Zambia – Wikipedia Tiếng Việt

Cộng hòa Zambia
Tên bản ngữ
  • Tên gọi trong các ngôn ngữ quốc gia
    • Tiếng Bemba:Icalo ca Zambia
      Tiếng Tonga:Cisi ca Zambia
      Tiếng Tumbuka:Chalo cha Zambia
      Tiếng Lozi:Naha ya Zambia
      Tiếng Chewa:Dziko la Zambia
Quốc kỳ Zambia Quốc kỳ Quốc huy Zambia Quốc huy
Tiêu ngữ: "Một Zambia, Một Dân tộc"
Quốc ca: "Stand and Sing of Zambia, Proud and Free"
Public Seal
Bản đồ thế giớiBản đồ châu Phi
Tổng quan
Thủ đôvà thành phố lớn nhấtLusaka15°25′N 28°17′Đ / 15,417°N 28,283°Đ / -15.417; 28.283
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Anh
• Ngôn ngữ địa phương Danh sách
  • 28,5% tiếng Bemba
  • 13,8% tiếng Nyanja
  • 11,4% tiếng Tonga
  • 10,6% tiếng Tumbuka
  • 5,5% tiếng Lozi
  • 4,5% tiếng Chewa
  • 3,0% tiếng Nsenga
  • 1,9% tiếng Lunda
  • 1,9% tiếng Kaonde
  • 1,8% tiếng Lala
  • 1,8% tiếng Lamba
  • 1,7% tiếng Anh
  • 1,5% tiếng Luvale
  • 1,3% tiếng Mambwe
  • 1,2% tiếng Lenje
  • 1,2% tiếng Namwanga
  • 1,0% tiếng Bisa
  • 0,9% tiếng Ushi
  • 0,7% tiếng Ila
  • 0,7% tiếng Mbunda
  • 0,7% tiếng Ngoni
  • 0,7% tiếng Senga
  • 0,6% tiếng Lungu
  • 0,5% tiếng Toka-Leya
  • 4,7% ngôn ngữ khác
Sắc tộc (2010[1]) Danh sách
  • 19,0% người Bemba
  • 13,6% người Tonga
  • 7,5% người Tumbuka
  • 6,0% người Chewa
  • 5,7% người Lozi
  • 5,3% người Nsenga
  • 3,0% người Ngoni
  • 3,1% người Lala
  • 3,9% người Kaonde
  • 2,8% người Namwanga
  • 2,6% người Lunda (Bắc)
  • 2,5% người Mambwe
  • 2,2% người Luvale
  • 2,4% người Lamba
  • 1,9% người Ushi
  • 1,6% người Bisa
  • 1,6% người Lenje
  • 1,2% người Mbunda
  • 0,9% người Lunda (Luapula)
  • 0,9% người Senga
  • 0,8% người Ila
  • 0,8% người Lungu
  • 0,7% người Tabwa
  • 0,7% người Soli
  • 0,7% người Kunda
  • 0,6% người Ngumbo
  • 0,5% người Chishinga
  • 0,5% người Chokwe
  • 0,5% người Nkoya
  • 5,4% dân tộc khác
  • 0,8% chủng tộc khác[a]
  • 0,4% không phân loại
Tôn giáo (2023)[2][3]
  • 95,5% Kitô giáo (quốc giáo)
  • 2,7% Hồi giáo
  • 1,8% tôn giáo khác / không tôn giáo
Tên dân cưNgười Zambia
Chính trị
Chính phủCộng hòa tổng thống chế đơn nhất
• Tổng thống Hakainde Hichilema
• Phó Tổng thống Mutale Nalumango
• Chủ tịch Quốc hội Nelly Mutti
• Chánh án Mumba Malila
Lập phápQuốc hội Zambia
Lịch sử
Độc lập từ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
• Tuyên bố độc lập 24 tháng 10 năm 1964
Địa lý
Diện tích 
• Tổng cộng752,617 km2[5] (hạng 38)290,587 mi2
• Mặt nước (%)1
Dân số 
• Ước lượng 202320,216,029[4] (hạng 64)
• Mật độ17.2/km2 (hạng 191)44,5/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2023
• Tổng sốTăng 83,687 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 100)
• Bình quân đầu ngườiTăng 4.068 đô la Mỹ[6] (hạng 155)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2023
• Tổng sốGiảm 29,536 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 113)
• Bình quân đầu ngườiGiảm 1.435 đô la Mỹ[6] (hạng 159)
Đơn vị tiền tệKwacha Zambia (ZMW)
Thông tin khác
Gini? (2022)Giảm theo hướng tích cực 51.5[7]cao
HDI? (2023)Tăng 0.595[8]trung bình · hạng 154
Múi giờUTC+2 (CAT)
Cách ghi ngày thángdd/mm/yyyy
Giao thông bêntrái
Mã điện thoại+260
Mã ISO 3166ZM
Tên miền Internet.zm

