Xe Tăng T-34 – Wikipedia Tiếng Việt

Bài này viết về một loại xe tăng hạng trung của Liên Xô. Đối với các mục từ khác có tên gọi giống như vậy, xem T34.

Xe tăng T–34 là một xe tăng hạng trung sản xuất bởi Liên Xô từ năm 1940 đến năm 1958, chủ yếu được sử dụng trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại (1941-1945). T-34 đã cách mạng hoá cách thức thiết kế và chế tạo xe tăng trên thế giới; mặc dù về giai đoạn sau chiến tranh có nhiều xe tăng mang giáp trụ và hỏa lực trội hơn T-34, nó vẫn được đánh giá là loại xe tăng hiệu quả nhất và có thiết kế gây ảnh hưởng lớn nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai.[2]

T-34
T-34-85 tại bảo tàng Musée des Blindés
Loạixe tăng hạng trung
Nơi chế tạo Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1940–nay
Sử dụng bởiXem chi tiết
TrậnChiến tranh thế giới thứ haiChiến tranh Triều TiênSự kiện năm 1956 ở HungarySự kiện Vịnh Con LợnChiến tranh Sáu ngàyChiến tranh Yom KippurCác cuộc xung đột ở châu PhiChiến tranh Việt NamChiến tranh Nam TưChiến tranh BosniaNội chiến SyriaNội chiến YemenChiến tranh biên giới Việt-TrungChiến tranh Donbas
Lược sử chế tạo
Người thiết kếKMDB - phòng thiết kế chính của T-34
Năm thiết kế1937–40
Giai đoạn sản xuất1940–58
Số lượng chế tạo
  • 84.070
  • 35.120 T-34
  • 48.950 T-34-85
Thông số (T-34 mẫu 1941[1])
Khối lượng26,5 tấn (29.2 tấn Mỹ)
Chiều dài6,68 m (21.9 feet)
Chiều rộng3,00 m (9.8 feet)
Chiều cao2.45 m (8.0 feet)
Kíp chiến đấu4 (5 với những chiếc có Cupola)
Phương tiện bọc thépMặt trước thân xe: 45mm nghiêng 60 độMặt trước tháp pháo:52mm nghiêng 50 độ (phiên bản T-34 Model 1941)90mm nghiêng hình bán cầu (phiên bản T-34/85)
Vũ khíchínhpháo tăng F-34 76,2 ly (3.00 inch)
Vũ khíphụ2 đại liên DT 7.62 ly (0.308 inch)
Động cơđộng cơ diesel 12 xilanh mẫu V-2500 hp (370 kW)
Công suất/trọng lượng17,5 mã lực/tấn
Hệ thống treoChristie
Tầm hoạt động400 km (250 dặm)
Tốc độ53 cây số/giờ (33 mph)

Trong Thế chiến thứ 2, T-34 là một trong những loại xe tăng có sự phối hợp tốt nhất giữa tính năng bảo vệ, tính cơ động, hỏa lực và độ tin cậy và khả năng bảo trì của xe; nó cũng là một trong những mẫu thiết kế có thời hạn phục vụ lâu nhất, một số chiếc hiện vẫn còn được sử dụng. Ở thời kỳ đầu chiến tranh, phiên bản T-34/76 vượt trội hơn hẳn các xe tăng Panzer III, Panzer IV của Đức về cả hỏa lực và vỏ giáp, tuy nhiên những lợi thế này bị hạn chế nhiều do thiếu hệ thống liên lạc bộ đàm và các tổ lái Liên Xô khi đó còn thiếu kinh nghiệm chiến thuật. Hệ thống tháp pháo hai người điều khiển - khá phổ biến ở xe tăng thời đó - khiến người xa trưởng phải kiêm luôn nhiệm vụ nạp đạn và nó tỏ ra kém hiệu quả hơn hệ thống tháp pháo ba người (xa trưởng, pháo thủ và người nạp đạn). Những điểm yếu này đã được các nhà thiết kế khắc phục ở phiên bản nâng cấp T-34/85.

T–34 có buồng lái chật hẹp nên bị đánh giá thấp về mức độ tiện nghi cho kíp chiến đấu 4 người. T–34 cũng khá ồn nên có thể bị đối phương nghe thấy trong đêm từ khoảng cách 450 đến 500m. Ưu điểm của T–34 là thiết kế giáp nghiêng hiệu quả, bảo vệ kíp lái tốt hơn, giúp việc chế tạo và sửa chữa rất dễ dàng. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đã ghi nhận nhiều trường hợp T–34 bị bắn bay mất tháp pháo vẫn dễ dàng được sửa chữa trong điều kiện dã chiến, chỉ cần vài giờ lắp tháp pháo mới là xe lại tham gia chiến đấu được ngay. Xe cũng khá nhẹ và động cơ diesel làm mát bằng nước làm tăng độ tin cậy của động cơ cũng như tăng khoảng cách hoạt động của xe. Tốc độ của T–34 cũng là một lợi thế chính yếu so với các xe tăng Đức: Tốc độ tối đa trung bình của các xe tăng Đức là 25 dặm (khoảng 40 km)/giờ trong khi tốc độ tối đa của T–34 là 32 dặm (khoảng 50 km)/giờ. Vỏ thép nghiêng cũng giúp cho T–34 có được sự bảo vệ tốt chống lại đạn pháo Đức, thiết kế này hiệu quả đến nỗi Đức đã sao chép lại để áp dụng trên loại xe tăng Panther (Con Báo) và Tiger II (Vua Cọp).

