi người cưỡi voi đi săn nhiều tháng, nhiều ngày”.Một tấm bia tìm được ở Vương quốc Phù Nam có hai dòng chữ, có nghĩa là:Đức vua của các vua (của vùng) Kambujas này, nhìn thấy đại dương các phẩm hạnh được muôn dân ca tụng, đã cúng dâng 6 người đẹp vào mỗi tuần trăng (cho thần) Adrivyadhapura (= Siva của thành phố Vydhapura).
Dựa trên những căn cứ này, G. Coedes cho rằng tên kinh đô làVyadhapura (Vyadha: Người đi săn; Pura: Thành phố/Kinh đô),có nghĩa làThành phố của người đi săn.Kinh đô này đặt núi ở Ba Phonom, thuộc tỉnh Preyveng. Một thời gian sau, vào năm 1944, một học giả người bản sứ đã giải đápĐặc mục (dalmak)theo tiếng Khmer cổ có nghĩa là“thòng lọng”– một dụng cụ dùng bắt voi, là từ nguyên của Đặc Mục, ngữ nghĩa củaVyadha.Sự lí giải này càng khẳng định kinh đô của Vương quốc Phù Nam đúng làVyadhapura.
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một trong nhiều giả thuyết, quan trọng hơn, nơi đây không tìm thấy dấu vết của kinh kinh và thành gì cả. Các nhà nghiên cứu tiếp tục đi tìm câu trả lời cho vị trí và tên kinh đô của Phù Nam.
Năm 1903, P.Pelliot cho rằng vị trí kinh đô của Phù Nam làAngkor Borei -một địa điểm cáchVyadhapura140 km đường chim bay. Quan điểm này cũng được P.Dupont xác nhận vào năm 1955. Tuy nhiên, cả hai mới chỉ nêu ra chứ chưa chứng minh gì cả.
Năm 1962, với những phát hiện khảo cổ học của L.Malleret và hàng loạt các cuộc khai quật khảo cổ sau đó, thì người ta càng khẳng định một cách chắc chắn: kinh đô của Phù Nam chính là là ở Angkor Borei. Tại đây, người ta đã tìm thấy các dấu vết của làng mạc và kinh thành. Toàn bộ vùng đất này thuộc huyện Kirivong, tỉnh Kirivong - một từ gốc Phạn có nghĩa là Dòng tộc Núi.
Như vậy, kinh đô của Phù Nam chínhAngkor Borei -một từ đã được chuyển âm của một từ chữ Phạn(Angkor: Nước, quốc gia: Borei: Pura – Kinh thành, đô thành), gọi từ thời Phù Nam,Nagara Puranghĩa làĐô thành quốc gia.
Bốn là, cư dân của Phù Nam
Về điểm này, các học giả đều cơ bản thống nhất, cư dân Phù Nam gồm hai nhóm dân cư: Môn Cổ và Nam Đảo.
Bộ lạc Môn Cổ (Vnam, Bnam, Pnong) và bộ lạc người miền núi, sống trên các thềm cao nguyên ở miền Nam. Trong quá trình sinh sống họ tiến xuống gần biển, gặp bộ lạc thứ hai người Biển - Nam Đảo. Tại đây, quá trình cộng cư đã diễn ra. Họ chung sức cùng nhau xây dựng quốc gia mới, bổ sung cho nhau sức mạnh, những sở trường trên núi và trên biển: người Nam Đảo có khả năng khai thác hải sản và buôn bán với nước ngoài, phong tục ăn mặc sang trọng; người Môn Cổ thu hoạch lâm sản, săn voi, có khả năng chinh chiến và tổ chức xã hội. Do đó, quốc gia mới lập, theo thói quen được gọi bằng tên tộc người bản địa (Người vùng núi) nên có tên làPhù Nam.
vTình hình khủng hoảng và sụp đổ của Vương quốc Phù Nam
Những thập niên ba mươi của thế kỉ. Và người ta đã chứng kiến các đoàn sứ bộ của Phù Nam liên tiếp đến triều đình Trung Hoa (triều Tống) vào các năm 434, 435, và 438 để trinh bày rằng Phù Nam sẽ không giúp đỡ Lâm Ấp trong các cuộc tấn công vào Giao Châu. Các sự kiện trên nếu không chứng tỏ rằng Phù Nam đã suy yếu thực sự, mất hẳn vai trò một cường quốc, thì nó cũng không chứng tỏ rằng Phù Nam là một vương quốc hùng mạnh.