Zambia,[b] quốc hiệu là Cộng hòa Zambia,[c] là một quốc gia nội lục nằm ở miền Nam châu Phi. Zambia giáp Cộng hòa Dân chủ Congo ở phía bắc, Tanzania ở đông bắc, Malawi ở phía đông, Mozambique, Zimbabwe, Botswana, Namibia ở phía nam và Angola ở phía tây. Thủ đô và thành phố lớn nhất của Zambia là Lusaka. Hầu hết dân số Zambia đều tập trung ở Lusaka và Vành Đồng ở đông bắc.

Ban đầu là nơi sinh sống của các dân tộc Khoisan, khu vực này đã bị ảnh hưởng bởi sự mở rộng của người Bantu vào thế kỷ thứ mười ba. Theo chân các nhà thám hiểm châu Âu vào thế kỷ thứ mười tám, người Anh đã đô hộ khu vực này thành các khu bảo hộ của Anh gồm Barotziland-Rhodesia Tây Bắc và Rhodesia Đông Bắc vào cuối thế kỷ 19. Các khu vực này được hợp nhất vào năm 1911 để tạo thành Bắc Rhodesia. Trong phần lớn thời kỳ thuộc địa, Zambia được quản lý bởi một chính quyền được bổ nhiệm từ London với sự cố vấn của Công ty Nam Phi của Anh.

Vào ngày 24 tháng 10 năm 1964, Zambia độc lập khỏi Vương quốc Anh và thủ tướng Kenneth Kaunda trở thành tổng thống nhậm chức.

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ Zambia từng được gọi là Bắc Rhodesia từ năm 1911 đến năm 1964. Đất nước đổi tên thành Zambia vào tháng 10 năm 1964 khi trở thành nước độc lập. Tên gọi Zambia bắt nguồn từ Sông Zambezi (Zambezi có thể có nghĩa là "sông lớn").[9]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Lịch sử Zambia

Phần lãnh thổ tạo thành Zambia ngày nay là vùng định cư của người Pygmy và người Bantu, bị phân chia thành những địa hạt tù trưởng cho đến khi người châu Âu đặt chân đến đây.

Từ thế kỷ 15, người Balunda thành lập quốc gia Lunda hùng mạnh bao gồm lãnh thổ Angola, Congo, Zambia và một phần Cộng hoà Dân chủ Congo ngày nay. Cuối thế kỷ 18, quốc gia Lunda bị suy yếu do sự thâm nhập các thương gia buôn bán nô lệ, quyền lực của quốc vương Lunda giảm sút nên một loạt các vương quốc nhỏ đã hình thành. Khoảng năm 1835, người Sotho lập một vương quốc riêng. Sau các cuộc thám hiểm của David Livingstone (1853-1873) và việc khám phá ra các mỏ vàng ở đây. Đến năm 1889, Cecil Rhodes, nhà triệu phú người Anh được Hoàng gia Anh trao quyền buôn bán và khai thác mỏ vùng lãnh thổ thuộc Zambia, Zimbabwe, Malawi ngày nay. Đầu thế kỷ 20, Cecil Rhodes ký một hiệp ước với quốc vương người Sotho và lập thuộc riêng với tên là Rhodesia Bắc. Năm 1924, Vương quốc Anh kiểm soát vùng Rhodesia Bắc (Zambia), Rhodesia Nam (Zimbabwe) và Nyasaland (Malawi) giao cho toàn quyền Anh cai trị.

