Xuân Diệu Và Tình Cảm đồng Tính Luyến ái Trong Thơ Văn Việt Nam
Có thể bạn quan tâm

Xuân Diệu là một nhà thơ lớn. Nhiều người đã viết về ông và nhiều nhất là về thơ tình của ông. Nhưng trong thơ tình của Xuân Diệu, những đối tượng nào được ông yêu thì hình như chưa có ai bàn đến. Trong khi, đó lại chính là điểm hứa hẹn nhiều chuyện thú vị.
Chúng ta nên biết là suốt đời Xuân Diệu không có vợ, không có con. Ông sống độc thân cho đến lúc mất, vào năm 1985, lúc 69 tuổi. Trong bài Khung cửa sổ, Xuân Diệu tả cuộc sống của mình như sau:
Anh có nhà, có cửaNhưng không vợ, không conSợ cái bếp không lửaSợ cái cửa không đèn.
Những đêm đi xa vềTận xa nhìn cửa đóngKhông ánh sáng đón mìnhChẳng có ai trông ngóng.
Cảm giác ngậm ngùi mỗi lần nói đến chuyện tình yêu đã xuất hiện trong thơ Xuân Diệu ngay trước năm 1945, khi Xuân Diệu còn là một thanh niên. Lúc đó, khi nhìn những người đẹp, ông đã chua chát tự nhủ thầm:
Ta thấy em xinh khẽ lắc đầuBởi vì ta có được em đâu.Cũng có khi ông trách móc:Lòng ta là một cơn mưa lũĐã gặp lòng em là lá khoai.Mưa biếc tha hồ tuôn giọt ngọcLá khoai không ướt đến da ngoài.
Những cảm giác như vậy xuất hiện nhiều lần trong thơ Xuân Diệu. Có thể nói là mặc dù rất đa tình, Xuân Diệu ít khi được thoả mãn. Lý do chính của tình trạng này có thể làm nhiều người kinh ngạc: Xuân Diệu là một người đồng tính luyến ái.
Ở Hà Nội, trong giới quen biết với Xuân Diệu, hình như đã có nhiều người biết chuyện này. Tuy nhiên, ít ai dám công khai nói ra, có lẽ vì sợ cái uy thế của Xuân Diệu và của Huy Cận. Người đầu tiên dám đề cập đến chuyện này một cách công khai chính là Tô Hoài trong cuốn Cát bụi chân ai xuất bản năm 1992 tại Hà Nội. Tô Hoài kể, trước năm 1945, ông được gặp Xuân Diệu vài lần, lần nào cũng diễn ra cái cảnh:
Tôi quen Xuân Diệu trước năm 1945. Tôi cũng là người Xuân Diệu rủ đi nghe và cổ vũ Xuân Diệu lần đầu tiên diễn thuyết đề tài Thanh Niên Với Quốc Văn ở giảng đường trường đại học Hà Nội. Xuân Diệu nói “Hoài ơi đi ủng hộ Diệu”.
…
Xuân Diệu và Huy Cận lên Nghĩa Đô, ở chơi cả buổi và ăn cơm. Dịu dàng, âu yếm, Xuân Diệu cầm cổ tay tôi, nắm chặt rồi vuốt lên vuốt xuống. Bốn mắt nhìn nhau đắm đuối. Xuân Diệu gắp thức ăn cho tôi. Cử chỉ thân thiết quá, hơi lạ với tôi, nhưng mà tôi cảm động. Tôi sướng mắt nhìn tập thơ Thơ thơ khổ rộng nhà in Trung Bắc phố Hàng Buồm. Hai chữ Xuân Diệu nét chì sắc gọn, không phải chữ gỗ dẹp đét.