Đầu thế kỉ VI, với triều vua Jayavarman (âm chữ Phạn trên văn bia), Phù Nam đã có một sự phục hưng ngắn ngủi. Nhưng đến năm 514, khi vua Jayavacman I mất, con ông lên kế vị hiệu là Rudravaman (người đã giết thái tử Gunavarman chiếm ngôi), Phù Nam lại tiếp tục đi xuống từ năm 519 đến năm 539, triều đình Phù Nam đã có nhiều sứ bộ đến triều đình Trung Hoa (nhà Lương) nhưng đã không để lại ấn tượng gì.
Năm 550, một người thuộc phe Thái tử Gunavarman chiếm kinh đô và lên làm vua. Nhân cơ hội này, từ Chân Lạp, Bhavavarman (cháu của Rudravaman cưới công chúa Chân Lạp và trở thành vua nước này) đã tiến đánh và chiếm kinh đô. Vua Phù Nam phải chạy xuống phía Nam, lập triều đình tại Na Phát Na (Naravaragara) và tiếp tục chống giữ đến năm 627 mới bị tiêu diệt hoàn toàn. Trong khoảng thời gian này, họ có gửi sứ thần sang Trung Hoa cầu cứu đánh Chân Lạp nhưng bị khước từ.
Sử nhà Đường có chép: Đến đầu đời Trinh Quán nhà Đường (627 - 649):“Chân Lạp đã chinh phục nước Phù Nam và chiếm lấy đất đai”.Điều đó cho phép chúng ta đoán định Phù Nam cũng bị tiêu diệt và biến mất trong khoảng thời gian này.
Cho đến nay vẫn chưa có một sự lý giải xác đáng về các nguyên nhân dẫn đến sự tiêu vong hoàn toàn của vương quốc Phù Nam, một vương quốc đã tìm là mộtcường quốckhu vực. Nhưng có điều khá rũ là, dường như vương quốc này đã thiếu một nền tảng vững chắc và rồi khi suy yếu thì nó lại phải đương đầu với một vương quốc trẻ hơn, mạnh hơn nên đã sụp đổ nhanh chóng như vậy.
2. Một số nét đặc trưng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Phù Nam (thế kỉ I - VII).
vChính trị
Phù Nam là một quốc gia gồm nhiều cộng đồng xã hội khác nhau, theo thể chế quân chủ tập quyền. Vua tự xưng là Hoàng đế vũ trụ (Panratabhupâla). Vua Phù Nam không chỉ cai quản lãnh thổ của mình mà cai quản cả các vùng đã xâm chiếm được. Tuy nhiên, đây không phải là một nhà nước có tổ chức, thống nhất mà chỉ là tập hợp của các tiểu quốc, trong đó mỗi tiểu quốc vẫn giữ nguyên tổ chức, tên gọi và cả truyền thống của mình (trường hợp của Chân Lạp). Các tiểu quốc chỉ là những nước chư hầu, được cai trị bởi tiểu vương và phải nộp cống phẩm cho quốc vương Phù Nam.
