Waffen-SS – Wikipedia Tiếng Việt

Lực lượng vũ trang SS
Waffen-SS
Binh lính Waffen-SS tại Liên Xô, 1941
Thủ lĩnhHeinrich Himmler[a]
Sáng lập17 tháng 3 năm 1933; 92 năm trước (1933-03-17)
Tan rã10 tháng 5 năm 1945; 80 năm trước (1945-05-10)
Quốc gia Đức Quốc xã
Trung thành với Adolf Hitler
Phân nhóm
  • Totenkopfverbände
  • Leibstandarte
  • Verfügungstruppen[1]
Trụ sởSS Führungshauptamt, Berlin
Khu vực hoạt độngVùng châu Âu do Đức chiếm đóng
Hệ tư tưởngChủ nghĩa Quốc xã
Lập trườngCực hữu[2][3]
Khẩu hiệuMeine Ehre heißt Treue[4]
Các hành động đáng chú ý
  • Thảm sát Wormhoudt
  • Thảm sát Koriukivka
  • Thảm sát Oradour-sur-Glane
  • Thảm sát Wola[5]
  • Thảm sát Malmedy[6]:260+
Các vụ tấn công đáng chú ý
  • Chiếm đóng Belgrade (1941)
  • Trận Kharkov lần thứ ba
  • Trận Narva (1944)[7]
Quy mô900,000 (Ước tính vào năm 1944)[9]
Một phần củaSchutzstaffel[10]
Tham chiếnChiến trường châu Âu trong Thế chiến thứ hai

Waffen-SS (tiếng Đức: [ˈvafn̩ʔɛsˌʔɛs]; n.đ.'SS vũ trang') là binh chủng chiến đấu của tổ chức bán quân sự Schutzstaffel (SS) thuộc Đảng Quốc xã. Các đơn vị của lực lượng này bao gồm đàn ông từ Đức Quốc xã, cùng với những người tình nguyện và lính nghĩa vụ đến từ cả châu Âu bị Đức chiếm đóng lẫn các vùng lãnh thổ không bị chiếm đóng.[11] Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, quyền chỉ huy chiến thuật đối với Waffen-SS do Oberkommando der Wehrmacht (OKW, "Bộ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang") nắm giữ,[12] trong khi một số đơn vị lại trực thuộc Kommandostab Reichsführer-SS (n.đ.'Bộ tham mưu của Reichsführer-SS') do Reichsführer-SS Heinrich Himmler trực tiếp kiểm soát.[13] Lực lượng này bị giải tán vào tháng 5 năm 1945.

Trong Thế chiến II, Waffen-SS phát triển từ ba trung đoàn lên hơn 38 sư đoàn. Kết hợp cả chức năng tác chiến và cảnh sát, lực lượng này hoạt động song song với Lục quân Đức (Heer), Ordnungspolizei (Cảnh sát trật tự), và các đơn vị an ninh khác. Ban đầu, Waffen-SS nằm dưới sự quản lý của SS Führungshauptamt (Văn phòng chỉ huy tác chiến SS) thuộc kiểm soát của Himmler.

Lúc đầu, phù hợp với chính sách chủng tộc của Đức Quốc xã, chỉ những người có nguồn gốc "Germanic" (cái gọi là "dòng máu Aryan") mới được phép gia nhập.[14] Những quy định này được nới lỏng một phần vào năm 1940,[15][16] và sau cuộc xâm lược Liên Xô tháng 6 năm 1941, tuyên truyền Quốc xã mô tả cuộc chiến là một "cuộc thập tự chinh của châu Âu chống chủ nghĩa Bolshevik", từ đó thành lập thêm nhiều đơn vị gồm phần lớn hoặc hoàn toàn là tình nguyện viên và lính nghĩa vụ nước ngoài.[17] Các đơn vị Waffen-SS này chủ yếu bao gồm công dân đến từ các nước châu Âu bị Đức chiếm đóng. Mặc dù quy định đã được nới lỏng, Waffen-SS vẫn dựa trên hệ tư tưởng phân biệt chủng tộc của chủ nghĩa Quốc xã, và người Ba Lan (bị coi là "hạ đẳng") bị cấm đặc biệt không được gia nhập các đơn vị này.[18][19][20]

Waffen-SS tham gia vào vô số tội ác.[21] Năm 1946, Tòa án Quân sự Quốc tế tại Nürnberg tuyên bố Waffen-SS là một tổ chức tội phạm,[22][23][24] do sự dính líu của lực lượng này vào cuộc Diệt chủng người Do Thái (Holocaust), cuộc diệt chủng người Roma (Porajmos) và nhiều tội ác chiến tranh, tội ác chống lại dân thường, bao gồm tra tấn,[25] thí nghiệm trên người,[26][27] bắt cóc trẻ em,[28] hiếp dâm tập thể,[29] lạm dụng tình dục trẻ em[30] và thảm sát hàng loạt.[31][32] Vì vậy, các cựu quân nhân Waffen-SS (ngoại trừ những người bị cưỡng bức nhập ngũ, chiếm khoảng một phần ba quân số) bị từ chối nhiều quyền lợi vốn dành cho cựu chiến binh quân đội thông thường.[22][23][24]

Nguồn gốc hình thành

[sửa | sửa mã nguồn]
Buổi lễ kỷ niệm năm thứ 3 của đơn vị LSSAH. Sepp Dietrich đứng trên bục. Tháng 5, 1935

Nguồn gốc của Waffen-SS có thể lần theo từ việc Sepp Dietrich chọn ra một nhóm 120 người SS vào ngày 17 tháng 3 năm 1933 để lập đơn vị Sonderkommando Berlin.[33] Đến tháng 11 năm 1933, đơn vị này đã có 800 người, và trong một buổi lễ kỷ niệm tại München nhân dịp 10 năm cuộc đảo chính quán bia thất bại, trung đoàn này đã tuyên thệ trung thành với Adolf Hitler. Lời thề là "Chỉ thề trung thành với ông ta" và "Tuân lệnh cho đến chết".[33] Đơn vị được trao tên Leibstandarte (dịch Trung đoàn Cận vệ) Adolf Hitler (LAH).[34] Ngày 13 tháng 4 năm 1934, theo lệnh Himmler, trung đoàn đổi tên thành Leibstandarte SS Adolf Hitler (LSSAH).[34]

Leibstandarte đã thể hiện lòng trung thành với Hitler trong năm 1934, trong sự kiện "Đêm của những con dao dài", khi chế độ Quốc xã tiến hành một loạt vụ ám sát chính trị và thanh trừng lực lượng Sturmabteilung (SA).[33] Được dân dắt bởi đồng minh thân cận của Hitler là Ernst Röhm, SA bị Hitler xem là mối đe dọa đối với quyền lực chính trị mới giành được. Hitler cũng muốn trấn an giới lãnh đạo Reichswehr (lực lượng vũ trang của Cộng hòa Weimar) và phe bảo thủ trong nước, những người mà ông cần sự ủng hộ để củng cố địa vị. Khi Hitler quyết định ra tay với SA, SS được giao nhiệm vụ giết Röhm và các chỉ huy cấp cao khác của SA.[35] "Đêm của những con dao dài" diễn ra từ 30 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 1934, khiến tới khoảng 200 người bị giết, gần như toàn bộ ban lãnh đạo SA bị sát hại, qua đó chấm dứt thực quyền của lực lượng này. Hành động đó phần lớn do nhân viên SS (bao gồm Leibstandarte) và Gestapo thực hiện).[36]

Tháng 9 năm 1934, Hitler cho phép thành lập lực lượng vũ trang bán quân sự của Đảng Quốc xã và phê chuẩn việc lập SS-Verfügungstruppe (SS-VT), một lực lượng quân đặc nhiệm trực thuộc quyền chỉ huy của Hitler.[33] SS-VT phải phụ thuộc vào Lục quân Đức để được cung cấp vũ khí và huấn luyện quân sự, và phụ thuộc vào các hội đồng tuyển quân địa phương (chịu trách nhiệm phân bổ lính nghĩa vụ cho các binh chủng khác nhau của Wehrmacht theo chỉ tiêu do Bộ Tổng tư lệnh Lực lượng vũ trang Oberkommando der Wehrmacht đặt ra); SS bị xếp mức ưu tiên thấp nhất trong việc nhận tân binh.[37]

Dù gặp khó khăn vì cơ chế chỉ tiêu, Heinrich Himmler vẫn thành lập thêm hai trung đoàn SS mới là SS GermaniaSS Deutschland, cùng với Leibstandarte và một đơn vị thông tin liên lạc tạo thành khối SS-VT.[37] Đồng thời, Himmler lập hai Trường sĩ quan SS-Junker (trại đào tạo sĩ quan SS), dưới sự chỉ đạo của cựu Trung tướng Paul Hausser, để đào tạo các chỉ huy SS tương lai.[38] Bên cạnh huấn luyện quân sự, các khóa học còn nhằm nhồi nhét "thế giới quan" ý thức hệ đúng chuẩn, với chủ nghĩa bài Do Thái là trụ cột chính. Một số giảng viên như Matthias Kleinheisterkamp hay những tội phạm chiến tranh tương lai như Franz Magill (thuộc Lữ đoàn Kỵ binh SS khét tiếng) lại có năng lực chuyên môn đáng ngờ.[39]

Leibstandarte SS Adolf Hitler duyệt binh ở Berlin, năm 1938

Năm 1934, Himmler đặt ra các tiêu chuẩn tuyển mộ rất khắt khe. Ứng viên phải là công dân Đức, chứng minh được dòng dõi "Aryan" của mình đến năm 1800, chưa lập gia đình và không có tiền án.[40] Họ phải cam kết phục vụ 4 năm trong SS-VT và LSSAH. Tuổi từ 17 đến 23, cao tối thiểu 1,74 mét (5 ft 9 in)). Lính canh trại tập trung phải cam kết 1 năm, tuổi từ 16 đến 23, cao tối thiểu 1,72 mét (5 ft 8 in). Tất cả tân binh phải có thị lực 10/10, không có bất kỳ miếng trám răng nào, và có giấy chứng nhận y tế.[41] Đến năm 1938, yêu cầu về chiều cao được nới lỏng, cho phép tối đa sáu miếng trám răng, và kính đeo cho loạn thị hoặc cận nhẹ cũng được chấp nhận. Khi chiến tranh bắt đầu, các tiêu chuẩn thể chất không còn được áp dụng nghiêm ngặt nữa, và bất kỳ ai vượt qua được khám sức khỏe cơ bản đều có thể được xem xét tuyển mộ.[42] Thành viên SS có thể thuộc bất kỳ tôn giáo nào, trừ Do Thái giáo; nhưng theo Himmler năm 1937, những người vô thần không được phép gia nhập.[43] Hitler từng nói về thái độ tôn giáo mà ông muốn trong một cuộc trò chuyện tại Hang Sói: "Tôi có sáu sư đoàn SS gồm toàn những người hoàn toàn thờ ơ với chuyện tôn giáo. Điều đó chẳng cản họ đi vào cái chết với tâm hồn thanh thản."[44]

Nhà sử học Bernd Wegner, trong nghiên cứu về đội ngũ sĩ quan, nhận thấy phần lớn các sĩ quan cao cấp của Waffen-SS xuất thân từ tầng lớp trung lưu trên, và theo tiêu chuẩn truyền thống thì họ hoàn toàn đủ điều kiện để được phong sĩ quan. Trong số các tướng lĩnh Waffen-SS về sau, khoảng 6/10 người có bằng tốt nghiệp trung học chuẩn bị vào đại học (Abitur), và không dưới 1/5 có bằng đại học.[45]