Thỉnh thoảng, Xuân Diệu lại lên nhà tôi. Vẫn nắm tay cả buổi, nhìn tha thiết. Xuân Diệu yêu tôi. Nhớ những tình yêu con trai với nhau, ở trong làng và ở lớp, khi mới lớn. Học lớp nhất trường Yên Phụ, nói vỡ tiếng ồ ồ mặt sùi trứng cá, chúng nó cứ bảo tôi là con gái. Nhiều thằng cặp đôi với tôi, đòi làm vợ chồng. Có hôm chúng nó tranh vợ đánh nhau lung tung. Có đứa xô vào ôm chặt, sờ soạng toạc cả đũng quần tôi. Nhiều hôm đi học không dám đến sân trường sớm. Phải lẩn vào trong ngõ Trúc Lạc, nghe trống mới chạy ù đến sắp hàng vào lớp. (tr. 168-69)
Cũng trong cuốn hồi ký này, Tô Hoài kể là trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, lúc ở căn cứ Việt Bắc, hằng đêm Xuân Diệu hay sang giường các bạn trai của ông để tỏ tình, âu yếm. Các bạn trai của ông rất sợ, vì vậy cứ đêm đến là họ…đi tị nạn sang các nhà khác, không ai dám ở chung với Xuân Diệu:
Mọi công việc cơ quan lặng lẽ, nhưng cứ tối đến thì nháo lên, nháo lên một cách âm thầm. Các chàng trai trẻ vào ngủ lang trong xóm. Thằng Đại trắng trẻo, mũm mĩm thì biến là phải. Nhưng cả thằng Nghiêm Bình cao to hiên ngang thế, tối cũng lẳng lặng vác cái ghi ta đi. Bốn bên lặng lẽ như tờ…. Bởi cứ đêm đến Xuân Diệu hay “mò” sang giường họ, để làm… “trò vợ chồng”! ” (tr. 171)
Mặc dù Tô Hoài đã được Xuân Diệu vuốt tay và nhìn đắm đuối trước năm 1945 như ông đã kể, nhưng hình như ông cũng chưa hiểu hết mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Cho nên đêm đầu tiên ghé lại khu văn nghệ sĩ ở căn cứ địa Việt Bắc, ông đã an nhiên ngủ lại trong căn nhà này chung với Xuân Diệu. Nửa đêm, lúc ông đang ngủ mê, thì:
Giọt gianh lách tách mái nứa gọi về những đêm ma quái, rùng rợn, say đắm. Bàn tay ma ở đâu rờn vào. Không phải. Tay người, bàn tay người đầy đặn, ấm ấm. Hai bàn tay mềm mại xoa lên mặt lên cổ rồi xuống dần xuống dần khắp mình trần truồng trong mảnh chăn dạ. Bóng tối bập bùng lên như ngọn lửa đen không có ánh, cái lạnh đêm mưa rừng ấm dần lên. Chẳng còn biết đương ở đâu, mình là ai, hai cơ thể con người quằn quại, quấn quít, cánh tay, cặp đùi thong chão trói lại, thít lại, giằng ra. Niềm hoan lạc trong tôi vỡ ra, dữ dội giằng ngửa cái xác thịt kia.
…
Rồi như chiêm bao, tôi ngã ra, thống khoái. Im lặng. Nghe mưa rơi xuống tàu lá chuối trong đêm và cái mệt dịu dàng trong mình. Giữa lúc ấy, hai bàn tay mềm như lụa lại vuốt lên mặt. Làn môi và hơi thở nóng như than bò vào mắt, xuống vú, xuống roan, xuống bẹn… Cơn sướng lại cồn lên cho đến lúc ngã cả ra, rúc vào nhau. Rồi bàn tay dịu dàng lại vuốt lên mặt. Lần này thì tôi lữ lả, tôi nguôi ra rên ư ử, như con điếm mê tơi không nhớ nổi người thứ mấy, thứ mấy nữa.
Trời rạng sáng. Xuân Diệu trở về màn mình lúc nào không biết. Tôi he hé mắt nhớ lại những hứng thú khủng khiếp. Những cảm giác nồng nàn kích thích trong bóng tối đã trơ ra khi sáng bạch. Tôi chạy xuống cánh đồng giữa mưa. (tr. 170)
Cuối cùng, khi chuyện vỡ lỡ, tổ chức đem Xuân Diệu ra kiểm thảo. Tô Hoài viết tiếp:
Cuộc kiểm điểm Xuân Diệu kéo dài hai tối. Hồi ấy chưa biết phương pháp chỉnh huấn, nhưng hàng ngày chúng tôi làm việc giờ giấc nghiêm ngặt, mỗi tổ buổi chiều trước giờ tăng gia lại hội ý rút kinh nghiệm, hướng sửa chữa và công việc ngày mai của từng người. Cả cơ quan họp đến khuya. Chỉ có ông Phan Khôi lên buồng vẫn mắc màn sẵn đi ngủ từ chặp tối, bỏ ngoài tai mọi việc.