Ở đây có sự kết hợp chặt chẽ giữa vương quyền và thần quyền. Đạo Bàlamôn được sử dụng làm công cụ hữu hiệu hóa uy quyền của nhà vua. Những tư tưởng công bằng và luật còn rất thô sơ. Thư tịch cổ có chép lại:“Trong nước không có nhà tù. Phạm nhân toạt thiên phải nhịn ăn 3 ngày, sau đó phải cầm trong tay một lưỡi rìu hay một xích sắt được nung đỏ và bước đi 7 bước. Hoặc người ta thả vào nồi nước sôi những chiếc vòng vàng hay những quả trứng gà và phạm nhân phải dùng tay nhúng vào để lấy ra. Nếu có tội thì tay sẽ bị hỏng, nếu vô tội thì bàn tay không sao cả. Hoặc người ta thả vào nồi nước sôi những chiếc vòng vàng hay những tay sẽ bị hỏng, nếu vô tội thì bàn tay không sao cả. Hoặc người ta nuôi cá sấu trong những hào thành hay những thú dữ khác trong một khoảng được vây kín. Phạm nhân bị ném vào hầm thú dữ hay hào cá sấu. Nếu không bị mãnh thú ăn thịt thì đương sự được xem là vô tội và sau ba ngày thì được phóng thích… Hoặc người ta dìm phạm nhân xuống nước, người vô tội không bị chìm, kẻ có tội thì bị chìm sâu”.
Một cách điều tra kẻ phạm tội được ghi lại như sau:“Khi trong nhà có một người Phù Nam bị mất cắp, người ta lấy một hũ cơm, mang đến khấn thần linh chỉ tên ăn trộm. Hũ cơm được đặt dưới chân tượng thần. Sáng hôm sau, chủ nhà lấy hũ cơm đó về và gọi các gia nhân ra, chia cơm ấy cho họ ăn. Nếu là kẻ gian thì miệng chảy máu, không nuốt được cơm, trái lại, người vô tội sẽ ăn được cơm ngay. Lối tra án này được áp dụng ở Nhật Nam và cả những vùng biên cảnh”.
Như vậy, tuy pháp luật Phù Nam có chịu ảnh hưởng của luật pháp Ấn Độ (mang tính chất tôn giáo) nhưng chưa thành hệ thống pháp lí như Ấn Độ vào cùng thời điểm đó.
vKinh tế - xã hội:
Hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân Phù Nam là sự kết hợp giữa nông nghiệp trồng lúa nước (của người Môn Cổ) với thủ công nghiệp và ngoại thương (của người Nam Đảo).
Vương quốc Phù Nam nằm trên vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, đất đai vốn là đầm lầy nên rất màu mỡ, lại nằm trên lưu vực của các con sông lớn (trung và hạ lưu sông Mê Kông). Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp. Mỗi năm, Phù Nam có thể thu hoạch ba vụ lúa: Người Phù Nam cũng trồng nhiều loài cây khác, như chuối, cam, quýt, mía, đậu, vừng, dừa, cau…
Bên cạnh nông nghiệp, một bộ phận dân cư ở đây cũng sống bằng nghề săn bắn, hái lượm và đánh cá. Tuy nhiên, bộ phận này rất ít chủ yếu là bộ tộc Môn Cổ, còn đa số vẫn sống bằng nông nghiệp trồng lúa nước.
Thủ công nghiệp đã phát triển tới một trình độ cao. Thư tịch cổ Trung Hoa có ghi lại:“Họ thích điêu khắc và dùng đục chạm trổ rất khéo”. Tề thưcũng viết:“Người Phù Nam đúc nhẫn và vòng bạc bằng vàng, chén đĩa bằng bạc”.Nghiên cứu sự phát triển của thủ công nghiệp ở Phù Nam dễ dàng nhận thấy hai đặc điểm nổi bật:
Thứ nhất,sự phong phú và đa dạng của các nghề thủ công. Qua các hiện vật tìm được ở di chỉ văn hoá Óc Eo đã chứng minh cho sự đa dạng của các ngành nghề ở đây:nghề mộc(di vật cột nhà và sàn nhà, lan can, giây đèn bằng gỗ), nghề đá(đã xây dựng, dụng cụ bằng đá như bàn nghiền, cối, chày),nghề tạc tượng(đá và gỗ),nghề làm gạch và vật liệu trang trí(đất nung),nghề xây dựng(đền đài mộ táng),nghề đóng thuyền(theo sử liệu và di vật thuyền),nghề gốm(công cụ chế tác như bàn xoa, bàn dập hoa văn, trục bàn xoay, giá nung gốm, những dụng cụ bằng gốm nhiều loại, nhiều cỡ),nghề luyện kimgồm các chuyên nghề chế tác đồ đồng (thoi, lá, dây đồng và các loại sản phẩm như tượng thần, tượng người, tượng thú, giá đèn, chuông nhạc, đồ trang sức, đồ trang trí, đồ đựng)nghề chế tác sắt(quặng sắt, khuôn luyện sắt, xích đục), nghề chế tác thiếc(tượng người, tượng thú, bùa đeo, đồ trang sức, đồng tiền),nghề kim hoàn(đá thử quí kim, búa, dùi, rất nhiều đồ trang sức bàng vàng, bạc, đá quí, thủy tinh…)