Hausser trở thành Thanh tra SS-VT năm 1936.[46] Ở vị trí này, ông phụ trách việc huấn luyện quân sự và ý thức hệ cho quân SS-VT nhưng không có quyền chỉ huy tác chiến. Quyền quyết định sử dụng lực lượng vẫn nằm trong tay Himmler. Điều này phù hợp với ý muốn của Hitler là giữ các đơn vị này "không thuộc về quân đội, cũng không thuộc về cảnh sát", theo lệnh của Hitler ngày 17 tháng 8 năm 1938.[47]

Ngày 17 tháng 8 năm 1938, Hitler tuyên bố SS-VT sẽ có vai trò cả trong đối nội lẫn đối ngoại, biến lực lượng vũ trang đang lớn mạnh này thành đối thủ cạnh tranh mà Lục quân vẫn lo ngại.[48] Ông ra sắc lệnh cho phép thời gian phục vụ trong SS-VT được tính là hoàn thành nghĩa vụ quân sự, trong khi phục vụ trong SS-Totenkopfverbände (SS-TV) thì không. Một số đơn vị SS-TV, trong trường hợp chiến tranh, sẽ được dùng làm lực lượng dự bị cho SS-VT, vốn chưa có lực lượng dự bị riêng.[49] Dù được huấn luyện nhiều, SS-VT vẫn chưa từng bị thử thách trong chiến đấu. Năm 1938, một tiểu đoàn Leibstandarte được chọn đi cùng Lục quân trong cuộc sát nhập Áo Anschluss,và ba trung đoàn SS-VT tham gia chiếm đóng vùng Sudetenland vào tháng 10 cùng năm. Trong cả hai chiến dịch, họ đều không gặp kháng cự.[49][50]

Việc tuyển mộ người Đức gốc ở các nước khác bắt đầu từ tháng 4 năm 1940, và các đơn vị gồm tân binh không thuộc nhóm chủng tộc Germanic được thành lập từ năm 1942.[51] Các đơn vị không-Germanic không được xem là một phần đích thực của SS (vì SS vẫn giữ tiêu chuẩn chủng tộc), mà chỉ được coi là người nước ngoài phục vụ dưới quyền chỉ huy của SS.[52] Nói chung, một Sư đoàn SS gồm người Đức hoặc gốc Germanic, còn một Sư đoàn của SS là đơn vị gồm tình nguyện viên và lính nghĩa vụ không thuộc chủng tộc Germanic.[53]

Thế chiến II

[sửa | sửa mã nguồn]

1939

[sửa | sửa mã nguồn]

Xâm lược Ba Lan

[sửa | sửa mã nguồn]
Members of the Einsatzgruppen murdering Polish civilians in Kórnik shortly after the outbreak of World War II in Europe

Các đơn vị vũ trang dưới quyền Himmler khi chiến tranh bùng nổ gồm nhiều nhóm nhỏ, sau này trở thành nòng cốt của Waffen-SS:

  • Leibstandarte SS Adolf Hitler (LSSAH), do SS-Obergruppenführer[b] Josef "Sepp" Dietrich chỉ huy lúc bấy giờ[54]
  • Thanh tra lực lượng SS-Verfügungstruppe (SS-VT), do SS-Gruppenführer[c] Paul Hausser chỉ huy, quản lý các trung đoàn Deutschland, GermaniaDer Führer regiments. Trung đoàn Der Führer được tuyển quân ở Áo sau cuộc Anschluss và khi đó vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu.[55]
  • Thanh tra các trại tập trung, do SS-Gruppenführer Theodor Eicke nắm quyền, với bốn Standarten[d] bộ binh và một Standarten kị binh Đầu lâu, gồm các lính canh SS-Totenkopfverbände (SS-TV). Những đơn vị này mang phù hiệu đầu lâu SS-TV chứ không mang phù hiệu "rune SS" của SS-VT.[56]
  • Các đơn vị cảnh sát thuộc Ordnungspolizei dưới quyền Obergruppenführer und General der Polizei Kurt Daluege, báo cáo trực tiếp cho Himmler trong cương vị Cục trưởng Cảnh sát Đức. Những đơn vị này dùng cấp bậc và phù hiệu theo hệ thống cảnh sát, chứ không dùng hệ thống của SS[57]

Tháng 8 năm 1939, Hitler đặt Leibstandarte và SS-VT dưới quyền chỉ huy tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh Lục quân (OKH).[55] Himmler vẫn giữ quyền chỉ huy các Totenkopfstandarten để sử dụng phía sau các đơn vị chiến đấu đang tiến quân, với nhiệm vụ được nói giảm là "các nhiệm vụ đặc biệt mang tính cảnh sát".[58]

Mặc dù chiến thắng quân sự trước Ba Lan vào tháng 9 năm 1939 diễn ra nhanh chóng, Lục quân chính quy vẫn cho rằng SS-VT chiến đấu kém: đơn vị này chấp nhận rủi ro không cần thiết và có tỷ lệ thương vong cao hơn quân đội.[55] Họ cũng nhận xét SS-VT huấn luyện kém và sĩ quan không phù hợp với chỉ huy tác chiến. Ví dụ, OKW ghi nhận rằng Leibstandarte đã phải được một trung đoàn lục quân cứu thoát sau khi bị quân Ba Lan bao vây ở Pabianice.[55] Về phía mình, SS khẳng định họ bị thiệt thòi vì buộc phải chiến đấu rời rạc, từng mảnh, chứ không được dùng như một khối thống nhất, và vì bị Lục quân trang bị không đầy đủ so với nhiệm vụ được giao.[55] Himmler yêu cầu SS-VT phải được chiến đấu trong các đội hình riêng, dưới quyền các chỉ huy SS của chính họ, trong khi OKW thì tìm cách giải tán SS-VT hoàn toàn.[55] Hitler không muốn làm phật ý cả Lục quân lẫn Himmler, nên chọn giải pháp thứ ba: ông ra lệnh SS-VT lập các sư đoàn riêng, nhưng các sư đoàn này vẫn đặt dưới quyền chỉ huy của Lục quân.[55] Hitler chống lại việc sáp nhập Waffen-SS vào quân đội, vì ông muốn lực lượng này tiếp tục là cánh vũ trang của Đảng và về lâu dài sẽ trở thành lực lượng cảnh sát tinh nhuệ sau khi chiến tranh kết thúc với thắng lợi của Đức.[59]

Trong chiến dịch xâm lược, nhiều tội ác chiến tranh đã được thực hiện đối với người dân Ba Lan. Leibstandarte nhanh chóng trở nên khét tiếng vì đốt phá các làng mạc mà không có lý do quân sự chính đáng.[60] Thành viên Leibstandarte cũng gây ra nhiều vụ thảm sát ở nhiều thị trấn, trong đó có vụ giết 50 người Do Thái Ba Lan tại Błonie và vụ xử bắn khoảng 200 dân thường, bao gồm cả trẻ em, bị bắn bằng súng máy ở Złoczew. Các vụ bắn giết cũng xảy ra tại Bolesławiec, Torzeniec, Goworowo, Mława, và Włocławek.[61] Lực lượng SS-TV của Eicke trên thực tế không hoạt động như một đơn vị quân sự tiền tuyến.

Thay vì sử dụng năng lực quân sự vào chiến đấu, họ dùng nó để khủng bố dân thường, với những hành động như săn lùng lính Ba Lan, tịch thu nông sản và gia súc, tra tấn và sát hại hàng loạt giới lãnh đạo chính trị, quý tộc, doanh nhân, linh mục, trí thức và người Do Thái Ba Lan.[62]

Quân Totenkopfverbände của Eicke được giao thực hiện các "biện pháp cảnh sát và an ninh" ở vùng hậu phương. Những biện pháp đó thực chất là gì được thể hiện rõ qua hoạt động của SS Totenkopf Standarte "Brandenburg". Đơn vị này đến Włocławek ngày 22 tháng 9 năm 1939 và tiến hành một đợt "chiến dịch Do Thái" kéo dài bốn ngày, bao gồm việc đốt các giáo đường Do Thái (synagogue) và xử bắn tập thể giới lãnh đạo cộng đồng Do Thái. Ngày 29 tháng 9, Standarte này tiếp tục di chuyển tới Bydgoszcz để thực hiện một "chiến dịch trí thức" (Intelligenzaktion), nhằm vào tầng lớp tinh hoa địa phương.[63]

Sư đoàn đầu tiên

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 10 năm 1939, các trung đoàn Deutschland, Germania, và Der Führer được tổ chức lại thành Sư đoàn SS-Verfügungs. Đơn vị Leibstandarte vẫn giữ độc lập và được tăng cường lên quy mô một trung đoàn cơ giới tăng cường.[55] Hitler cho phép thành lập hai sư đoàn mới: Sư đoàn SS Totenkopf, được hình thành từ các Standarte đã quân sự hóa của lực lượng SS-Totenkopfverbände, and the Sư đoàn Polizei, , được thành lập từ các thành viên của lực lượng cảnh sát quốc gia.[64] Chỉ trong một thời gian rất ngắn, lực lượng mà OKW từng tìm cách giải tán đã tăng quân số từ 18.000 lên hơn 100.000 người.[65] Tiếp đó, vào tháng 3 năm 1940, Hitler cho phép thành lập bốn tiểu đoàn pháo binh cơ giới, mỗi sư đoàn và đơn vị Leibstandarte. có một tiểu đoàn. OKW được giao nhiệm vụ cung cấp pháo cho các tiểu đoàn mới này, nhưng lại do dự trong việc chuyển giao pháo từ kho vũ khí của chính mình. Vũ khí được cấp phát rất chậm, và đến thời điểm diễn ra Trận chiến nước Pháp, chỉ có tiểu đoàn của Leibstandarte là đạt đủ biên chế.[66]

1940

[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp và Hà Lan

[sửa | sửa mã nguồn]

Ba sư đoàn SS và đơn vị Leibstandarte đã dành mùa đông 1939 và mùa xuân 1940 để huấn luyện, chuẩn bị cho cuộc chiến sắp tới ở mặt trận phía tây. Tháng 5, họ được điều ra tiền tuyến, và Leibstandarte được biên chế trực thuộc Sư đoàn bộ binh 227 của lục quân. Trung đoàn Der Führer được tách khỏi Sư đoàn SS-VT và đi cùng cho Sư đoàn bộ binh 207. Sư đoàn SS-VT (trừ Der Führer) được tập trung gần Münster chờ lệnh tấn công Hà Lan. Các sư đoàn SS Totenkopf và Polizei được giữ lại làm lực lượng dự bị.[67]