Xuân Diệu chỉ ngồi khóc, chẳng biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, thằng Đại và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, nhưng cũng không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyến rũ, mình cũng điên kia mà. Không nói cụ thể việc ấy, nhưng ai cũng to tiếng gay gắt “tư tưởng tư sản, phải chừa đi.” Xuân Diệu nức nở “tình trai của tôi… tình trai” rồi nghẹn lời, nước mắt lại ứa ra.
Ít lâu sau, trong một cuộc họp ban chấp hành, Xuân Diệu bị đưa ra khỏi ban thường vụ. Và cũng thành một cái nếp kéo dài, từ đấy không ai nhắc nhở đến những việc chủ chốt trước kia Xuân Diệu đã phụ trách. Bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người hiếm thì giờ chỉ chuyên đi viết. Mà Xuân Diệu cũng tự xa lánh mọi công tác. (tr. 171-2)
Đó là chuyện ngoài đời. Chuyện này tuy có thể thoả mãn óc tò mò của chúng ta, tuy nhiên nó lại không đáng bàn và cũng không nên bàn nhiều. Dù sao nó cũng là chuyện riêng tư và chúng ta có bổn phận phải tôn trọng chuyện riêng tư đó. Điều đáng nói hơn là chúng ta thử tìm những biểu hiện đồng tính luyến ái trong thơ của Xuân Diệu.
Trong đoạn hồi ký trên, Tô Hoài có nhắc đến chi tiết: Xuân Diệu nức nở nói về ‘tình trai’ của mình. Tình trai là tình giữa hai người con trai với nhau. Chữ ‘tình trai’ gợi cho chúng ta nhớ, trong tập thơ Thơ thơ, tác phẩm đầu tay xuất bản năm 1938 của Xuân Diệu, có một bài thơ nhan đề là Tình trai như sau:
Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine,Hai chàng thi sĩ choáng hơi men,Say thơ xa lạ, mê tình bạn,Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quên.
Những bước song song xéo dặm trườngĐôi hồn tươi đậm ngát hoa hương,Họ đi, tay yếu trong tay mạnh,Nghe hát ân tình giữa gió sương.
Kể chi chuyện trước với ngày sau;Quên gió môi son với áo màu;Thây kệ thiên đường và địa ngục!Không hề mặc cả, họ yêu nhau.
Bài thơ viết về chuyện hai nhà thơ Rimbaud và Verlaine của Pháp nhưng qua đó ngụ ý của Xuân Diệu là nói đến chuyện của mình. Yêu bạn trai, ông quên cả chuyện “ngó môi son với áo màu”, tức là phụ nữ. Mối tình trai này tha thiết đến độ “Thây kệ thiên đường và địa ngục / Không hề mặc cả, họ yêu nhau.”
Cũng trước năm 45, Xuân Diệu có bài thơ nhan đề là Tặng bạn bây giờ:
Ta biết ngày mai em có vợĐi làm hai bữa, tối về thămCơm xong, chén nước chờ bên cạnh;Em bế thằng con được mấy năm.
Chỉ mấy năm thôi, đủ phận chồngChàng trai tơ mởn đã thành ôngKhông còn mộng dễ ngày tươi trẻMắt sáng phai rồi, má hóp không.
Em ngồi trông vợ thấy nàng tiênLà một người thôi, mộng hão huyềnTa bước bên đường kêu gọi mãiNhớ người bạn cũ thuở anh niên.
Em nghe tê tái dưới hàng miTiếc thuở say nồng, nhớ bạn siKhép mắt buồn xa, em sẽ bảo:– Có chàng Xuân Diệu thuở xưa kia…
Từ trước đến nay, đọc bài thơ trên, ít ai chú ý đó là bài thơ tả mối tình của một người đồng tính luyến ái. Người được tác giả gọi bằng em một cách tha thiết lại là một người con trai. Nhà thơ yêu người con trai đó và ghen tức trước viễn tượng là một ngày kia người con trai sẽ lấy vợ “Ta biết ngày mai em có vợ.”
