Xem Cha ông Ta Một Thời Lều Chõng đi Thi | Báo Dân Trí
Có thể bạn quan tâm
Qua hơn 50 bức ảnh tư liệu về khoa cử, về Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long – Hà Nội, Phú Xuân Huế; một số tài liệu tranh khắc; 9 văn bản hành chính Châu bản. Đặc biệt là thác bản 114 văn bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở TP Hà Nội và Huế, 2 thác bản văn bia Tiến sĩ Võ tại Võ Miếu Huế đã khái quát nên truyền thống giáo dục, đào tạo của Việt Nam xưa từ năm 1075 đến 1919 với tên tuổi của gần 3.000 nhà khoa bảng.
Những hình ảnh một thời của cha ông đi thi, những vị tiến sĩ với cân đai áo mũ, dự yến tiệc sau khi thi đỗ, bia đá lưu danh tên vàng... đã cho thấy một thời phong kiến với việc thi cử nghiêm ngặt nhằm tuyển chọn người tài phục vụ đất nước.
Vốn có truyền thống cả ngàn năm, khoa Cử Việt Nam đã phát triển theo chiều thời gian với nhiều giai đoạn. Đánh dấu từ năm 1075 với khoa thi Tam trường để kén Minh kinh bác học. Năm 1232, triều Trần mở khoa thi Thái học sinh lấy đỗ: Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp và Đệ tam giáp. Năm 1247 lại đặt tam khôi cho 3 người đỗ Đệ nhất giáp là: Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa. Năm 1347 mở khoa thi Đình lấy đỗ Tiến sĩ. Năm 1396 đặt lệ thi Hương lần đầu ở các địa phương lấy đỗ Cử nhân và quy định 7 năm một kỳ thi, năm trước thi Hương, năm sau thi Hội ở Kinh đô. Thi Hội cũng bắt đầu có từ đấy.

Dưới triều Hồ theo phép thi của triều Trần và quy định 3 năm mở một khoa thi – giảm thời gian xuống so với lúc trước. Triều Lê khoa cử thịnh đạt. Năm 1434 vua Lê Thái Tông xuống chiếu định lệ thi Hương, thi Hội và quy định 3 năm mở một khoa thi. Triều Mạc, Lê Trung Hưng và triều Nguyễn sau này dều cho phép thi cử của triều Lê. Triều Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên, nhưng lấy thêm hạng Phó bảng dưới Tiến sĩ.
Về thể thức, thi Hương và thi Hội đều phải qua 4 kỳ, đỗ kỳ trước mới được vào kỳ sau, nhưng nội dung thi Hội ở trình độ cao hơn. Phép thi quy định: kỳ 1 thi Kinh nghĩa; kỳ 2: thi Chế, Chiếu, Biểu; kỳ 3: Thi Thơ, Phú; kỳ 4: Thi Văn sách. Cuối cùng là kỳ thi Đình. Thí sinh làm một bài văn sách do Vua ra đề, hỏi về đạo trị nước và sử dụng hiền tài… Với 183 khoa thi đại khoa đã tuyển chọn được 2.898 nhà khoa bảng: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ, Phó bảng.
Hiện tại Việt Nam còn lại 2 di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám tại Hà Nội và Huế. Văn Miếu ngoài Hà Nội được gọi tên là Văn Miếu Quốc Tử Giám Thăng Long. Gồm 2 phần: Văn Miếu Thăng Long được xây dựng năm 1070 là nơi thờ Khổng Tử và các bậc Tiên hiền, Tiên nho; Quốc Tử Giám xây năm 1076 phía sau Văn Miếu là Trường học cao cấp đầu tiên của Việt Nam. Tại nơi đây không chỉ là nơi đã đào tạo ra hàng ngàn nhân tài cho đất nước mà còn là nơi hun đúc và bảo tồn nhiều truyền thống quý báu của dân tộc như: hiếu học, hiếu nghĩa, tôn sư trọng đạo, coi trọng nhân tài. Tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Thăng Long vẫn còn lưu giữ 82 tấm bia Tiến sĩ khắc họ tên, quê quán của 1304 vị Tiến sĩ đỗ đạt trong 81 khoa thi triều Lê và 1 khoa thi triều Mạc từ năm 1442 đến năm 1779.