Ngày 10 tháng 5, Leibstandarte đánh bại lực lượng biên phòng Hà Lan để đi đầu cho mũi tiến công của Quân đoàn X vào Hà Lan, tiến vào phía bắc các con sông, hướng tới phòng tuyến Grebbe của Hà Lan rồi sau đó là khu vực Amsterdam. Trung đoàn Der Führer ở cánh bên cạnh cũng tiến về tuyến Grebbe ở khu vực Grebbeberg, với mục tiêu tiếp theo là thành phố Utrecht. Trận Grebbeberg kéo dài ba ngày và gây nhiều tổn thất cho Der Führer. Ngày 11 tháng 5, Sư đoàn SS-VT vượt qua biên giới Hà Lan ở phía nam các con sông và tiến về Breda. Đơn vị giao chiến trong một loạt trận nhỏ trước khi trung đoàn Germania tiến vào tỉnh Zeeland của Hà Lan vào ngày 14 tháng 5. Phần còn lại của Sư đoàn SS-VT thì nhập vào mặt trận phía bắc chống lại quân phòng thủ ở Antwerp. Cũng trong ngày hôm đó, Leibstandarte tiến vào Rotterdam.[68] Sau khi Rotterdam đầu hàng, Leibstandarte rời đi hướng tới Den Haag (La Hay), nơi họ đến vào ngày 15 tháng 5 và bắt 3.500 binh sĩ Hà Lan làm tù binh..[69]

Tại Pháp, Sư đoàn SS Totenkopf tham gia vào cuộc phản công thiết giáp duy nhất của phe Đồng Minh trong Trận chiến nước Pháp. Ngày 21 tháng 5, các đơn vị thuộc Lữ đoàn xe tăng 1 của Anh, được Sư đoàn bộ binh số 50 (Northumbrian) hỗ trợ, tham chiến trong Trận Arras. Ở cánh nam của Sư đoàn xe tăng 7, Sư đoàn Totenkopf bị đánh tan, và phát hiện ra rằng pháo chống tăng tiêu chuẩn 3,7 cm PaK 36 của họ hoàn toàn không có tác dụng trước xe tăng hạng nặng Matilda II của Anh.[70]

Sau khi Hà Lan đầu hàng, Leibstandarte di chuyển xuống phía nam tới Pháp vào ngày 24 tháng 5. Được biên chế vào Quân đoàn xe tăng XIX, dưới quyền tướng Heinz Guderian, họ chiếm vị trí cách Dunkirk 15 dặm về phía tây nam, dọc theo kênh Aa, đối diện tuyến phòng thủ của Đồng Minh gần Watten.[69] Một toán trinh sát của Sư đoàn SS-VT vượt kênh tại Saint-Venant nhưng bị xe tăng Anh tiêu diệt. Một lực lượng lớn hơn của Sư đoàn SS-VT sau đó vượt kênh, lập đầu cầu ở Saint-Venant, cách Dunkirk 30 dặm.[69] Đêm đó, OKW ra lệnh dừng tiến công, khi Lực lượng Viễn chinh Anh bị dồn vào thế kẹt. Leibstandarte dừng lại nghỉ qua đêm. Tuy nhiên, ngày hôm sau, bất chấp mệnh lệnh của Hitler, Sepp Dietrich ra lệnh cho tiểu đoàn 3 vượt kênh, chiếm các điểm cao phía bên kia – nơi các trinh sát pháo binh Anh đang điều chỉnh hoả lực vào trung đoàn. Họ tấn công chiếm điểm cao và đẩy lui các trinh sát pháo binh. Thay vì bị khiển trách vì hành động bất tuân, Dietrich lại được trao Huân chương Thập tự Hiệp sĩ Thập tự Sắt.[71] Cùng ngày, quân Anh tấn công Saint-Venant, buộc Sư đoàn SS-VT phải rút lui.[69]

Ngày 26 tháng 5, quân Đức tiếp tục tiến công. Ngày 27 tháng 5, Trung đoàn Deutschland của Sư đoàn SS-VT tới tuyến phòng thủ của Đồng Minh trên sông Leie, gần Merville. Họ chiếm được đầu cầu bên kia sông, rồi chờ Sư đoàn SS Totenkopf tới để che sườn. Nhưng đến trước lại là một đơn vị xe tăng Anh, đột nhập vào vị trí của họ. Sư đoàn SS-VT vẫn trụ vững trước lực lượng xe tăng Anh, lực lượng này đã tiến được tới cách sở chỉ huy của chỉ huy trung đoàn Felix Steiner chỉ khoảng 5 mét. Chỉ khi trung đội pháo chống tăng (Panzerjäger) của Totenkopf đến nơi, Trung đoàn Deutschland mới thoát khỏi nguy cơ bị tiêu diệt và giữ được đầu cầu.[72]

Cũng trong ngày hôm đó, khi Sư đoàn SS Totenkopf tiến gần Merville, họ vấp phải sự kháng cự quyết liệt từ các đơn vị thuộc Quân đội Anh khiến đà tiến bị chậm lại.[72] Đại đội 4 của Sư đoàn SS Totenkopf sau đó gây ra vụ thảm sát Le Paradis, nơi 97 binh sĩ Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Royal Norfolk của Anh bị bắn bằng súng máy sau khi đã đầu hàng; những người sống sót bị đâm chết bằng lưỡi lê. Chỉ có hai người sống sót.[73]

Đến ngày 28 tháng 5, Leibstandarte đã chiếm được làng Wormhout, chỉ cách Dunkirk mười dặm.[69] Sau khi đầu hàng, binh sĩ Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Royal Warwickshire, cùng với một số đơn vị khác (bao gồm cả binh sĩ Pháp), bị dẫn tới một nhà kho ở La Plaine au Bois, gần Wormhout và Esquelbecq. Tại đây, binh lính Tiểu đoàn 2 của Leibstandarte đã gây ra vụ thảm sát Wormhout, sát hại 81 tù binh Anh và Pháp.[74][75]

Đến ngày 30 tháng 5, quân Anh bị dồn về Dunkirk, và các sư đoàn SS tiếp tục tiến sâu vào Pháp. Leibstandarte tiến tới Saint-Étienne, cách Paris 250 dặm về phía nam, và là đơn vị tiến xa nhất vào lãnh thổ Pháp.[76] Ngày hôm sau, chiến sự hầu như đã kết thúc.[77] Quân Đức vào Paris mà không gặp kháng cự vào ngày 14 tháng 6, và nước Pháp chính thức đầu hàng vào ngày 25 tháng 6. Hitler bày tỏ sự hài lòng với màn trình diễn của Leibstandarte tại Hà Lan và Pháp, nói với họ: "Từ nay trở đi, đó sẽ là vinh dự của các anh, những người mang tên ta, được dẫn đầu mọi cuộc tiến công của người Đức."[76]

Mở rộng và đặt tên năm 1940

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 7 năm 1940, Hitler đọc diễn văn trước Reichstag (Quốc hội Đức ), trong đó ông tổng kết chiến dịch ở mặt trận phía tây và ca ngợi các lực lượng Đức tham chiến. Khi nhắc đến các đơn vị thuộc LSSAH và SS-VT tham gia chiến đấu, ông dùng cụm từ "Waffen-SS" . Từ ngày đó trở đi, thuật ngữ Waffen-SS trở thành tên gọi chính thức cho các đơn vị tác chiến của SS.[78] Himmler giành được sự chấp thuận để Waffen-SS thành lập bộ chỉ huy riêng của mình, Kommandoamt der Waffen-SS trực thuộc SS Führungshauptamt, được thành lập vào tháng 8 năm 1940.[79] Cơ quan này nắm quyền chỉ huy SS-VT (Sư đoàn LeibstandarteSư đoàn Verfügungs, lúc này đổi tên thành Reich) và các trung đoàn vũ trang của SS-TV (Sư đoàn Totenkopf cùng với một số Standarte Totenkopf độc lập).[80]

Năm 1940, tham mưu trưởng SS Gottlob Berger trình bày với Himmler kế hoạch tuyển mộ tình nguyện viên tại các vùng lãnh thổ bị chiếm, từ cộng đồng người Đức và các dân tộc "gốc Đức". Ban đầu, Hitler còn hoài nghi về việc tuyển mộ người nước ngoài, nhưng sau đó đã bị Himmler và Berger thuyết phục.[81] Ông cho phép thành lập một sư đoàn mới gồm binh sĩ là người nước ngoài, do sĩ quan Đức chỉ huy. Đến tháng 6 năm 1940, các tình nguyện viên Đan Mạch và Na Uy tập hợp lại thành Trung đoàn SS Nordland, còn các tình nguyện viên Hà Lan và Flemish (vùng Flanders, Bỉ) hợp thành Trung đoàn SS Westland. Hai trung đoàn này, cùng với Trung đoàn Germania (chuyển từ Sư đoàn Reich sang), tạo thành Sư đoàn SS Wiking[82] Số lượng tình nguyện viên đông đến mức SS phải mở một trại huấn luyện mới dành riêng cho lực lượng tình nguyện nước ngoài tại Sennheim vùng Alsace-Lorraine.[82]

1941

[sửa | sửa mã nguồn]
Áp phích tuyển mộ

Vào đầu năm mới, Sư đoàn Polizei ược đưa dưới sự quản lý của FHA, dù phải đến năm 1942 đơn vị này mới được sáp nhập chính thức vào Waffen-SS Đồng thời, các Totenkopf-Standarten, ngoại trừ ba đơn vị cấu thành TK-Division, đã mất tên gọi và phù hiệu "Đầu lâu" (Death's Head) và được phân loại lại thành các trung đoàn SS-Infanterie- (hay Kavallerie-) Regimente. Trung đoàn số 11 được chuyển sang Sư đoàn Reich để thay thế Germania; số còn lại được gom thành ba lữ đoàn độc lập và một cụm chiến đấu tại Na Uy.

Đến mùa xuân năm 1941, Waffen-SS có quy mô tương đương sáu hoặc bảy sư đoàn: các sư đoàn Reich, Totenkopf, Polizei, và Wiking, Kampfgruppe (về sau là sư đoàn) Nord, cùng với Leibstandarte, Lữ đoàn Bộ binh SS số 1, Lữ đoàn Bộ binh SS số 2 và Lữ đoàn Kỵ binh SS.