Sau này, có thời gian Xuân Diệu sống hẳn với một thanh niên tên là Hoàng Cát. Ông làm bài Đời anh em đã đi qua tả lại quãng đời hạnh phúc này:
Đời anh em đã đi quaSáng thơm như một luồng hoa giữa đờiHiểu làm sao hết, em ơiBốn năm kỳ diệu đất trời nhờ emNgôi nhà, cánh cổng, trái timKhóm cây, con mắt ngày đêm đón mừng.
Em đi, anh ngóng trông chừngAnh về, miệng đã gọi lừng: em ơi!Bữa ăn thành một hội vuiCó em gắp với, rau thôi cũng tìnhCảnh thường cũng hoá ra xinhCó em, anh hết nghĩ mình bơ vơ…
Khi Hoàng Cát đi bộ đội rồi phải rời Hà Nội vào chiến trường miền Nam, Xuân Diệu làm bài thơ đưa tiễn đầy nước mắt nhan đề là Em đi với lời đề “Tặng Hoàng Cát” như sau:
Em đi, để tấm lòng son mãiNhư ánh đèn chong, như ngôi sao.Em đi, một tấm lòng lưu lạiAnh nhớ thương em, lệ muốn trào.
Ôi Cát! Hôm vừa tiễn ở gaChưa chi ta đã phải chia xa!Nụ cười em nở, tay em vẫyÔi mặt em thương như đoá hoa.
Em hỡi! Đường kia vướng những gìMà anh mang nặng bước em điEm ơi, anh thấy như anh đứngÔm mãi chân em chẳng chịu lìa.
Nhưng bóng em đi khuất rồi,Đứa lìa khúc ruột của anh thôi!Tình ta như mối dây muôn dặmBuộc mãi đôi chân, dẫu cách vời.
Em hẹn sau đây sẽ trở vềSống cùng anh lại những say mêAùo chăn em gửi cho anh giữXin gửi cùng em cả hẹn thề!
Một tấm lòng em sâu biết baoĐể anh thương mãi, biết làm sao!Em đi xa cách, em ơi CátEm chớ buồn, nghe! Anh nhớ, yêu…(Đêm 11/7/1965, 23 giờ 30)
Hoàng Cát đi rồi, Xuân Diệu buồn vô cùng. Trong bài Đời anh em đã đi qua, còn có một đoạn cuối nói đến nỗi buồn trống vắng người yêu của Xuân Diệu:
Từ đây anh lại trong đờiBữa ăn ngồi với một đôi đũa cầmGiường kia một bóng anh nằmPhòng văn một sách đăm đăm sớm chiều.
Xin nhắc lại là Hoàng Cát, người được Xuân Diệu gọi là ’em’, em Cát, người em có khuôn mặt như đoá hoa, là một người con trai. Và chúng ta thấy, dù người yêu là con trai thì tình cảm của Xuân Diệu vẫn dạt dào và nồng cháy. Nếu chúng ta đừng để ý đến chuyện đồng tính luyến ái của nhà thơ thì đây là một bài thơ tình rất mực đằm thắm. Nó góp một tiếng nói tương đối đẹp vào kho tàng thơ tình vô cùng giàu có của Xuân Diệu.
Một vấn đề khác cũng rất quan trọng: ai cũng biết người bạn thân nhất của Xuân Diệu là Huy Cận. Chúng ta không thể không thắc mắc: nếu Xuân Diệu là người đồng tính luyến ái, vậy thì Huy Cận là người như thế nào?
Chúng ta nên biết là Huy Cận có hai đời vợ, mà người vợ trước không ai khác hơn là chính em gái ruột của Xuân Diệu. Tuy nhiên, cái chuyện Huy Cận có vợ, một hay hai đời vợ cũng vậy, không có ảnh hưởng gì đến cái kết luận có thể có: ông cũng là một người đồng tính luyến ái, hoặc ít nhất là lưỡng tính luyến ái (bisexual).