Thứ hai,sự phát triển ở trình độ cao của một số nghề thủ công, như: gốm, luyện kim và kim hoàn. Sản phẩm gốm của Phù Nam phong phú, đa dạng về loại hình, đạt trình độ khá cao về kĩ thuật chế tác gốm. Gốm có nhiều loại như vò, nồi, hũ, bình, lọ… Trên đồ gốm có nhiều kiểu loại hoa văn khác nhau, như: hình đường kẻ song song, đường hình răng cưa, đường cong uốn lượn…
Thương nghiệp ở Vương quốc Phù Nam đặc biệt phát triển. Thậm chí, trong cư dân của Phù Nam còn có một bộ phận chuyên làm nghề buôn bán.Ốc Eo chính là một trung tâm thương mại phát triển bậc nhất và quan trọng nhất của Vương quốc Phù Nam.Tại đây, họ đã tìm được rất nhiều tiền của Phù Nam ở Óc Eo, Nam Thái Lan, và Hmawza (Myanmar). Ngoài ra, các nhà khảo cổ học còn tìm được ở Kiên Giang và An Giang các đồng tiền mang dấu ấn Địa Trung Hải. Sự xuất hiện của nhũng đồng tiền này ở cương vực Phù Nam phản ánh trình độ phát triển cao của mậu dịch quốc tế của Phù Nam và vị trí quốc tế của Phù Nam trong thời kì này. Trên cơ sở đó, người ta đoán định rằng, Phù Nam không chỉ mở rộng quan hệ buôn bán với các nước láng giềng lân cận mà còn mở rộng buôn bán sang tận vùng Địa Trung Hải, Trung Á. Phù Nam được biết đến trong lịch sử như một cường quốc thương nghiệp từ giữa thế kỉ III đến đầu thế kỉ thứ VI.
Tóm lại, có thể thấy, nền kinh tế của Phù Nam là một nền kinh tế đan xen hài hoà giữa các ngành kinh tế. Một mặt, họ có thể“dùng vàng, bạc, châu ngọc, hương liệu làm đồ cống và nạp thuế”của một nền kinh tế thương mại; mặt khác, họ vẫn theo nghề trồng trọt và thủ công nghiệp để đảm bảo lương thực và đồ dùng hàng ngày. Nền kinh tế của Phù Nam trong một chừng mực nhất định mang tính chất của một nền kinh tế hàng hoá.
Trên cơ sở một nền kinh tế đa dạng và phát triển, xã hội Phù Nam đã có sự phân hoá giàu nghèo. Các tài liệu khảo cổ học đều cho thấy Phù Nam là một xã hội giàu có. Tuy nhiên, giàu đến mức nào, tất cả đều giàu hay có người giàu, người nghèo thì chưa có những cứ liệu rõ ràng. Những ngôi mộ và các đồ tuỳ táng chôn theo cũng không cho phép ta đoán định được vì người Phù Nam chủ yếu sử dụng điểu táng và hoả táng. Tuy nhiên, trên phạm vi toàn xã hội, có thể thấy có một lớp người ăn mặc sang trọng, có nhiều mảnh vàng cúng đền, sống gắn với nền kinh tế cảng thị, với những đường buôn bán ven biển, mà“con trai nhà quyền quí cắt gấm vóc, làm tấm khăn quấn quanh người, con gái thì làm tấm áo chui đầu”và một lớp“người nghèo thì dùng vải thô để che thân”,làm nông nghiệp, đánh bắt tôm cá, chỉ trồng lúa nổi, gắn bó với rừng núi để săn bắn, thu hoạch lâm sản, duy trì nếp sống nông thôn cổ truyền. Những điều đó cho phép ta đoán định trong xã hội Phù Nam có sự phân hoá giàu nghèo, tuy vậy sự phân hoá này dường như không sâu sắc, mà phần lớn được qui định bởi tính chất nghề nghiệp của họ mà thôi.