Vùng Balkan

[sửa | sửa mã nguồn]
Binh sĩ Sư đoàn Leibstandarte SS Adolf Hitler tiến vào Balkan, 1941

Tháng 3 năm 1941, một cuộc phản công lớn của Ý chống lại lực lượng Hy Lạp thất bại, và Đức đã đến hỗ trợ đồng minh. Chiến dịch Marita bắt đầu vào ngày 6 tháng 4 1941, với việc quân Đức xâm lược Hy Lạp qua Bulgaria và Nam Tư nhằm bảo đảm sườn phía nam của họ.[83]

Sư đoàn Reich được lệnh rời Pháp để tiến tới Romania, còn Leibstandarte được lệnh tới Bulgaria. Leibstandarte, trực thuộc Quân đoàn Thiết giáp XL, tiến về phía tây rồi phía nam từ Bulgaria vào vùng núi, và đến ngày 9 tháng 4 đã tới Prilep ở Nam Tư, cách biên giới Hy Lạp 30 dặm.[84] Ở phía bắc, sư đoàn Reich cùng Quân đoàn Thiết giáp XLI vượt qua biên giới Romania và tiến về Belgrade, thủ đô Nam Tư. Fritz Klingenberg, một chỉ huy đại đội thuộc Reich, dẫn quân tiến vào Belgrade; một nhóm nhỏ ở mũi tiến công đã tiếp nhận việc đầu hàng của thành phố vào ngày 13 tháng 4. Vài ngày sau, Quân đội Hoàng gia Nam Tư đầu hàng.[85][86]

Lúc này Leibstandarte đã vượt biên giới vào Hy Lạp và ngày 10 tháng 4 họ giao chiến với Sư đoàn Úc số 6 trong Trận đèo Klidi. Sau 48 giờ, họ chiến đấu để giành quyền kiểm soát các điểm cao, nhiều lần diễn ra các cuộc cận chiến, và cuối cùng giành được ưu thế khi chiếm được Điểm cao 997, mở thông con đèo và cho phép Lục quân Đức tiến sâu vào Hy Lạp.[87] Thiến thắng này được OKW khen ngợi: trong mệnh lệnh trong ngày, họ được ca ngợi vì "tinh thần tấn công không lay chuyển" và được nói rằng "chiến thắng lần này đánh dấu đối với Leibstandarte một trang danh dự mới và không thể phai mờ trong lịch sử của họ."[87]

Leibstandarte tiếp tục tiến công vào ngày 13 tháng 5. Khi Tiểu đoàn Trinh sát dưới quyền Kurt Meyer bị quân Hy Lạp phòng thủ đèo Klisura bắn phá dữ dội, họ đã chọc thủng phòng tuyến và bắt 1.000 tù binh chiến tranh, với tổn thất chỉ sáu người chết và chín người bị thương.[87] Ngày hôm sau, Meyer chiếm Kastoria và bắt thêm 11.000 tù binh. Đến ngày 20 tháng 5, Leibstandarte đã cắt đường rút của quân Hy Lạp tại Metsovo và tiếp nhận lời đầu hàng của Quân đội Epirus–Macedonia của Hy Lạp.[87] Như một phần thưởng, Leibstandarte ên danh nghĩa được đổi thành một sư đoàn cơ giới hóa đầy đủ, dù đến khi chiến dịch Liên Xô bắt đầu thì rất ít thành phần bổ sung được thêm vào, và "sư đoàn" trên thực tế vẫn chỉ là một lữ đoàn tăng cường.

Liên Xô

[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Barbarossa, kế hoạch xâm lược Liên Xô của Đức, bắt đầu ngày 22 June 1941, và tất cả các đơn vị Waffen-SS đều tham gia (bao gồm Sư đoàn Reich, vốn đến mùa thu 1941 được đổi tên chính thức thành Das Reich).[88]

Thành viên Einsatzgruppen tại một địa điểm hành quyết người Do Thái ở làng Zboriv, Ukraine, 1941

Sư đoàn SS Nord, đóng ở miền bắc Phần Lan, tham gia Chiến dịch Arctic Fox cùng Quân đội Phần Lan và giao chiến tại Trận Salla. Trước lực lượng Liên Xô mạnh, họ chịu 300 người chết và 400 người bị thương chỉ trong hai ngày đầu của cuộc xâm lược. Rừng rậm dày và khói dày từ các vụ cháy rừng làm quân lính mất phương hướng và các đơn vị của sư đoàn tan rã hoàn toàn.[89] Đến cuối năm 1941, Nord chịu thương vong nghiêm trọng. Trong mùa đông 1941–42, họ nhận quân bổ sung từ nguồn tuyển mộ chung của Waffen-SS, được cho là trẻ hơn và được huấn luyện tốt hơn so với lực lượng SS ban đầu của đơn vị, vốn phần lớn được rút từ các Totenkopfstandarten (lính gác trại tập trung của Đức Quốc xã).

Các sư đoàn và lữ đoàn còn lại của Waffen-SS có kết quả chiến đấu tốt hơn. Các sư đoàn TotenkopfPolizei được biên chế cho Cụm Tập đoàn quân Bắc, với nhiệm vụ tiến qua các nước Baltic và hướng tới Leningrad.[50][90] Sư đoàn Das Reich thuộc Cụm Tập đoàn quân Trung tâm và tiến về Moscow.[50][90] Các sư đoàn LeibstandarteWiking thuộc Cụm Tập đoàn quân Nam, tiến về Ukraine và thành phố Kiev.[50][90]

Cuộc xâm lược Liên Xô ban đầu tiến triển thuận lợi, nhưng cái giá mà Waffen-SS phải trả là rất lớn: đến cuối tháng 10, Leibstandarte chỉ còn một nửa quân số do chiến đấu với đối phương và do bệnh kiết lỵ lan rộng trong hàng ngũ.[91] Das Reich mất 60% quân số và vẫn còn phải tham gia Trận Moscow. Sau đó đơn vị này còn bị "đánh tơi tả" trong đợt phản công của Liên Xô. Trung đoàn Der Führer bị giảm xuống còn 35 người, từ 2.000 người khi chiến dịch bắt đầu vào tháng 6.[91] Tổng cộng, Waffen-SS đã chịu 43.000 thương vong.[91]

Trong khi Leibstandarte và các sư đoàn SS chiến đấu ở tuyến đầu, thì ở hậu phương lại là một câu chuyện khác. Lữ đoàn Bộ binh SS số 1 và số 2 (được thành lập từ số lính gác trại tập trung dư thừa của SS-TV) và Lữ đoàn Kỵ binh SS tiến vào Liên Xô phía sau các đạo quân đang tiến công. Ban đầu, họ chiến đấu chống du kích Liên Xô và cắt đứt các đơn vị Hồng quân ở hậu phương của Cụm Tập đoàn quân Nam, bắt 7.000 tù binh chiến tranh; nhưng từ giữa tháng 8 năm 1941 đến cuối năm 1942, họ được giao cho Văn phòng an ninh do Reinhard Heydrich đứng đầu.[89][92] Các lữ đoàn lúc này được dùng cho an ninh và cảnh sát hậu phương, và không còn nằm dưới quyền chỉ huy của lục quân hay Waffen-SS. Vào mùa thu năm 1941, họ chuyển vai trò chống du kích cho các đơn vị khác và tích cực tham gia vào Holocaust. Khi hỗ trợ Einsatzgruppen, họ tham gia vào việc tiêu diệt người Do Thái tại Liên Xô, lập các đội xử bắn khi cần. Ba lữ đoàn này chịu trách nhiệm cho cái chết của hàng chục nghìn người vào cuối năm 1941.[[92]

Kỵ binh của Lữ đoàn Kỵ binh SS, tháng 9 năm 1941

Vì cơ động hơn và có khả năng tiến hành các chiến dịch quy mô lớn tốt hơn, Lữ đoàn Kỵ binh SS có 2 trung đoàn với quân số 3.500 người và đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển sang việc tiêu diệt hàng loạt người Do Thái.[93] Mùa hè năm 1941, Himmler giao Hermann Fegelein chỉ huy cả hai trung đoàn.[94] Ngày 19 tháng 7 năm 1941, Himmler đặt các trung đoàn của Fegelein dưới quyền chỉ huy chung của HSSPF Erich von dem Bach-Zelewski để tiến hành việc "càn quét có hệ thống" các đầm lầy Pripyat, một chiến dịch nhằm gom bắt và tiêu diệt người Do Thái, du kích và dân thường trong khu vực thuộc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia.[95]

Fegelein chia khu vực cần càn quét thành hai phần, bị chia cắt bởi sông Pripyat: Trung đoàn số 1 đảm nhiệm nửa phía bắc, Trung đoàn số 2 đảm nhiệm phía nam.[96] Các trung đoàn tiến từ đông sang tây trong khu vực được giao và nộp báo cáo hằng ngày về số người bị giết và bị bắt. Đến ngày 1 tháng 8, Trung đoàn Kỵ binh SS số 1 dưới quyền Gustav Lombard chịu trách nhiệm cho cái chết của 800 người; đến ngày 6 tháng 8, tổng số này đạt 3.000 "người Do Thái và quân du kích".[97] Trong những tuần sau đó, quân của trung đoàn dưới quyền Lombard giết ước tính 11.000 người Do Thái và hơn 400 binh sĩ Hồng quân bị tản mát.[98] Vì vậy, các đơn vị của Fegelein nằm trong số những đơn vị đầu tiên trong Holocaust xóa sổ hoàn toàn các cộng đồng Do Thái.[99] Báo cáo tác chiến cuối cùng của Fegelein đề ngày 18 tháng 9 năm 1941 nêu rằng họ đã giết 14.178 người Do Thái, 1.001 du kích, 699 binh sĩ Hồng quân; bắt 830 tù binh và chịu tổn thất 17 chết, 36 bị thương và 3 mất tích.[100][101] Sử gia Henning Pieper ước tính số người Do Thái bị giết thực tế gần hơn với con số 23.700.[102]

1942

[sửa | sửa mã nguồn]

Đợt mở rộng năm 1942

[sửa | sửa mã nguồn]
Cuộc tấn công của Hồng quân ở phía nam hồ Ilmen, 7 tháng một – 21 tháng hai năm 1942, tạo ra Cái túi Demyansk
Binh sĩ của Sư đoàn SS số 3 Totenkopf trên Mặt trận phía Đông, 1942

Năm 1942, Waffen-SS tiếp tục được mở rộng và một sư đoàn mới được thành lập vào tháng 3. Đến nửa sau năm 1942, số người nước ngoài gia nhập ngày càng tăng, trong đó nhiều người không phải là tình nguyện viên.[103] Sư đoàn Sơn cước Tình nguyện SS số 7 Prinz Eugen được tuyển từ Volksdeutsche (người Đức theo sắc tộc) bị gọi nhập ngũ dưới đe dọa trừng phạt bởi giới lãnh đạo Đức tại địa phương[103] ở Croatia, Serbia, Hungary và Romania, và được dùng cho các hoạt động chống du kích ở vùng Balkan.[89][104] Himmler chấp thuận việc áp dụng nghĩa vụ phục vụ bắt buộc chính thức đối với Volksdeutsche tại vùng Serbia bị Đức chiếm đóng.[103] Cùng thời điểm đó, một sư đoàn mới khác cũng được thành lập khi Lữ đoàn Kỵ binh SS được dùng làm khung nòng cốt (cadre) để thành lập Sư đoàn Kỵ binh SS số 8 Florian Geyer.[89]

Các sư đoàn Panzergrenadier

[sửa | sửa mã nguồn]

Các sư đoàn tuyến đầu của Waffen-SS đã chịu tổn thất trong mùa đông 1941–1942 và trong đợt phản công của Liên Xô được rút về Pháp để hồi phục và tái tổ chức thành các sư đoàn Panzergrenadier.[105] Nhờ nỗ lực của Himmler và Hausser, chỉ huy mới của Quân đoàn Thiết giáp SS (SS Panzer Corps), ba sư đoàn Panzergrenadier SS gồm Leibstandarte, Das Reich, và Totenkopf sẽ được tổ chức với một trung đoàn xe tăng đầy đủ, thay vì chỉ một tiểu đoàn. Điều này có nghĩa là các sư đoàn Panzergrenadier SS về thực chất là sư đoàn thiết giáp đủ quân, chỉ khác tên gọi. Mỗi sư đoàn được bổ sung chín xe tăng Tiger I, được biên chế thành các đại đội thiết giáp hạng nặng.[105]

Vây hãm Demyansk

[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc tấn công của Liên Xô vào tháng 1 năm 1942 đã kẹt một số sư đoàn Đức trong "cái túi" Demyansk từ tháng hai đến tháng tư 1942; Sư đoàn SS số 3 Totenkopf là một trong các sư đoàn bị Hồng quân bao vây. Hồng quân giải phóng Demyansk vào ngày 1 tháng 3 năm 1943 khi quân Đức rút lui. "Vì năng lực chỉ huy xuất sắc và các trận chiến đặc biệt ác liệt của Totenkopf", Eicke được trao Lá sồi cho Huân chương Chữ thập Hiệp sĩ vào ngày 20 tháng 5 năm 1942.[106]