Một điều nữa chúng ta cũng cần biết là suốt đời, lúc nào Xuân Diệu và Huy Cận cũng ở bên nhau, như hình với bóng. Từ giữa thập niên 30, họ đã chơi thân với nhau, khi cả hai còn là học sinh trung học. Lúc nào họ cũng cặp kè bên nhau. Trừ khoảng thời gian Xuân Diệu phải đi làm việc ở Mỹ Tho, họ sống chung với nhau một nhà. Có thời gian, từ năm 1939 đến 1940, Xuân Diệu và Huy Cận sống tại số 40 phố Hàng Than, Hà Nội. Hai người sống trên gác, phía dưới là vợ chồng nhà thơ Lưu Trọng Lư. Rồi đến thời kháng chiến chống Pháp, họ cũng quanh quẩn với nhau ở chiến khu Việt Bắc. Sau năm 1954, họ sống với nhau trong căn nhà ở số 24 Cột Cờ, sau đó đổi thành đường Điện Biên Phủ ở Hà Nội. Huy Cận và vợ con ở trên gác, Xuân Diệu sống phía dưới. Trong một bài thơ, Huy Cận tả:
Đêm đêm trên gác chong đènCận ngồi cặm cụi viết dòng thơ bayDưới nhà bút chẳng ngừng tayBên bàn Diệu cũng miệt mài trang thơBạn từ lúc tuổi còn thơHai ta hạt chín chung mùa nắng trongÁnh đèn trên gác, dưới phòngCũng là đôi kén nằm trong kén trờiSáng ra gõ cửa: “Diệu ơi,Nghe dùm thơ viết đêm rồi xem sao”.Diệu còn ngái ngủ: “Đọc mau!Nghe rồi, xem lại từng câu mới tường”.Dưới nhà trên gác thông thươngDòng thơ không dứt giữa luồng tháng năm…
Trong bài thơ, Huy Cận dùng chữ ‘hai ta’, ‘Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong’. Người Việt Nam không ai dùng chữ ‘hai ta’ hay ‘đôi ta’ để chỉ hai người bạn cùng phái. Cách xưng hô như vậy rất lạ. Trong bài Nửa thế kỷ tình bạn in trong tập Xuân Diệu, con người và tác phẩm xuất bản tại Hà Nội năm 1987, Huy Cận kể tỉ mỉ hơn về mối quan hệ giữa ‘hai ta’ đó như sau:
Tựu trường năm 1936, chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên ở trường tú tài Khải Định, Huế. Anh Diệu học năm thứ ba, tôi vào học năm thứ nhất. Hai đứa đọc thơ cho nhau nghe, và ‘đồng thanh tương ứng’, kết bạn với nhau gần như tức khắc… Tựu trường 1937, anh Diệu ra Hà Nội học trường Luật và viết báo Ngày nay, tôi học năm thứ hai ban tú tài… Anh Diệu và tôi viết thư cho nhau hàng tuần… Năm 1938, tôi ra sống với Diệu ở chân đê Yên Phụ. Ở đó Diệu viết Truyện cái giường, một số bài thơ, còn tôi thì viết Buồn đêm mưa, Trông lên, Đi giữa đường thơm và mấy bài khác… Tựu trường năm 1939,… hai chúng tôi cùng sống ở gác 40 phố Hàng Than, Hà Nội… Cuối năm 1940, Diệu đi làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho… Chúng tôi tạm sống xa nhau, buồn đứt ruột, hàng tuần viết thư cho nhau, có tuần hai, ba lá thư… Hè 1942, tôi đậu kỹ sư canh nông và cuối năm bắt đầu đi làm ở Sở nghiên cứu tầm tang. Diệu điện hỏi tôi: ‘Diệu từ chức được chưa?’, tôi điện trả lời: ‘Từ chức ngay! Về ngay Hà Nội!’. Chúng tôi sống trên gác Hàng Bông (số nhà 61), tiếp tục làm thơ.
Năm 1942, khi Huy Cận đỗ kỹ sư, làm việc ở Sở nghiên cứu tằm tang, Xuân Diệu điện ra hỏi: “Diệu từ chức được chưa?”, Huy Cận trả lời: “Từ chức ngay! Về Hà Nội ngay”. Từ đó, đôi bạn ở 61 phố Hàng Bông.