Trong xã hội có các tầng lớp khác nhau, như quí tộc, bình dân (nhân dân lao động), tầng lớp nô tỳ (từ nguồn tù binh).
Cư dân ở đây có tập quán ở trần, xăm mình, xõa tóc, đi chân đất, mặc váy chui đầu. Cũng có người đi guốc bằng gỗ.
vVăn hóa:
Không chỉ phát triển về kinh tế mậu dịch hàng hải, trở thành một cường quốc quân sự - chính trị, Phù Nam còn có một nền văn hoá rất đặc sắc ảnh hưởng đến các quốc gia láng giềng, để lại những dấu ấn độc đáo nhất định trong lịch sử:
Chữ viết:
Người Phù Nam sớm mượn chữ cổ Ấn Độ, chữ Brahmi, chữ Sankrit.Tấn thưcó ghi lại:“Họ có nhiều sách và những thư viện… Chữ viết của họ giống chữ của người Hồ (ở Trung Á)… Vua cũng đọc được những bài văn viết của Ấn Độ, mỗi bài dài khoảng 3.000 chữ”.Đây là chữ viết của giới quí tộc, tăng lữ cung đình. Tuy nhiên, qua thời gian truyền bá, một số chữ đã trở thành đối tượng quen thuộc với người bình dân. Điều này được khẳng định qua các bia tìm được. Chính người Phù Nam đã dùng chữ Phạn để khắc lời chú trên đồ trang sức như nhẫn, mặt dây chuyền, bia. Người ta còn tìm thấy 4 tấm bia chữ Phạn dạng cổ thuộc thế kỉ V.
Chữ Phạn xuất hiện ở Phù Nam vào thời kì hình thành nên văn minh đô thị và sự ra đời của nhà nước. Điều này đã chứng tỏ đây là một đất nước có trình độ văn hoá cao.
Tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán
Trước khi chịu ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ, người Phù Nam theo tín ngưỡng bái vật giáo với truyền thống thờ đá. Bên cạnh đó, tục thờ sinh thực khí bằng đất nung, bằng cuội tự nhiên và những hình tượng thảo mộc, cầm thú cũng khá thịnh hành.
Người Phù Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc cả đạo Bàlamôn và đạo Phật của Ấn Độ. Trong đó, đặc biệt là đạo Phật. Phật giáo đã khá thịnh hành ở Phù Nam, thậm chí nó có sức lan tỏa tới nhiều quốc gia trong vùng. Theo các thư tịch cổ, Phù Nam đã trở thành một trung tâm Phạt giáo quan trong nhất ở Đông Nam Á và Đông Á, đến mức đạo Phật từ đây ảnh hưởng tới cả Nam Trung Quốc. Phật giáo ở Phù Nam cũng có những nét đặc trưng tiêu biểu, khác hẳn với Phật giáo nguyên ủy. Sự kết hợp của Ấn Độ giáo với Đạo Phật và các tín ngưỡng dân gian là đặc trưng độc đáo trong tôn giáo người Phù Nam.
Cư dân Phù Nam cũng có những phong tục riêng: Chẳng hạn đối với người chết, họ được xử lý theo bốn cách: ném thi hài xuống sông, thiêu cháy thành tro chôn cất trong hầm và phơi xác cho chim mổ. Tập quán tắm rửa của người Phù Nam cũng khá lạ: một số gia đình cùng sử dụng chung một thùng tắm, tục này vẫn còn được thấy ở Campuchia và được gọi là Trapeang.