Năm 1937 tại các khu mỏ có gần 4 vạn lao động người Phi làm việc, công nhân đã thành lập công đoàn và đây là tổ chức tiền thân của Đại hội dân tộc Phi Rhodesia Bắc (NRANC). Năm 1952, nhà giáo Kenneth Kaunda trở thành Tổng thư ký NRANC. Năm 1953, do bất đồng nội bộ, ông Kenneth Kaunda tách ra lập Đại hội dân tộc Phi Zambia (ANCZ) chủ trương đấu tranh giành độc lập. Cũng trong năm 1953, Anh thành 1ập Liên bang Trung Phi gồm Bắc, Nam Rhodesia và vùng Nyassaland. Năm 1959, Đại hội dân tộc Phi (ANCZ) bị cấm hoạt động và ông Kenneth Kaunda bị vào tù. Năm 1960, ông Kenneth Kaunda được trả tự do và đã phối hợp với những người cộng sự thành lập Đảng Độc lập Dân tộc thống nhất (UNIP) do ông làm Chủ tịch. Năm 1963, chính phủ Anh buộc phải chấp nhận yêu sách của các phong trào độc lập dân tộc, giải tán Liên bang Trung Phi (gồm Rhodesia Bắc, Rhodesia Nam và Nyasaland).

Tháng 10 năm 1964, Đảng Độc lập Dân tộc thống nhất (UNIP) giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử, ông Kenneth Kaunda lên làm Tổng thống, tuyên bố Rhodesia Bắc độc lập, lấy tên là nước Cộng hoà Zambia ngày 24 tháng 10 năm 1964. Từ năm 1972, Kaunda thiết lập thể chế độc đảng. Làn sóng phản đối chế độ ngày càng gia tăng buộc Tổng thống Kenneth Kaunda chấp nhận thể chế đa đảng từ năm 1990.

Năm 1991, cựu Chủ tịch Liên hiệp các nghiệp đoàn Zambia, Frederick Chiluba đắc cử Tổng thống. Trước tình hình khủng hoảng kinh tế, Chiluba đã ban hành chính sách khắc khổ.

Điều này đã gây nên nhiều cuộc nổi dậy. Tuy nhiên, Chiluba vẫn tái đắc cử năm 1996. Trục đường sắt nối liền Lusaka với Dar es-Salaam (Tanzania) được Trung Quốc giúp đỡ và hoàn thành năm 1975. Trục lộ này giúp cho việc lưu thông từ Zambia ra vùng Ấn Độ Dương mà không phải băng ngang qua Zimbabwe.

Tháng 1 năm 2002, tại Zambia đã tiến hành bầu cử Quốc hội và Tổng thống với 11 ứng cử viên vào chức vụ Tổng thống. Ông Levy Mwanawasa, ứng cử viên của Phong trào dân chủ đa đảng MMD-Đảng cầm quyền - trở thành Tổng thống kế nhiệm ông F. Chiluba. Do cái chết bất ngờ của ông Mwanawasa, Zambia đã tiến hành bầu cử sớm vào tháng 10 năm 2008 và ông Banda đã trúng cử với hơn 40% số phiếu bầu. Tình hình Zambia hiện nay nói chung ổn định.