Xuân Diệu và Huy Cận sống với nhau, gắn bó với nhau đến nỗi nhà xuất bản họ lập ra hồi đó cũng mang tên là Huy-Xuân, tức là ghép hai chữ đầu của tên hai người lại với nhau, như tên của một tình nhân hay một cặp vợ chồng trẻ. Rồi trong bài Mai sau, Huy Cận lại giới thiệu Xuân Diệu như người bạn thân thiết, hay đúng hơn, như một tình nhân thân thiết của mình:
Người ta bảo bà mẹ chàng hay khócChia gia tài cho con quí: lệ đauChàng là con một bà mẹ hay sầuNên trọn kiếp mắt chàng thường đẫm lệ
[…]
Chiều nay đây nửa thế kỷ hai mươiViết dăm câu tôi gửi lại vài ngườiNhững thế hệ mai sau, làm bè bạnHỡi ai đó, có nhớ lòng Huy CậnGọi gió trăng mà thỏ thẻ lời trênRất thương yêu, xin nhớ gọi giùm tênRất an ủi của bạn chàng: Xuân Diệu.
Bài thơ trên đã công khai bày tỏ tình cảm của Huy Cận đối với Xuân Diệu. Ngoài ra, bài Vạn lý tình rất nổi tiếng của Huy Cận cũng hé lộ một số chi tiết rất đáng chú ý:
Người ở bên này, ta ở đâyChờ mong phương nọ, ngóng phương nàyTương tư đôi chốn, tình ngàn dặmVạn lý sầu lên núi tiếp mâyNắng đã xế về bên xứ bạnChiều mưa trên bãi, nước sông đầyTrông vời bốn phía không nguôi nhớDơi động hoàng hôn thấp thoáng bayCơn gió hiu hiu buồn tiễn biệtXa nhau chỉ biết nhớ vơi ngàyChiếu chăn không ấm người nằm mộtThương bạn chiều ôm, sầu gối tay.
Chi tiết đáng chú ý nhất chính là chữ ‘bạn’ được lặp lại hai lần trong bài thơ, trong câu ‘Nắng đã xế về bên xứ bạn’ và câu ‘Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay’. ‘Bạn’ chứ không phải là người yêu. Chúng ta nhớ lại sự kiện khi Xuân Diệu phải đi làm việc ở Mỹ Tho, Huy Cận sống ở Hà Nội, và lời kể của Huy Cận: “Hai đứa phải sống xa nhau, buồn đứt ruột.” Một chi tiết khác quan trọng không kém, đó là câu ‘Chiếu chăn không ấm người nằm một’. Lúc này Huy Cận còn là học trò, chưa lập gia đình, chưa có vợ con. Người nằm chung chăn, chung chiếu với ông không phải là vợ ông, mà chính là người bạn trai của ông. Điều này sẽ rõ hơn, thuyết phục hơn, khi chúng ta đọc thêm bài Ngủ chung cũng của Huy Cận, in trong tập Lửa thiêng, xuất bản năm 1940:
Ôi rét đêm nay mấy học tròNgủ chung giường hẹp, trốn bơ vơCô hồn vạn thuở buồn đơn chiếcCó lẽ đêm nay cũng ngủ nhờ.Lạnh lùng biết mấy tấm thân xương!Ân ái xưa kia kiếp ngủ giường.Đâu nữa tay choàng làm gối ấm,Còn đâu đôi lứa chuyện canh sươngTrốn tránh bơ vơ, chạy ngủ lang,Hồn ơi! có nhớ giấc trần gianNệm là hơi thở, da: chăn ấm,Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn?