1943

[sửa | sửa mã nguồn]

Đợt mở rộng năm 1943

[sửa | sửa mã nguồn]
Người Hồi giáo Bosnia (sắc tộc Bosniak), thành viên Sư đoàn Handschar — sư đoàn Waffen-SS đa sắc tộc đầu tiên không thuộc nhóm Germanic, năm 1943
Giám mục Công giáo Đông phương Joseph Iosafat Kotsilovsky ban phước cho binh sĩ của Sư đoàn Galician

Waffen-SS tiếp tục mở rộng trong năm 1943: vào tháng 2, Sư đoàn Thiết giáp SS số 9 Hohenstaufen và "sư đoàn chị em" của nó là Sư đoàn Thiết giáp SS số 10 Frundsberg được thành lập tại Pháp. Tiếp theo vào tháng 7 là Sư đoàn Panzergrenadier Tình nguyện SS số 11 Nordland, được lập từ các tình nguyện viên Na Uy và Đan Mạch. Tháng 9 chứng kiến sự ra đời của Sư đoàn Thiết giáp SS số 12 Hitlerjugend, sử dụng tình nguyện viên từ Đoàn Thanh niên Hitler. Himmler và Berger đã thuyết phục Hitler thành công để thành lập một sư đoàn người Hồi giáo Bosnia; do đó Sư đoàn Núi Waffen số 13 của SS Handschar — sư đoàn đầu tiên không thuộc nhóm Germanic — được thành lập để chiến đấu chống lại lực lượng du kích Nam Tư của Josip Broz Tito. Sau đó là Sư đoàn Grenadier Waffen số 14 của SS, được lập từ các tình nguyện viên vùng Galicia ở miền tây Ukraine. Sư đoàn Grenadier Waffen số 15 của SS được thành lập năm 1943, sử dụng nghĩa vụ quân sự bắt buộc tại Ostland. Sư đoàn mới cuối cùng của năm 1943 là Sư đoàn Panzergrenadier SS số 16 Reichsführer-SS, được lập bằng cách dùng Lữ đoàn Xung kích Reichsführer SS làm khung nòng cốt. Đến cuối năm, Waffen-SS tăng quy mô từ tám sư đoàn và một số lữ đoàn lên 16 sư đoàn. Đến năm 1943, Waffen-SS không còn có thể tự nhận là một lực lượng chiến đấu "tinh nhuệ" nữa. Việc tuyển mộ và động viên theo hướng "mở rộng số lượng hơn chất lượng" diễn ra, và nhiều đơn vị "nước ngoài" chỉ phù hợp cho nhiệm vụ hậu phương.[107]

Kharkov

[sửa | sửa mã nguồn]
Xe tăng Đức tại Kharkov, 1943

Trên Mặt trận phía Đông, quân Đức chịu một thất bại nặng nề khi Tập đoàn quân số 6 bị tiêu diệt trong Trận Stalingrad. Hitler ra lệnh đưa Quân đoàn Thiết giáp SS trở lại Mặt trận phía Đông để phản công với mục tiêu là thành phố Kharkov.[108] Ngày 19 tháng 2, Quân đoàn Thiết giáp SS đang trong tình trạng rút lui toàn diện sau khi bị Tập đoàn quân số 6 của Liên Xô tấn công, thì nhận được lệnh phản công.[108] Bất chấp mệnh lệnh của Hitler yêu cầu "giữ vững và chiến đấu đến chết", Hausser rút quân trước Hồng quân. Trong cuộc phản công của Thống chế Erich von Manstein, Quân đoàn Thiết giáp SS, không có yểm trợ từ Luftwaffe hay các đội hình Đức lân cận, đã chọc thủng phòng tuyến Liên Xô và tiến về Kharkov.[109] Dù có lệnh phải bao vây Kharkov từ phía bắc, Quân đoàn Thiết giáp SS lại tấn công trực diện trong Trận Kharkov lần thứ ba vào ngày 11 tháng 3.[110] Điều này dẫn đến bốn ngày giao tranh "nhà kề nhà" trước khi Kharkov được Sư đoàn Leibstandarte chiếm lại vào ngày 15 March. Hai ngày sau, quân Đức tái chiếm Belgorod, tạo ra phần lồi mặt trận mà đến July 1943 đã dẫn tới Trận Kursk. Cuộc tấn công của Đức khiến Hồng quân thiệt hại ước tính 70.000 thương vong, nhưng các trận đánh nhà kề nhà ở Kharkov đặc biệt đẫm máu đối với Quân đoàn Thiết giáp SS: họ mất khoảng 44% quân số vào thời điểm chiến dịch kết thúc cuối tháng 3.[111]

Cuộc nổi dậy Warsaw Ghetto

[sửa | sửa mã nguồn]
Chú thích gốc từ Báo cáo Stroop: "Người chỉ huy chiến dịch lớn." SS-Brigadeführer Jürgen Stroop (ở giữa) quan sát các dãy nhà bốc cháy.

Cuộc khởi nghĩa Khu Do Thái Warsaw là một cuộc nổi dậy của người Do Thái diễn ra trong Khu Do Thái Warsaw từ 19 tháng 4 đến 16 tháng 5, nhằm ngăn chặn việc đưa những người còn lại trong khu Do Thái đến trại hành quyết Treblinka. Các đơn vị Waffen-SS tham gia gồm 821 lính Panzergrenadier Waffen-SS đến từ năm tiểu đoàn dự bị và một tiểu đoàn kỵ binh dự bị.[112][113]

Kursk

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Trận Kursk, Quân đoàn Thiết giáp SS được đổi tên thành Quân đoàn Thiết giáp SS số II và thuộc biên chế Tập đoàn quân Thiết giáp số 4. II SS Panzer Corps là mũi nhọn tấn công xuyên qua các tuyến phòng ngự Liên Xô. Cuộc tấn công tiến sâu được 35 km (22 mi) rồi bị Tập đoàn quân Xe tăng số 1 của Liên Xô chặn lại.

Các lực lượng dự bị của Liên Xô đã được điều xuống phía nam để phòng thủ trước đòn tấn công của Quân đoàn Thiết giáp số III của Đức. Khi mất lực lượng dự bị, bất kỳ hy vọng nào về việc gây ra một thất bại lớn cho II SS Panzer Corps cũng chấm dứt. Tuy nhiên, các mũi tiến công của Đức sau đó vẫn thất bại — dù tổn thất cực lớn, các tập đoàn quân xe tăng Liên Xô vẫn giữ vững phòng tuyến và ngăn Quân đoàn Thiết giáp SS số II tạo ra đột phá như kỳ vọng.[114]

Đại đội Tiger I của sư đoàn Das Reich trong Trận Kursk, tháng 7 năm 1943

Việc không thể phá vỡ khu vực chiến thuật của Liên Xô, cùng với nhu cầu phải dừng cuộc tấn công của Tập đoàn quân số 9 của Đức ở "vai" phía bắc của phần lồi Kursk do Chiến dịch Kutuzov, đã góp phần khiến Hitler quyết định ngừng chiến dịch. Một đòn tấn công song song của Hồng quân nhằm vào Tập đoàn quân số 6 mới của Đức trên sông Mius ở phía nam Kharkov buộc Đức phải rút các lực lượng dự bị vốn dành để khai thác thành công ở "vai" phía nam Kursk. OKW cũng phải điều một số quân Đức từ Mặt trận phía Đông sang tăng cường cho mặt trận Địa Trung Hải sau khi quân Đồng minh đổ bộ Sicily.[115] Ngày 17 tháng 7, Hitler hủy chiến dịch và ra lệnh rút lui.[116] Liên Xô không bị đánh bại, và thế chủ động chiến lược chuyển sang Hồng quân. Quân Đức buộc phải chuyển sang phòng ngự khi Hồng quân bắt đầu giải phóng miền tây nước Nga.[117]

Xem thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Danh sách các đơn vị Waffen-SS
  • Quân hàm lực lượng Waffen-SS

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Lực lượng Waffen-SS nằm dưới quyền chỉ huy chiến thuật của Lục quân trên chiến trường, mặc dù Himmler vẫn nắm quyền tối cao. Một số chỉ huy cấp chiến trường nổi bật của Waffen-SS gồm có:
    • Sepp Dietrich: Chỉ huy Sư đoàn thiết giáp số 1 SS "Leibstandarte SS Adolf Hitler" và Tập đoàn quân thiết giáp SS số Sáu.
    • Paul Hausser: Chỉ huy Quân đoàn thiết giáp SS số II và là cựu quân nhân của Wehrmacht trước khi gia nhập SS.
    • Theodor Eicke: Cựu trại trưởng trại tập trung Dachau (Dachau) sau trở thành tư lệnh Sư đoàn thiết giáp số 3 SS "Totenkopf".
  2. ^ Tương đương với cấp Đại tướng. Tính độc lập của LSSAH một phần có thể được giải thích bởi cấp bậc của Dietrich, cũng như mối quan hệ cá nhân thân thiết của ông với Hitler.
  3. ^ Tương đương chức thiếu tướng
  4. ^ Đơn vị trung đoàn tiêu chuẩn