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Địa lý Zambia Xem thêm: Danh sách thành phố và thị trấn Zambia

Zambia nằm ở khu vực Nam Phi, Bắc giáp Cộng hòa Dân chủ Congo, đông bắc giáp Tanzania, Đông giáp Malawi, Đông Nam giáp Mozambique, Nam giáp Zimbabwe và Namibia, Tây giáp Angola. Phần lớn lãnh thổ là cao nguyên tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 900-1.500 m, bị cắt ngang bởi các vùng lưu vực sông Zambezi, sông Luangwa và sông Kafue. Ở phía đông, dãy Muchinga (l.840 m) tạo nên phần chủ yếu của địa hình.

Bản đồ phân loại khí hậu Köppen của Zambia

Khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Chính trị Zambia

Zambia là một nước cộng hòa tổng thống chế theo hệ thống đa đảng. Tổng thống Zambia là nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ. Chính phủ thực hiện quyền hành pháp. Quốc hội là cơ quan lập pháp đơn viện.

Cơ quan tư pháp là Tòa án Tối cao, các thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm.

Hiện nay ở Zambia có các chính đảng:

  • Phong trào Dân chủ đa đảng (MMD) Đảng cầm quyền
  • Đảng thống nhất vì sự phát triển quốc gia (UPND) United Party for National Development
  • Đảng Phong trào Dân chủ đa đảng (MMD) Movement for Multiparty Democracy
  • Đảng độc lập Dân tộc thống nhất (UNIP) Đảng đối lập
  • Đảng đa chủng tộc (MRP)
  • Liên minh Dân chủ quốc gia (NADA)

Đối ngoại

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ trước đến nay, Zambia luôn theo đuổi chính sách không liên kết, dân tộc chủ nghĩa, cân bằng quan hệ với các nước lớn, kiên quyết chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc nhưng chủ trương dùng biện pháp hoà bình đối thoại. Zambia là thành viên của Liên minh châu Phi (AU-trước đây là OUA), Liên Hợp Quốc, Phong trào không liên kết, Cộng đồng Phát triển miền Nam châu Phi (SADC), Khối thịnh vượng chung Anh, WTO, IMF, G15...

Zambia tích cực tham gia tìm giải pháp về vấn đề nợ nước ngoài, hợp tác kinh tế, xung đột khu vực... đặc biệt Zambia đã làm trung gian đưa đến ký kết Nghị định thư Lusaka (tháng 11 năm 1994) giữa Chính phủ Angola và UNITA. Zambia ủng hộ thành lập lực lượng gìn giữ hoà bình ở châu Phi cũng như xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Chính sách đối ngoại của Zambia là tăng cường hợp tác với các nước, trước hết là các nước châu Phi trong Cộng đồng phát triển miền Nam châu Phi (SADC), đẩy mạnh hợp tác với EU, Canada, Mỹ, chú trọng quan hệ với các nước châu Á trong đó có Trung Quốc, Việt Nam.

Nhân quyền

[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động tình dục đồng tính bị cấm tại Zambia.[10][11] Một cuộc khảo sát năm 2010 cho thấy chỉ 2% dân số Zambia chấp nhận đồng tính luyến ái.[12]

Phân cấp hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt hành chính, Zambia được chia thành mười tỉnh, các tỉnh được chia thành 117 quận, các quận được chia thành 1.281 phường và 156 đơn vị bầu cử. Các tỉnh của Zambia bao gồm:

  1. Tỉnh Trung Bộ
  2. Copperbelt
  3. Tỉnh Đông Bộ
  4. Luapula
  5. Lusaka
  6. Muchinga
  7. Tỉnh Tây Bắc Bộ
  8. Tỉnh Bắc Bộ
  9. Tỉnh Nam Bộ
  10. Tỉnh Tây Bộ

Kinh tế

[sửa | sửa mã nguồn]
Chợ Chisokone ở Kitwe.
Mỏ đồng Nkana, mỏ đồng lớn nhất Zambia.
Bài chi tiết: Kinh tế Zambia

Zambia là nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp khai khoáng không đáng kể mặc dầu có nhiều tài nguyên thiên nhiên.