Bài thơ tả cảnh ngủ chung của học trò cùng phái tính, giữa những người bạn trai với nhau. Ở Việt Nam, đó là chuyện bình thường. Nhưng chúng ta hãy để ý kỹ: cả ngôn ngữ lẫn cảm xúc trong bài thơ này lại thấp thoáng những dấu hiệu không bình thường, chẳng hạn như chuyện ‘ân ái’: ‘Ân ái xưa kia kiếp ngủ giường’; rồi ‘đôi lứa’: ‘Còn đâu đôi lứa chuyện canh sương’, Rồi chuyện ‘nệm là hơi thở’, ‘da là chăn ấm’, rồi chuyện ‘xương cọ vào xương’, v.v… Đọc kỹ bài thơ, chúng ta thấy ngay tính chất không bình thường của nó. Có lẽ, cùng với bài Tình trai và bài Em đi của Xuân Diệu, bài Ngủ chung này của Huy Cận là những bài thơ tiêu biểu nhất cho chuyện đồng tính luyến ái trong thơ Việt Nam.
Theo Minh Nguyệt
(Có chỉnh sửa và thêm trích đoạn)

Bài Em đi là một bài thơ khá đặc biệt, chưa hề có trong bộ “Toàn tập Xuân Diệu” (6 tập, Nhà xuất bản Văn học, 2001).
Xuân Diệu viết Em đi xong từ đêm ngày 11 tháng 7 năm 1965, lúc 23 giờ 30 phút. Bài thơ gồm 24 câu, được chia làm sáu khổ. Đọc những câu thơ sau đây, ai cũng tin rằng “em” trong bài thơ là một người phụ nữ xinh đẹp mà nhà thơ yêu tha thiết.
Ôi Cát! Hôm vừa tiễn ở gaChưa chi ta đã phải chia xa!Nụ cười em nở, tay em vẫyÔi mặt em thương như đoá hoa.
Nhưng “Cát” ở đây là Hoàng Cát.
Bài Em đi được Xuân Diệu viết tặng khi Hoàng Cát nhập ngũ, cùng một đơn vị bộ đội hành quân vào chiến trường miền Nam… Suốt 24 năm, nó nằm trong sổ tay của Hoàng Cát như một kỷ niệm riêng.
Cho tới trước Tết Kỷ Tỵ (1989) vợ Hoàng Cát ốm nặng, phải nằm bệnh viện, mà nhà anh nghèo quá, chẳng có tiền thuốc thang; một người bạn văn của Hoàng Cát ở báo Nhân dân đến thăm, thấy hoàn cảnh ái ngại mới gợi ý cho Hoàng Cát gửi một bài thơ mới, anh sẽ giúp đăng để có chút nhuận bút. Hoàng Cát nói đại ý: Lâu rồi mình chưa viết được bài nào tâm đắc, nhưng có một bài thơ của Xuân Diệu tặng riêng mình đã lâu, đọc cảm động lắm, có thể công bố được…
Hoàng Cát kể lại sau khi bài thơ được báo Nhân dân đăng trên số Tết, anh mừng lắm, vội đến lấy nhuận bút. Trong danh sách có ghi rõ số tiền của Em đi được trả là 8 đồng. (Khi tôi công bố bài viết này lên facebook, bạn đọc Pham Minh Tri nói có thể Hoàng Cát nhớ sai, chắc chắn số tiền lớn hơn thể? – ĐVH). Nhưng… đã có người đến trước ký nhận số tiền ấy rồi. Hoàng Cát buồn lắm, anh tìm đến số nhà 24 Cột Cờ, than phiền với Hà Vũ (con trai của nhà thơ Huy Cận). Vũ bảo: “Thôi chú đừng buồn làm gì. Cháu xin bù lại và biếu chú thêm chút ít để chữa bệnh cho cô”. Và Vũ rút tiền ra, đưa cho Hoàng Cát tới 20 đồng!…
Nhưng khi tôi điện thoại cho Hà Vũ để hỏi lại những chi tiết nêu trên, thì anh ngớ ra, chẳng nhớ gì cả. Và Vũ cho biết: Hiện di cảo thơ của Xuân Diệu có trong tay anh còn khoảng 500 bài chưa được công bố.
Tôi hỏi nhà thơ Hoàng Cát:
– Ngoài Em đi, còn có bài nào Xuân Diệu viết cho riêng anh nữa không?
– Có một bài thơ tình đã công bố lâu rồi, rất nổi tiếng. Đó là bài Biển, sáng tác năm 1961. Nói ra có thể nhiều người không tin: Tôi chính là “đối tượng” và là “nguồn cảm hứng” cho Xuân Diệu viết bài thơ nổi tiếng ấy.