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "SS". Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica, Inc. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025. [...] The Waffen-SS was made up of three subgroups: the Leibstandarte, Hitler's personal bodyguard; the Totenkopfverbände (Death's-Head Battalions), which administered the concentration camps and a vast empire of slave labor drawn from the Jews and the populations of the occupied territories; and the Verfügungstruppen (Disposition Troops), which swelled to 39 divisions in World War II and which, serving as elite combat troops alongside the regular army, gained a reputation as fanatical fighters. [...]
  2. ^
    • Bankowicz, M. (2011). "Leftism and socialism in the doctrine of national socialism". Studia nad Faszyzmem i Zbrodniami Hitlerowskimi. 33: 341. National socialism, like fascism, was and invariably is treated by the mainstream of world historiography as a phenomenon situated on the extreme right, both in the ideological and purely political sense.
    • Davidson, Eugene. The Making of Adolf Hitler: The Birth and Rise of Nazism. University of Missouri Press. tr. 241. Lưu trữ bản gốc 27 tháng 9 2015. Truy cập 14 tháng 8 2015.
    • Orlow, Dietrich. The Nazi Party 1919–1945: A Complete History. Enigma Books. tr. 29. Lưu trữ bản gốc 1 tháng 10 2015. Truy cập 14 tháng 8 2015.
    • Wistrich, Robert (tháng 10 năm 1976). "Leon Trotsky's Theory of Fascism". Journal of Contemporary History. 11 (4). Thousand Oaks, California: SAGE Publishing: 157–184. doi:10.1177/002200947601100409. JSTOR 260195. S2CID 140420352.
    • Fritzsche, Peter, 1959- (1998). Germans into Nazis. Mazal Holocaust Collection. Cambridge, Mass.: Harvard University Press. ISBN 0-674-35091-X. OCLC 37157352.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  3. ^
    • Eatwell, Roger (1997). Fascism : a history. New York: Penguin Books. tr. xvii–xxiv, 21, 26–31, 114–40, 352. ISBN 0-14-025700-4. OCLC 37930848.
    • Spielvogel, Jackson J. (2010) [1996]. Hitler and Nazi Germany: A History. New York: Routledge. tr. 1. ISBN 978-0131924697. Nazism was only one, although the most important, of a number of similar-looking fascist movements in Europe between World War I and World War II
    • Peukert, Detlev (1993). The Weimar Republic. Macmillan. tr. 73–74. ISBN 978-0809015566.
    • "Historical Exhibition Presented by the German Bundestag" (PDF).
    • Oliver H. Woshinsky. Explaining Politics: Culture, Institutions, and Political Behavior. Oxon; New York: Routledge, 2008, p. 156.
  4. ^ McConnell, Winder, biên tập (1998). A Companion to the Nibelungenlied. Boydell & Brewer. tr. 1. ISBN 978-1-57113-151-5. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  5. ^ Sawicki, Tadeusz (2010). Rozkaz zdławić powstanie. Niemcy i ich sojusznicy w walce z powstaniem warszawskim ["The Order to Crush the Uprising: Germans and Their Allies in the Fight Against the Warsaw Uprising"] (in Polish). Warsaw: Bellona. pp. 25–26. ISBN 978-83-11-11892-8.
  6. ^ Cole, Hugh M. (1965). "Chapter V: The Sixth Panzer Army Attack". The Ardennes. United States Army in World War II, The European Theater of Operations. Washington, D.C.: Office of the Chief of Military History. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2010.
  7. ^ Toomas Hiio (2006). "Combat in Estonia in 1944". Trong Toomas Hiio; Meelis Maripuu; Indrek Paavle (biên tập). Estonia 1940–1945: Reports of the Estonian International Commission for the Investigation of Crimes Against Humanity. Tallinn. tr. 1035–1094.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  8. ^ Neitzel & Welzer 2012, tr. 290.
  9. ^ including foreign volunteers and conscripts[8]List of Waffen SS units[[List of Waffen-SS divisions]]
  10. ^ Dưới sự kiểm soát của OKW và Kommandostab Reichsführer-SS.
  11. ^ Stein 2002, tr. xxiv, xxv, 150, 153.
  12. ^ Stein 2002, tr. 23.
  13. ^ Marrus 1989, tr. 459.
  14. ^ Stackelberg 2002, tr. 116.
  15. ^ Langer & Rudowski 2008, tr. 263.
  16. ^ Król 2006, tr. 452, 545.
  17. ^ Müller & Ueberschär 1997, tr. 244.
  18. ^ Borodziej 1985a.
  19. ^ Król 2006, tr. 452.
  20. ^ Borodziej 1985, tr. 86.
  21. ^ Spajić 2010, tr. 9.
  22. ^ a b Laar 2005.
  23. ^ a b "Nuremberg Trial Proceedings, Volume 22 'Two Hundred and Seventeenth Day: Monday, 30 September 1946'". Avalon Project. Lillian Goldman Law Library.
  24. ^ a b McDonald & Swaak-Goldman 2000, tr. 695.
  25. ^ Serena, Katie (ngày 27 tháng 11 năm 2017). Kuroski, John (biên tập). "Oskar Dirlewanger: The Nazi Who Even Other Nazis Thought Was Cruel And Depraved". All That's Interesting (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
  26. ^ "Timeline of Dachau". www.jewishvirtuallibrary.org. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
  27. ^ Wynne Parry (ngày 21 tháng 2 năm 2014). "Did Nazis Study Insects for Use in Biological Warfare?". livescience.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
  28. ^ "Stolen Children". www.jewishvirtuallibrary.org. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
  29. ^ "Holocaust". Women’s Media Center (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
  30. ^ Ghert-Zand, Renee (ngày 15 tháng 4 năm 2015). "Holocaust film reveals long-hushed child sex abuse". The Times of Israel (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
  31. ^ "Einsatzgruppen". www.holocaustresearchproject.org. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
  32. ^ "Operation Reinhard". encyclopedia.ushmm.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
  33. ^ a b c d Flaherty 2004, tr. 144.
  34. ^ a b Cook & Bender 1994, tr. 17, 19.
  35. ^ Kershaw 2008, tr. 306–313.
  36. ^ Kershaw 2008, tr. 309–313.
  37. ^ a b Flaherty 2004, tr. 145.
  38. ^ Westemeier 2007, tr. 25.
  39. ^ Parker 2014, tr. 14–17.
  40. ^ Weale 2012, tr. 202.
  41. ^ Weale 2012, tr. 201–204.
  42. ^ Weale 2010, tr. 204.
  43. ^ Longerich 2012, tr. 220.
  44. ^ Trevor-Roper, Hugh (2000). HITLER'S TABLE TALK 1941–1944 His Private Conversations. Enigma Books. tr. 143.
  45. ^ Wegner 1990, tr. 240 – table 14.2, 243–244, 247, 248 – table 14.4, 261, 262.
  46. ^ Flaherty 2004, tr. 146.
  47. ^ Tauber Volume I 1967, tr. 335–336.
  48. ^ Flaherty 2004, tr. 147.
  49. ^ a b Flaherty 2004, tr. 148.
  50. ^ a b c d Windrow & Burn 1992, tr. 7–8.
  51. ^ Longerich 2012, tr. 500, 674.
  52. ^ Longerich 2012, tr. 769.
  53. ^ Gerwarth & Böhler 2016, tr. 200.
  54. ^ Stein 2002, tr. 4–8, 27.
  55. ^ a b c d e f g h Flaherty 2004, tr. 149.
  56. ^ Stein 2002, tr. 27, 28, 33, 34.
  57. ^ Stein 2002, tr. xxii, 35, 36.
  58. ^ Stein 2002, tr. 24.
  59. ^ Reitlinger 1989, tr. 84.
  60. ^ Butler 2001, tr. 45.
  61. ^ Rossino 2003, tr. 114, 159–161.
  62. ^ Sydnor 1990, tr. 37.
  63. ^ Wardzyńska 2009, tr. 8–10. "Oblicza się, że akcja "Inteligencja" pochłonęła ponad 100 tys. ofiar. [It is estimated that Intelligenzaktion took the lives of 100,000 Poles.]" [p. 8.]
  64. ^ Flaherty 2004, tr. 149–150.
  65. ^ Flaherty 2004, tr. 150.
  66. ^ Flaherty 2004, tr. 151.
  67. ^ Flaherty 2004, tr. 152.
  68. ^ Stein 2002, tr. 62–64.
  69. ^ a b c d e Flaherty 2004, tr. 154.
  70. ^ Harman 1980, tr. 100.
  71. ^ Flaherty 2004, tr. 143, 154.
  72. ^ a b Flaherty 2004, tr. 155.
  73. ^ Jackson 2001, tr. 285–288.
  74. ^ Butler 2001, tr. 81–83.
  75. ^ Weale 2012, tr. 251–253.
  76. ^ a b Flaherty 2004, tr. 143.
  77. ^ Flaherty 2004, tr. 156.
  78. ^ Stein 2002, tr. 87–88.
  79. ^ Stein 2002, tr. 102.
  80. ^ Stein 2002, tr. 7, 103–106.
  81. ^ Stein 2002, tr. 150, 153.
  82. ^ a b Flaherty 2004, tr. 160, 161.
  83. ^ Evans 2008, tr. 153.
  84. ^ Flaherty 2004, tr. 163.
  85. ^ Flaherty 2004, tr. 162, 163.
  86. ^ Weale 2012, tr. 297.
  87. ^ a b c d Flaherty 2004, tr. 165.
  88. ^ Stein 2002, tr. 104.
  89. ^ a b c d Windrow & Burn 1992, tr. 9.
  90. ^ a b c Flaherty 2004, tr. 166.
  91. ^ a b c Flaherty 2004, tr. 168.
  92. ^ a b Hannes & Naumann 2000, tr. 136.
  93. ^ Browning 2007, tr. 279.
  94. ^ Pieper 2015, tr. 52–53.
  95. ^ Pieper 2015, tr. 62, 80.
  96. ^ Pieper 2015, tr. 81.
  97. ^ Browning 2007, tr. 280.
  98. ^ Cuppers 2006, tr. 279.
  99. ^ Pieper 2015, tr. 86, 88–89.
  100. ^ Pieper 2015, tr. 119–120.
  101. ^ Miller 2006, tr. 310.
  102. ^ Pieper 2015, tr. 120.
  103. ^ a b c Stein 2002, tr. 171.
  104. ^ Mitcham 2007, tr. 148.
  105. ^ a b Reynolds 1997, tr. 9.
  106. ^ Fellgiebel 2000, tr. 59.
  107. ^ Wegner 1990, tr. 307, 313, 325, 327–331.
  108. ^ a b Flaherty 2004, tr. 173.
  109. ^ Flaherty 2004, tr. 173–174.
  110. ^ Margry 2001, tr. 20.
  111. ^ Reynolds 1997, tr. 10.
  112. ^ Stroop 1943.
  113. ^ Holocaust Memorial Museum.
  114. ^ Bergstrom 2007, tr. 81.
  115. ^ Fritz 2011, tr. 350.
  116. ^ Evans 2008, tr. 488–489.
  117. ^ McNab 2009, tr. 68, 70.