Văn Miếu Quốc Tử Giám ở cố đô Huế gọi là Văn Miếu Quốc Tử Giám Phú Xuân. Khi Phú Xuân – Huế trở thành Kinh đô của Việt Nam, đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn chủ trương xây dựng Văn Miếu năm 1808 bên bờ sông Hương ở phía Tây Kinh thành Huế. Khi còn nguyên vẹn, nơi đây có gần 20 công trình lớn như: Văn Miếu (điện thờ), Đông vu, tây vu, Thần khố, Thần trù, Hữu Văn Đường, Duy Lễ Đường, nhà Thổ Công, Đại Thành Môn, Văn Miếu Môn, quan Đức Môn, Linh Tinh Môn, La thành, bến vua ngự…
Quốc Tử Giám xây dựng chính thức bên cạnh Văn Miếu vào năm 1820 là nơi tập trung các học sinh trong nước về Kinh dùi mài kinh sử. Vào năm 1904, cơn bão Giáp Thìn đã làm cho Quốc Tử Giám bị hư hỏng nặng, sau đó được tu bổ một vài lần. Vào thời Thành Thái năm 1908, Quốc Tử Giám được dời về khu vực phía đông của Kinh thành như hiện nay – hiện là địa điểm của Bảo tàng Lịch sử Cách mạng tỉnh TT-Huế và Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế ở đường 23 tháng 8, đường Lê Trực, TP Huế.

Tại Văn Miếu Huế có 32 tấm bia khắc họ tên, quê quán của 293 vị Tiến sĩ triều Nguyễn, bắt đầu từ khoa thi đầu tiên năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đến khoa thi cuối cùng vào năm Khải Định thứ 4 (1919). Ngoài ra, liên quan đến khoa cử ở Phú Xuân Huế còn có 1 di tích độc đáo khác là Võ Miếu tọa lạc cạnh Văn Miếu. Việc thiết lập Võ Miếu của triều Nguyễn ở Huế có ý nghĩa đề cao các vị tướng tài ba, nuôi dưỡng và khích lệ tinh thần thượng võ, phát huy nền võ nghiệp – một trong những truyền thống đáng tự hào của Việt Nam. Ở đây hiện còn 3 tấm bia võ công khắc thời Minh Mạng và 2 bia Tiến sĩ võ thời Tự Đức.
Triển lãm thú vị “Truyền thống khoa cử Việt Nam” trên đang diễn ra tại Trường lang (Đại Nội Huế) nhân ngày Di sản Văn hóa Việt Nam 23/11 do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Bảo tàng Cổ vật Cung định Huế với Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, kéo dài cho đến hết tháng 1/2014.


















Đại Dương
Từ khóa » Hình ảnh Lều Chõng đi Thi
-
Lều Chõng đi Thi Tại Trường Thi Nam Định Năm 1897
-
Thi Cử Ngày Xưa - Lều Chõng - Hình ảnh Việt Nam Xưa & Nay
-
Chùm ảnh: Sờ Tận Tay Lều Chõng Của Sĩ Tử Việt Xưa
-
Tái Hiện Quang Cảnh Lều Chõng Của Sĩ Tử Xưa
-
Lều Chõng Ngày Xưa - Kỳ 1: Sĩ Tử Thời Xưa - Báo Tuổi Trẻ
-
Lều Chõng đi Thi Trăm Năm Trước - Báo Nghệ An
-
“Lều Chõng” đi Thi Trăm Năm Trước Dưới ống Kính Tây
-
Xem Lại Cảnh Lều Chõng đi Thi ở Việt Nam Thời Nguyễn - Ngôi Sao
-
Lều Chõng đi Thi Trăm Năm Trước Dưới ống Kính Tây - Kiến Thức
-
Cực độc Lều Chõng đi Thi Trăm Năm Trước Dưới ống Kính Tây
-
Khoa Thi Thời Nhà Nguyễn - Hình Ảnh Lịch Sử
-
Gian Lận Trong Thi Cử Ngày Xưa: Tuồn đề Thi Cho Thí Sinh, đi Thi Hộ