Kiến trúc điêu khắc
Ở Phù Nam tuy không có những công trình kiến trúc lớn, vĩ đại, đạt trình độ thẩm mỹ cao nhưng kiến trúc nhà ở cũng như đền, chùa ở Phù Nam được thiết kế rất độc đáo, theo hướng thích ứng với điều kiện tự nhiên (nguyên liệu, cách bố trí, sắp xếp…).
Trong cuộc khai quật di chỉ Ốc Eo, L. Malleret cho biết: Đây là một quần thể đô thị rộng lớn gồm các khu nhà sàn bị cắt ngang dọc bởi một mạng lưới kênh đào là hệ thống thuỷ nông trải dài trên 200 km. Các thành phố được nối với nhau bằng biển cả, bằng những con kênh đủ rộng để tiếp nhận được những chiếc tàu đi biển. Tại đây đã tìm thấy vết tích của các dinh thự, nhà cửa được thiết kế theo hai cách: ở những nơi đất cao thì xây bằng gạch và đá; ở những miền đầm lầy thì làm nhà sàn bằng gỗ; lợp lá dừa nước, xung quanh vòng thành bằng đất.
Cùng với việc xây dựng thành thị là việc xây dựng đền, miếu: Các nhà khoa học đã tìm thấy dấu vết nền của các kiến trúc, đặc biệt là trụ giới (sima cột mốc) của đền. Trên nền của nó có móng gạch chia thành ô lớn, hình vuông và hình chữ nhật Người ta cũng tìm thấy những mô đất trong đó có chứa đựng những lòng trụ huyệt nhỏ, xếp gạch hay chèn đất đá, dưới đáy xếp đặt một hay một số vật thường là mảnh vàng. Qua nghiên cứu thì đây không phải là những đồ tuy táng chôn theo người chết mà đây là những trụ giới của các đền, chùa. Mảnh lá vàng là vật của các tín chủ và thí chủ khác nhau. Đáng chú ý là trên các mảnh lá nhỏ và mỏng này người ta dùng vật nhọn khắc hình thù khác nhau như: hình thần, chim thần Garuda, trâu, ốc, hoa sen, voi, hươu hay ngựa, rùa, rắn, cá, pháp luân xa… nhiều hình không rõ là gì. Nét chạm vụng, vội, xấu.
Có thể nói, đây là một nét đặc sắc trong nghệ thuật kiến trúc của Phù Nam vì hiếm có nơi nào trên thế giới có hình thức chôn theo và chôn nhiều mảnh vàng như trong đáy sima đền.
Nét đặc sắc nhất và cũng là nét văn hoá tiêu biểu nhất của văn hoá Phù Nam là các pho tượng Phật.
Các nhà khảo cổ học đã phát hiện và lưu giữ được hơn 50 pho tượng Phật, trong đó có 17 pho tượng bằng đá, 26 pho tượng bằng gỗ, 7 pho tượng bằng đồng, trong đó có 32 pho tượng“Phật đứng”(Buddhapad). Các pho tượng này được xác định niên đại là thế kỉ V. Tượng Phật ở Phù Nam nói chung lại có nét riêng: vẻ thanh tú, dịu dàng và cân đối trên toàn thân, có sự tinh tế của thân áo, của tay phải lập thế Varamudra, tay trái kéo một chút vạt áo nhô ra, song song với thân người, tránh chi tiết tay hơi quá dài, cái đầu hơi to như tượng Phật ở một số nơi khác. Tuy bàn chân nhô ra hơi nhỏ nhưng gót chân lại lớn, hơi thô, dính liền nhau, và liền với bệ đứng, hình toà sen gần vuông. Có lẽ đây là mấy chi tiết bắt buộc của kĩ thuật để tạo thế đứng vững tượng. Đẹp hơn cả, đã xác định phong cách và niên đại, tiêu biểu cho nghệ thuật tuợng phật giáo của Phù Nam phải kể đến các pho tượng Phật đứng (Buddhapad). Nó được thiết kế mang nét đặc trưng của nền văn hoá sông nước Phù Nam.