Ưu điểm lớn nhất của xe T-34 chính là thiết kế rất dễ sản xuất của nó: Liên Xô có thể chịu đựng được mức tổn thất lớn của T-34 trên chiến trường vì hệ thống nhà máy của họ cho phép sản xuất rất nhanh hàng nghìn chiếc khác. Trong khi xe tăng của Đức đòi hỏi nhiều giờ công lao động, chi phí và thợ lành nghề để chế tạo, xe T-34 có thể được chế tạo với các thiết bị đơn giản và thợ cơ khí bậc trung. Các nhà máy T-34 nằm sâu sau dãy Ural nơi không bị ảnh hưởng của các cuộc ném bom của không quân Đức và có thể tăng công suất sản xuất hỗ trợ cho nhau để bù cho số bị thiếu hụt khi một nhà máy gặp vấn đề. Với cùng một chi phí, phía Đức sản xuất được 1 xe tăng Tiger thì phía Liên Xô có thể sản xuất 7-8 xe T-34. Do đó trong chiến trận phía Đức phải tiêu diệt được 7-8 xe tăng T-34 với mức tổn thất 1 xe tăng Tiger của mình thì mới có cơ hội thay đổi được so sánh lực lượng có lợi về phía mình[cần dẫn nguồn], tỷ lệ này phía Đức không thể nào có thể đạt được. Thành phố Chelyabinsk (Челябинск) tại vùng núi Ural Nga là nơi sản xuất chính loại xe tăng này nhiều đến nỗi thành phố này được gọi là Tankograd (танкоград)- thành phố xe tăng. Tổng cộng gần 58.000 chiếc T-34 đã được sản xuất trong Thế chiến 2, nhiều hơn bất kỳ loại xe tăng nào khác.

Xe tăng T-34 liên tục được cải tiến trong suốt cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhằm tăng tính hiệu quả và giảm giá thành, điều này khiến càng lúc càng nhiều xe tăng T-34 được tung ra mặt trận. Đầu năm 1944, T-34 được trang bị pháo 85 mm hỏa lực mạnh hơn, cho phép nó có thể chiến đấu ngang cơ với xe tăng Tiger ở cự ly gần; cùng với lớp giáp tốt hơn; tháp pháo ba người, phẳng hơn biến nó thành mục tiêu có kích thước nhỏ hơn. Kiểu này được gọi là xe tăng T-34/85. Cho đến cuối cuộc chiến, dòng tăng T-34 linh loạt và giá thành thấp đã thay thế nhiều loại xe tăng hạng nhẹ và hạng trung của Liên Xô, trở thành loại xe tăng được sản xuất chủ yếu trong quân đội Liên Xô lúc đó và cũng là loại xe tăng chủ lực của Liên Xô trong suốt Cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Trên cơ sở khung thân của T-34, Liên Xô cũng chế tạo một loạt các thiết kế pháo tự hành rất thành công gồm SU-85, SU-100 và SU-122. Thiết kế cách mạng của T-34 cũng đã dẫn tới việc thiết kế và sản xuất dòng xe tăng lừng danh T-54/55.

T-34 là loại xe tăng được sản xuất nhiều nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai và là xe tăng sản xuất nhiều thứ nhì trên thế giới, sau dòng T-54/55. Tới năm 2010, các xe tăng T-34 vẫn còn được phục vụ trong ít nhất là 27 quốc gia và một số nước sẽ còn tiếp tục sử dụng nó cho tới giữa thế kỷ 21, đưa nó trở thành loại xe tăng có thời gian phục vụ lâu nhất từ trước tới nay.

Mục lục

  • 1 Lịch sử sản xuất
    • 1.1 Cuộc cách mạng trong thiết kế xe tăng
    • 1.2 Vỏ giáp
    • 1.3 Kính ngắm
    • 1.4 Hỏa lực
    • 1.5 Sản xuất
    • 1.6 Chi phí chế tạo
    • 1.7 Số lượng T-34
  • 2 Các phiên bản T-34
    • 2.1 Phương tiện chiến đấu bọc thép khác
    • 2.2 Phiên bản T-34-100
  • 3 Sau Chiến tranh thế giới thứ hai
    • 3.1 Trung Quốc
    • 3.2 Chiến tranh Triều Tiên
    • 3.3 Trung Đông
    • 3.4 Cuba
    • 3.5 Việt Nam
    • 3.6 Quần đảo Síp
    • 3.7 Nội chiến Angola
    • 3.8 Afghanistan
    • 3.9 Namibia
    • 3.10 Balkans
    • 3.11 Thế kỷ 21
  • 4 Lính tăng T-34 nổi tiếng
  • 5 Nhà khai thác
    • 5.1 Hiện tại
    • 5.2 Quá khứ
  • 6 Tham khảo
  • 7 Liên kết ngoài

Từ khóa » T 34 Của Nước Nào