Để minh chứng cho điều mình nói, Hoàng Cát đã lục tìm trong tủ sách của mình và lôi ra một “vật báu”. Đó là một cuốn sổ tay đã ố vàng có những dòng bút tích “Tặng em Hoàng Cát của anh” và chữ ký của Xuân Diệu. Bài thơ Biển được chép kín hai trang…
Tôi không khỏi bàng hoàng, sửng sốt: Trời ơi! Chẳng lẽ là Biển – bài thơ tình hay vào loại bậc nhất của thi sĩ Xuân Diệu – mà cũng là… “tình trai” ư?
Và tôi chợt hiểu, khi Tô Hoài viết: “Ai yêu thơ Xuân Diệu, hiểu được thơ tình não nùng của Xuân Diệu, tình trai và tình gái không không phân biệt trai gái, phải thấu nỗi niềm và duyên nợ của nhà thơ, suốt đời nhớ thương và chờ đợi. Không bao giờ sầu não thất vọng, không bao giờ già, mãi mãi ban đầu…”
Thì ra, nhà văn Tô Hoài cũng đã nói hết cả rồi!
Trích từ Đặng Vương Hưng
Anh không xứng là biển xanhNhưng anh muốn em là bờ cát trắngBờ cát dài phẳng lặngSoi ánh nắng pha lê…
Bờ đẹp đẽ cát vàng– Thoai thoải hàng thông đứngNhư lặng lẽ mơ màngSuốt ngàn năm bên sóng…
Anh xin làm sóng biếcHôn mãi cát vàng emHôn thật khẽ, thật êmHôn êm đềm mãi mãi
Đã hôn rồi, hôn lạiCho đến mãi muôn đờiĐến tan cả đất trờiAnh mới thôi dào dạt…
Cũng có khi ào ạtNhư nghiến nát bờ emLà lúc triều yêu mếnNgập bến của ngày đêm
Anh không xứng là biển xanhNhưng cũng xin làm bể biếcĐể hát mãi bên gànhMột tình chung không hết
Để những khi bọt tung trắng xoáVà gió về bay toả nơi nơiNhư hôn mãi ngàn năm không thoả,Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!
4-4-1962

P/S: Bài post được sưu tầm và sửa vài chi tiết nhỏ (đã có credit dẫn link).
P/S 2: Tôi đã từng đọc Cát bụi chân ai ở đâu đó một thời gian khá lâu rồi. Hôm nay mò lên facebook thấy có page post bài mới nhớ đến là mình từng đọc. Thành ra mò lên blog lưu mấy bài sưu tầm để lúc cần ngẫm lại sẽ dễ dàng hơn.
Share this:
- X
Từ khóa » Tác Phẩm Cát Bụi Chân Ai Cảnh H
-
Đơn Giản Vì Tớ Là GAY - Cảnh H Trong "Cát Bụi Chân Ai" Của Tô Hoài ...
-
Cảnh H Trong "Cát Bụi Chân Ai"... - Đơn Giản Vì Tớ Là GAY | Facebook
-
Tiểu Thuyết Cát Bụi Chân Ai (Chương 3) - Tác Giả Tô Hoài
-
Đọc Truyện [Hoàn] Cát Bụi Chân Ai - Tô Hoài - "Những Mối Tình Trai"
-
Truyện [Hoàn] Cát Bụi Chân Ai - Tô Hoài - MaryLeo0105 - ZingTruyen
-
Chuyện Giới Tính Xuân Diệu Qua Hồi Ký Của Tô Hoài
-
XUÂN DIỆU & TÔ HOÀI: VÀ “MỐI TÌNH TRAI” (2004) - Ccihp
-
Chương 3: Chương I I (tiếp), Cát Bụi Chân Ai, Tác Giả Tô Hoài - Kilopad
-
Cát Bụi Chân Ai - Tô Hoài ~ Chương 1 # Mobile
-
Cát Bụi Chân Ai - Tô Hoài ~ Chương 2 # Mobile
-
Https:///gocchung/html/m
-
Cát Bụi Chân Ai -1992 - Hồi Ký - Tác Giả Tô Hoài - YouTube