Tượng Visnu
Những dấu tích văn hoá kể trên cho thấy cư dân Phù Nam không chỉ ra những người mở cửa biển giao lưu văn hoá mà còn buôn bán rộng rãi với nước ngoài, hơn nữa còn thích nghi rất cao với đời sống trên kênh lạch biển. Những dãy cọc gỗ nhà sàn và dấu tích nền móng đền tháp rải rác khắp miền Tây sông Hậu cho thấy họ đã lập chợ trên sông, lập phố xá dọc kênh. Ngày nay, hậu duệ của họ (cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long - TG chú) cũng chỉ phát triển nó ở trình độ hiện đại và cao hơn mà thôi.
*
* *
Vương quốc Phù Nam tồn tại hơn 6 thế kỉ, trải liên tục 13 đời vua. Thời gian của nó có thể sánh với độ dài của mọi triều đại phong kiến tập quyền ở Đông Nam Á những thế kỉ tiếp sau đó.
Trong suốt thời gian tồn tại. Phù Nam đã xây dựng được một hệ thống kênh đào hợp lí, gắn với nhu cầu sản xuất, giao thông và buôn bán đường biển, đã phản ánh rõ rệt tác dụng điều hành bộ máy quản lí nhà nước của giai cấp thống trị. Thêm nữa, vua Phù Nam có thể viết 3.000 câu chữ Hồ (chữ Ấn Độ), cho khắc 4 tấm bia đá chữ Phạn (sankrit), hàng chục tượng thần, tượng Phật bằng gỗ, đá… cũng khẳng định thêm sự tài giỏi của giai cấp lãnh đạo mà đứng đầu là nhà vua Phù Nam với vai trò là đầu mối buôn bán Đông Tây, nó giữ vững sự ổn định trong các quan hệ quốc tế, xứng đáng là một“trung tâm liên kết thế giới”như lời nhận xét của một học giả Nhật Bản.
“Với những thành tựu, biểu hiện đó, quốc gia Phù Nam đã vượt qua trình độ sơ sử để trở thành một vương quốc phát triển cao nhất Đông Nam Á về mọi mặt trong thiên niên kỉ I”.và nó“xứng đáng có một vị trí quan trọng trong lịch sử thế giới”.
Từ khóa » Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Phù Nam
-
Phù Nam – Quốc Gia Cổ đại đầu Tiên ở Đông Nam Á. Kỳ 1
-
Phù Nam – Wikipedia Tiếng Việt
-
Trình Bày Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Phù Nam - Bài Tập Lịch Sử Lớp 10
-
Nêu Mô Hình Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Phù Nam - TopLoigiai
-
Nêu Mô Hình Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Phù Nam
-
Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Của Quốc Gia Cổ Phù Nam Như ... - Hoc24
-
Giải Lịch Sử Lớp 10 Bài 24: Quốc Gia Cổ đại Chăm-pa Và Phú Nam
-
[PDF] Chuyên đề 2 TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. BỘ ...
-
So Sánh Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Văn Lang âu Lạc Chăm Pa Phù Nam
-
Quốc Gia Cổ Phù Nam | SGK Lịch Sử Lớp 10
-
Nêu Mô Hình Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Phù Nam - Haylamdo
-
Phù Nam: Huyền Thoại Và Những Vấn đề Lịch Sử (Kỳ 1)
-
[DOC] Chuyên đề 1 Những Vấn đề Cơ Bản Về Tổ Chức, Bộ Máy Của Hệ Thống ...
-
Phù Nam: Huyền Thoại Và Những Vấn đề Lịch Sử - Nghiên Cứu Quốc Tế
-
Bộ Máy Nhà Nước Việt Nam Bao Gồm Các Cơ Quan Nào? - LuatVietnam
-
Danh Sách Các Bộ, Cơ Quan Ngang Bộ, Cơ Quan Thuộc Chính Phủ ...
-
Hãy Trình Bày Những Nét Chính Về Kinh Tế Và Vẽ Sơ đồ Tổ Chức Bộ Máy ...
-
Vương Quốc Phù Nam: Cư Dân Phù Nam Và Văn Hóa Óc Eo ở Nam Bộ