Tài liệu

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Bartrop, Paul R.; Jacobs, Leonard, biên tập (2014). "Modern Genocide". Modern Genocide: The Definitive Resource and Document Collection. Quyển 1. Santa Barbara, Ca.: ABC-CLIO. ISBN 978-1-61069-363-9.
  • "Battle of the Bulge". Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013.
  • Beevor, Antony (2002). Berlin: The Downfall 1945. Viking-Penguin Books. ISBN 978-0-670-03041-5.
  • Beevor, Antony (2015). Ardennes 1944: Hitler's Last Gamble. London: Viking. ISBN 978-0-670-91864-5.
  • Bell, Bowyer J (1966). Besieged: Seven Cities Under Siege. Chilton.
  • Bercuson, David (2004) [1996]. Maple Leaf Against the Axis. Red Deer Press. ISBN 0-88995-305-8.
  • Bergstrom, Christopher (2007). Kursk – The Air Battle: July 1943. Chevron/Ian Allan. ISBN 978-1-903223-88-8.
  • Binkowski, Rafael; Wiegrefe, Klaus (ngày 21 tháng 10 năm 2011). "The Brown Bluff: How Waffen SS Veterans Exploited Postwar Politics". Der Spiegel. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015.
  • Bishop, Chris; Williams, Michael (2003). SS: Hell on the Western Front. St Paul, Minn: MBI Publishing. ISBN 978-0-7603-1402-9.
  • Borodziej, Włodzimierz (1985). Terror i polityka: policja niemiecka a polski ruch oporu w GG 1939-1944 [Terror and politics: the German police and the Polish resistance movement in the General Government 1939–1944] (bằng tiếng Ba Lan). Warsaw: Instytut Wydawniczy Pax. ISBN 83-211-0718-4.
  • Borodziej, Włodzimierz (1985a). "Ruch oporu w Polsce w ś wietle tajnych akt niemieckich" [The resistance movement in Poland in the light of the German secret files]. Kierunki [Directions] (bằng tiếng Ba Lan). IX (16).
  • Browning, Christopher (2007). The Origins of the Final Solution: The Evolution of Nazi Jewish Policy, September 1939 – March 1942. University of Nebraska Press. ISBN 978-0-8032-5979-9.
  • Butler, Rupert (2001). SS-Leibstandarte: The History of the First SS Division, 1934–45. Spellmount.
  • Conot, Robert E. (1984). Justice at Nuremberg. Carrol & Graf. ISBN 9780881840322.
  • Cook, Stan; Bender, Roger James (1994). Leibstandarte SS Adolf Hitler: Uniforms, Organization, & History. San Jose, CA: R. James Bender. ISBN 978-0-912138-55-8.
  • Cuppers, Martin (2006). Vorreiter der Shoah, Ein Vergleich der Einsätze der beiden SS-Kavallerieregimenter im August 1941 (bằng tiếng Đức). Meidenbauer Martin Verlag. ISBN 3-89975-080-2.
  • Diehl, James M. (1993). Thanks of the Fatherland: German Veterans After the Second World War. Chapel Hill: University of North Carolina Press. ISBN 978-0-8078-2077-3. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2016.
  • Dollinger, Hans (1967) [1965]. The Decline and Fall of Nazi Germany and Imperial Japan. New York: Bonanza. ISBN 978-0-517-01313-7.
  • Duffy, Christopher (2002). Red Storm on the Reich: The Soviet March on Germany, 1945. Edison, NJ: Castle Books. ISBN 0-7858-1624-0.
  • European Commission Against Racism and Intolerance (ECRI) (ngày 21 tháng 2 năm 2012). ECRI Report on Latvia (fourth monitoring cycle) (PDF) (Báo cáo). Council of Europe. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2017.
  • Ellis, L.F. (2004) [1968]. Butler, J. R. M. (biên tập). Victory in the West, Volume II: The Defeat of Germany. History of the Second World War: United Kingdom Military Series. Naval & Military Press. ISBN 1-84574-059-9.
  • Evans, Richard J. (2008). The Third Reich at War. New York: Penguin. ISBN 978-0-14-311671-4 – qua archive.org.
  • Eyre, Wayne (2006). "Operation RÖSSELSPRUNG and The Elimination of Tito, May 25, 1944: A Failure in Planning and Intelligence Support". Journal of Slavic Military Studies. 19 (2). Routledge: 343–376. doi:10.1080/13518040600697969. S2CID 144383512.
  • Farmer, Sarah (1994). Oradour: Arrêt sur mémoire (bằng tiếng Pháp). Paris: Calmann-Lévy. ISBN 978-2-70212-316-4.
  • Fellgiebel, Walther-Peer (2000). Die Träger des Ritterkreuzes des Eisernen Kreuzes 1939–1945. Wölfersheim-Berstadt, Germany: Podzun-Pallas. ISBN 3-7909-0284-5.
  • Fey, William (2003). Armor Battles of the Waffen-SS. Stackpole. ISBN 978-0-8117-2905-5.
  • Fischer, Thomas (2008). Soldiers of the Leibstandarte. J.J. Fedorowicz Publishing. ISBN 978-0-921991-91-5.
  • Flaherty, T. H. (2004) [1988]. The Third Reich: The SS. Time-Life. ISBN 1-84447-073-3.
  • Forbes, Robert (2010) [2006]. For Europe: The French Volunteers of the Waffen-SS. Stackpole Books. ISBN 978-0-8117-3581-0.
  • Fritz, Stephen (2011). Ostkrieg: Hitler's War of Extermination in the East. Lexington: The University Press of Kentucky. ISBN 978-0-81313-416-1.
  • "Germany struggles to stop Nazi war payment suspicions". The Local. ngày 28 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2019.
  • Gerwarth, Robert; Böhler, Jochen (2016). The Waffen-SS: A European History. Oxford University Press. ISBN 978-0-19250-782-2.
  • Gosztony, Peter (1978). Endkampf an der Donau 1944/45 (bằng tiếng Đức). Vienna: Molden Taschenbuch Verlag. ISBN 3-217-05126-2.
  • Hannes, Heer; Naumann, Klaus (2000). War of Extermination: The German Military in World War II 1941–1944. Berghahn. ISBN 1-57181-232-6.
  • Harclerode, Peter (2005). Wings Of War – Airborne Warfare 1918–1945. Weidenfeld & Nicolson. ISBN 978-0-304-36730-6.
  • Harman, Nicholas (1980). Dunkirk: The Necessary Myth. Hodder and Stoughton. ISBN 0-340-24299-X.
  • Hastings, Max (2006) [1985]. Overlord: D-Day and the Battle for Normandy. Vintage. ISBN 0-307-27571-X.
  • Jackson, Julian (2001). The Fall of France: The Nazi Invasion of 1940. Oxford University Press. ISBN 0-19-280550-9.
  • Jarymowycz, Roman (2001). Tank Tactics: From Normandy to Lorraine. Lynne Rienner. ISBN 1-55587-950-0.
  • Kajosevic, Samir (ngày 28 tháng 7 năm 2021). "'Genocide' Controversy Erupts over WWII Massacres in Montenegro". Balkan Investigative Reporting Network.
  • Kershaw, Ian (2008). Hitler: A Biography. New York: W. W. Norton & Company. ISBN 978-0-393-06757-6.
  • Kirchmayer, Jerzy (1978). Powstanie Warszawskie (bằng tiếng Ba Lan). Książka i Wiedza. ISBN 83-05-11080-X.
  • Król, Eugeniusz C. (2006). Polska i Polacy w propagandzie narodowego socjalizmu w Niemczech 1919–1945 [Poland and Poles in the propaganda of National Socialism in Germany 1919-1945] (bằng tiếng Ba Lan). Warsaw: Instytut Studiów Politycznych Polskiej Akademii Nauk. ISBN 978-83-7399-019-7.
  • Laar, Mart (2005). "Battles in Estonia in 1944". Estonia in World War II. Tallinn: Grenamder. tr. 32–59. ISBN 9949-411-93-9.
  • Langer, Howard J.; Rudowski, Marek (2008). Księga najważniejszych postaci II wojny światowej (bằng tiếng Ba Lan). Warsaw: Bellona. ISBN 978-83-11-11111-0.
  • Large, David C. (1987). "Reckoning without the Past: The HIAG of the Waffen-SS and the Politics of Rehabilitation in the Bonn Republic, 1950–1961". The Journal of Modern History. 59 (1). University of Chicago Press: 79–113. doi:10.1086/243161. JSTOR 1880378. S2CID 144592069.
  • Langbein, Hermann (2005) [First published in German in 1972]. People in Auschwitz (bằng tiếng Anh). Zohn, Harry biên dịch. Chapel Hill: University of North Carolina Press in connection with the United States Holocaust Memorial Museum. ISBN 978-0-8078-6363-3 – qua Google Books.
  • Latimer, Jon (2001). "World War II: 12th SS Hitlerjugend Panzer Division Fought in Normandy". World War II (July). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009.
  • Levenda, Peter (2014). The Hitler Legacy: The Nazi Cult in Diaspora: How it was Organized, How it was Funded, and Why it Remains a Threat to Global Security in the Age of Terrorism. Lake Worth, Fla.: Ibis Press. ISBN 978-0-89254-210-9.
  • Littlejohn, David (1987). Foreign Legions of the Third Reich Vol. 1 Norway, Denmark, France. Bender Publishing. ISBN 978-0912138176.
  • Longerich, Peter (2012). Heinrich Himmler: A Life. Oxford; New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-959232-6. {{Chú thích sách}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  • MacKenzie, S.P. (1997). Revolutionary Armies in the Modern Era: A Revisionist Approach. New York: Routledge. ISBN 9780415096904.
  • Madajczyk, Czesław (1972). Polityka III Rzeszy w okupowanej Polsce (bằng tiếng Ba Lan). Warsaw: Państwowe Wydawnictwo Naukowe.
  • Margry, Karel (2001). The Four Battles for Kharkiv. Battle of Britain International. OCLC 254320761.
  • Marrus, Michael R. (1989). The Nazi Holocaust. Part 3: The "Final Solution": The Implementation of Mass Murder (Vol.2). Berlin: De Gruyter. ISBN 978-0-88736-255-2.
  • McDonald, Gabrielle Kirk; Swaak-Goldman, Olivia (2000). Substantive and Procedural Aspects of International Criminal Law: The Experience of International and National Courts: Materials. Brill Publishers. ISBN 90-411-1134-4.
  • McGilvray, Evan (2005). The Black Devil's March – A Doomed Odyssey: The 1st Polish Armoured Division 1939–1945. Helion & Company. ISBN 1-874622-42-6.
  • McMahon, Barbara (ngày 22 tháng 6 năm 2005). "10 former Nazis convicted of Tuscan massacre". The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2019.
  • McNab, Chris (2009). The SS: 1923–1945. Amber Books. ISBN 978-1-906626-49-5.
  • McNab, Chris (2013). Hitler's Elite: The SS 1939–45. Osprey. ISBN 978-1-78200-088-4.
  • Miller, Michael (2006). Leaders of the SS and German Police, Vol. 1. San Jose, CA: R. James Bender. ISBN 978-93-297-0037-2.
  • Mitcham, Samuel (2001). The Panzer Legions: A Guide to the German Army Tank Divisions of World War II and Their Commanders. Greenwood. ISBN 0-313-31640-6.
  • Mitcham, Samuel (2007). German Order of Battle, Volume 3. Stackpole Books. ISBN 978-0-8117-3438-7.
  • Müller, Rolf-Dieter; Ueberschär, Gerd R. (1997). Hitler's War in the East, 1941-1945: A Critical Assessment. Berghahn Books. ISBN 978-1-57181-068-7.
  • Murray, Williamson; Millett, Allan R. (2001). A War To Be Won: Fighting the Second World War. Harvard University Press. ISBN 978-0-67400-680-5.
  • Molt, Matthias (2007). on der Wehrmacht zur Bundeswehr personelle Kontinuität und Diskontinuität beim Aufbau der deutschen Streitkräfte 1955–1966 [From the Wehrmacht to the Bundeswehr – Continuity and dis-continuity of personnel in the formation of the German armed forces] (bằng tiếng Đức). Heidelberg: Ruprecht-Karls-Universität Heidelberg. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2018.
  • Nash, Douglas E. (2002). Hell's Gate: The Battle of the Cherkassy Pocket, January–February 1944. Southbury, Connecticut: RZM Publishing. ISBN 0-9657584-3-5.
  • Staff (ngày 24 tháng 5 năm 1945). "Heinrich Himmler Kills Himself in British Prison". Bend Bulletin. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2016.
  • War Crimes Office (1948). "Nazi Crimes on Trial: The Dachau Trials. Trials by U.S. Army Courts in Europe 1945 – 1948". U.S. Army Trial Reviews and Recommendations. United States War Department. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2013.
  • Neitzel, Sönke; Welzer, Harald (2012). Soldaten: On Fighting, Killing and Dying. Simon and Schuster. ISBN 978-1-84983-949-5.
  • "Operation Nordwind in the Low Vosges 1–7 January 1945". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013.
  • Overmans, Rűdiger (2000). Deutsche militärische Verluste im Zweiten Weltkrieg (bằng tiếng Đức). Munich: Oldenbourg. ISBN 3-486-56531-1.
  • Parker, Danny S. (2014). Hitler's Warrior: The Life and Wars of SS Colonel Jochen Peiper. Boston: Da Capo Press. ISBN 978-0-306-82154-7.
  • Picaper, Jean-Paul (2014). Les Ombres d'Oradour: 10 Juin 1944 [The Shadows of Oradour: 10 June 1944] (bằng tiếng Pháp). Paris: Éditions l'Archipel. ISBN 978-2-8098-1467-5.
  • Pieper, Henning (2015). Fegelein's Horsemen and Genocidal Warfare: The SS Cavalry Brigade in the Soviet Union. Houndmills, Basingstoke, Hampshire: Palgrave Macmillan. ISBN 978-1-137-45631-1.
  • "Probe into Nazi massacre at Sant'Anna di Stazzema, Italy, dropped". BBC News. ngày 1 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2019.
  • Raus, Erhard (2005). Panzer Operations. The Eastern Front Memoir of General Raus, 1941–1945. DeCapo.
  • Reitlinger, Gerald (1989). The SS: Alibi of a Nation, 1922–1945. Da Capo. ISBN 978-0-306-80351-2.
  • "Remembering the invisible soldiers of the Battle of the Bulge". U.S. Wereth Memorial. 2012. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2013.
  • Reynolds, Michael (1997). Steel Inferno: I SS Panzer Corps in Normandy. Spellmount. ISBN 1-873376-90-1.
  • Reynolds, Michael (tháng 2 năm 2003). "Massacre at Malmédy During the Battle of the Bulge". World War II Magazine.
  • "The Sant'Anna di Stazzema Massacre (August 1944)". Jewish Virtual Library. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013.
  • Rossino, Alexander B. (2003). Hitler Strikes Poland: Blitzkrieg, Ideology, and Atrocity. Lawrence, Kansas: University Press of Kansas. ISBN 0-7006-1234-3.
  • Schramm, Percy E. (1982). Kriegstagebuch des Oberkommandos der Wehrmacht 1944–1945 Teilband II (bằng tiếng Đức). Herrsching: Manfred Pawlak.
  • Schulte, Jan Erik; Wildt, Michael, biên tập (tháng 9 năm 2018). Die SS nach 1945: Entschuldungsnarrative, populäre Mythen, europäische Erinnerungsdiskurse [The post-1945 SS: Debt narratives, popular myths, European commemorative discourses]. Berichte und Studien (bằng tiếng Đức). Quyển 76. Göttingen: Vandenhoeck & Ruprecht. ISBN 978-3847108207. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2018. [ p. 47 ]"another source" (PDF). Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2018 – qua Humboldt University of Berlin.[liên kết hỏng]
  • Seaton, Albert (1971). The Russo-German War, 1941–45. New York: Praeger Publishers. ISBN 978-0-21376-478-4.
  • Smelser, Ronald; Davies, Edward J. (2008). The Myth of the Eastern Front: The Nazi-Soviet War in American Popular Culture. New York: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-83365-3.
  • Spajić, Hrvoje (2010). Waffen-SS: Mračne sile zločinačke politike - Vojnici nacionalsocijalizma 1933–45 [Waffen-SS: The Dark Forces of Criminal Politics – Soldiers of National Socialism 1933–45] (bằng tiếng Croatia). Zagreb: Naklada Stih.
  • Stackelberg, Roderick (2002). Hitler's Germany: Origins, Interpretations, Legacies. London; New York: Taylor & Francis. ISBN 978-0-203-00541-5.
  • Stein, George H. (2002) [1966]. The Waffen-SS: Hitler's Elite Guard at War 1939–1945. Cerberus Publishing. ISBN 978-1841451008.
  • Stein, George H. (1984) [1966]. The Waffen SS: Hitler's Elite Guard at War, 1939-1945. Cornell University Press. ISBN 0-8014-9275-0.
  • Stroop, Jürgen (1943). "The Stroop Report: The Warsaw Ghetto Is No More". Jewish Virtual Library. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2013.
  • Sydnor, Charles W. Jr. (1990) [1977]. Soldiers of Destruction: The SS Death's Head Division, 1933–1945. Princeton, N.J.: Princeton University Press. ISBN 978-0-691-00853-0. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2016.
  • Sydnor, Charles W. Jr. (1973). "The History of the SS Totenkopfdivision and the Postwar Mythology of the Waffen SS". Central European History. 6 (4). Cambridge University Press: 339–362. doi:10.1017/S0008938900000960. S2CID 144835004.
  • Tauber, Kurt (1967). Beyond Eagle and Swastika: German Nationalism Since 1945, Volume I. Middletown, Conn.: Wesleyan University Press.
  • Tessin, Georg (1973). Verbände und Truppen der deutschen Wehrmacht und Waffen-SS 1939–1945, Volumes II and III (bằng tiếng Đức). Biblio Verlag.
  • Tessin, Georg (1977). Die Waffengattungen – Gesamtübersicht. Verbände und Truppen der deutschen Wehrmacht und Waffen SS im Zweiten Weltkrieg 1939–1945 (bằng tiếng Đức). Quyển 1. Osnabrück: Biblio.
  • Tessin, Georg (1966). Verbände und Truppen der deutschen Wehrmacht und Waffen SS im Zweiten Weltkrieg 1939–1945: Die Landstreitkräfte 1–5 (bằng tiếng Đức). Quyển 2. Frankfurt am Main: Mittler.
  • Tessin, Georg (1970). Die Landstreitkräfte 15–30. Verbände und Truppen der deutschen Wehrmacht und Waffen SS im Zweiten Weltkrieg 1939–1945 (bằng tiếng Đức). Quyển 4. Leipzig: Mittler.
  • Thomson, Mike (ngày 23 tháng 9 năm 2004). "Hitler's secret Indian army". BBC News. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2013.
  • "Jewish Uprisings in Ghettos and Camps, 1941–1944: Resistance in Ghettos". United States Holocaust Memorial Museum. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  • Ustinow, D. F (1981). Geschichte des zweiten Weltkrieges 1939–1945 (bằng tiếng Đức). Quyển X. Berlin: Militärverlag der Deutschen Demokratischen Republik.
  • Vahtla, Aili, biên tập (ngày 31 tháng 7 năm 2018). "Politicians condemn Russian Embassy criticism of tribute to WWII battle". Eesti Rahvusringhääling. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2019.
  • Wardzyńska, Maria (2009). Był rok 1939. Operacja niemieckiej policji bezpieczeństwa w Polsce. Intelligenzaktion [The year was 1939. Operation of German security police in Poland. Intelligenzaktion] (PDF) (bằng tiếng Ba Lan). Institute of National Remembrance, IPN (Portal edukacyjny Instytutu Pamięci Narodowej). ISBN 978-83-7629-063-8. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2016.
  • Weale, Adrian (2010). The SS: A New History. Little, Brown. ISBN 978-1-4087-0304-5.
  • Weale, Adrian (2012). Army of Evil: A History of the SS. New York: Caliber Printing. ISBN 978-0-451-23791-0.
  • Wegner, Bernd (1990). The Waffen-SS: Organization, Ideology and Function. Blackwell. ISBN 0-631-14073-5.
  • Weinberg, Gerhard (1994). A World at Arms: A Global History of World War II. Cambridge; New York: Cambridge University Press. ISBN 0-521-44317-2.
  • Werther, Steffen; Hurd, Madeleine (2014). "Go East Old Man: The Ritual Spaces of SS Veteran's Memory Work" (PDF). Culture Unbound. Journal of Current Cultural Research. 6 (2): 327–359. doi:10.3384/cu.2000.1525.146327. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2016.
  • Westemeier, Jens (2007). Joachim Peiper: A Biography of Himmler's SS Commander. Schiffer Publishing. ISBN 978-0-7643-2659-2.
  • Wiederschein, Harald (ngày 21 tháng 7 năm 2015). "Mythos Waffen-SS: Von wegen "blonde Götter" - Hitlers Elitetruppen sind bis heute überschätzt" [Myth of the Waffen-SS: Because of the "blond gods" – Hitler's elite troops are still overrated]. Focus] (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2018.
  • Wienand, Christiane (2015). Returning Memories: Former Prisoners of War in Divided and Reunited Germany. Rochester], N.Y: Camden House. ISBN 978-1571139047. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2018.
  • Wilke, Karsten (2011). Die "Hilfsgemeinschaft auf Gegenseitigkeit" (HIAG) 1950–1990: Veteranen der Waffen-SS in der Bundesrepublik [HIAG 1950–1990: Waffen-SS veterans in the Federal Republic] (bằng tiếng Đức). Paderborn: Schoeningh Ferdinand GmbH. ISBN 978-3-506-77235-0.
  • Williamson, Gordon; Andrew, Stephan (2004). The Waffen-SS (4): 24. To 38. Divisions, & Volunteer Legions. Osprey. ISBN 1-84176-589-9.
  • Windrow, Martin; Burn, Cristopher (1992). The Waffen-SS, Edition 2. Osprey. ISBN 0-85045-425-5.
  • Wroniszewski, Józef (1970). Ochota 1944 (bằng tiếng Ba Lan). Warsaw: Wydawnictwo Ministerstwa Obrony Narodowej.
  • Zetterling, Niklas; Frankson, Anders (2008). The Korsun Pocket: The Encirclement and Breakout of a German Army in the East, 1944. Philadelphia: Casemate. ISBN 978-1-932033-88-5.
  • Ziemke, Earl F. (1968). Stalingrad to Berlin: The German Defeat in the East. Washington: Office of the Chief of Military History – U.S. Army. ASIN B002E5VBSE.
  • Zimmermann, Elizabeth (ngày 21 tháng 1 năm 2004). "Former SS member faces trial for war crimes in the Netherlands". World Socialist Web Site. International Committee of the Fourth International. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2013.
  • Zwack, Peter (1999). "World War II: Siege of Budapest". Quarterly Journal of Military History. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2009.
  • Antonijević, Nenad (2009). "Albanski Zlocini nad Srbima na Kosovu i Metohiji u Drugom Svetskom Ratu" (PDF) (bằng tiếng Serbian). Muzej žrtava genocida.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  • Zdravkovski, Aleksander (2022). The Sandžak of Novi Pazar: Millets, Nations, Empires. Rowman & Littlefield. ISBN 9781793641816.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Ailsby, Christopher (2004). Hitler's Renegades: Foreign Nationals in the Service of the Third Reich. Brasseys. ISBN 1-57488-838-2.
  • Clark, Lloyd (2004). Operation Epsom. Battle Zone Normandy. History Press. ISBN 0-7509-3008-X.
  • Hastings, Max (2013). Das Reich: The March of the 2nd SS Panzer Division through France, June 1944. Minneapolis, MN: Zenith Press. ISBN 978-0-7603-4491-0.
  • Lasik, Aleksander (2007). Sztafety Ochronne w systemie niemieckich obozów koncentracyjnych. Rozwój organizacyjny, ewolucja zadań i struktur oraz socjologiczny obraz obozowych załóg SS [Schutzstaffel of the NSDAP in the System of German Concentration Camps; Organizational Development, Evolution of Goals, Structure, and Social Picture of SS Staff] (bằng tiếng Ba Lan). Auschwitz-Birkenau: Państwowe Muzeum. ISBN 978-83-60210-32-1.
  • Leland, Anne; Oboroceanu, Mari–Jana (2010). "American War and Military Operations Casualties: Lists and Statistics" (PDF). Congressional Research Service.
  • Wiesenthal, Simon; Wechsberg, Joseph (1967). The Murderers Among Us: The Simon Wiesenthal Memoirs. McGraw-Hill. LCCN 67-13204.
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Waffen-SS.
Stub icon

Bài viết chủ đề lịch sử quân sự này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

  • x
  • t
  • s

Từ khóa » Sĩ Quan Ss đức Quốc Xã