Nông nghiệp có hiệu suất thấp: ngành chăn nuôi bò trên các đồng cỏ, các loại cây lương thực (ngô, sắn, khoai lang, cây hướng dương, lúa miến) chỉ chiếm 7% diện tích đất đai. Thuốc lá là mặt hàng nông sản xuất khẩu duy nhất.

Sản xuất năng lượng thủy điện dồi dào (đập Kariba trên sông Zambezi), xuất khẩu một phần sang Zimbabwe. Ngành công nghiệp khai thác mỏ (đồng, một vài kim loại hiếm, coban, kẽm) phát triển ở vành đai Copper Belt ở Bắc.

Kinh tế đất nước lâm vào tình trạng suy thoái cho đến năm 1999. Tình hình kinh tế được khôi phục với mức tăng trưởng đạt gần 4.7%, nhưng nạn lạm phát gia tăng mạnh, khoảng 50% lực lượng lao động thất nghiệp trong năm 2001.

Zambia có nhiều tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt đồng (trữ lượng 1 tỉ tấn, chiếm 90% thu nhập ngoại tệ xuất khẩu). Zambia có còn có kẽm, coban, vàng, uranium, chì v.v... Những năm 1980, giá đồng trên thị trường giảm nên đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Zambia không có đường ra biển nên có khó khăn trong xuất nhập khẩu hàng hóa. Công nghiệp khai khoáng và du lịch Zambia khá phát triển; trong nông nghiệp ngành chăn nuôi gia súc, trồng bông, rau quả tương đối phát triển, tuy nhiên hiện nay Zambia còn phải nhập khẩu máy móc, dầu khí và lương thực, nhất là gạo. Zambia nhập hàng của Nam Phi (47,3%), UAE (10,4%), Zimbabwe 5,7%, Na Uy (4%) (năm 2006).

  • GDP chính thức: 12,44 tỷ USD (2009)
  • GDP bình quân: 1.050 USD (2009)
  • Tăng trưởng 6,2% (2009)
  • Nhập khẩu 4,138 tỷ USD (2009)
  • Xuất khẩu 4,388 tỷ USD (2009)
  • Nợ nước ngoài 3,313 tỷ USD (2009)

Trước đây, Zambia xây dựng nền kinh tế theo mô hình tập trung, kế hoạch hoá, chú trọng công nghiệp. Nền nông nghiệp bị trì trệ, các ngành chăn nuôi, trồng trọt không phát triển. Sau khi giá đồng nội tệ giảm, thu nhập sút kém, kinh tế lâm vào khó khăn, khủng hoảng. Từ năm 1990, WB và IMF đã thúc ép Zambia cải cách cơ cấu kinh tế, tư nhân hoá các cơ sở kinh tế, chú trọng phát triển nông nghiệp. Năm 2005, IMF và WB đã xoá 502 triệu USD trong tổng số gần 7.2 tỉ USD tiền nợ của Zambia.

Tháng 10 năm 1991, Tổng thống Chiluba thực hiện nền kinh tế thị trường, tư nhân hoá các nhà máy, xí nghiệp, xoá bỏ các mô hình Hợp Tác Xã nông nghiệp trước đây, tranh thủ vốn, đầu tư, kỹ thuật của các nước Phương Tây, WB, IMF để khôi phục kinh tế. Zambia đã tư nhân hoá 130 xí nghiệp quốc doanh, thông qua Luật đầu tư và Luật bảo hộ đầu tư rất thông thoáng nên thu hút được vốn đầu tư từ nhiều nước đồng thời tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân góp phần quan trọng vào quá trình khôi phục và phát triển kinh tế.

Từ năm 2000, Zambia được Mỹ đưa vào danh sách các nước được hưởng ưu đãi từ Đạo luật Cơ hội và Tăng trưởng châu Phi (AGOA). Theo đó, nhiều mặt hàng của Zambia, đặc biệt là hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ được hưởng mức thuế ưu đãi ở mức 0%.

Năm 2008, tổng sản phẩm quốc nội của Zambia đạt 15,23 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng 6,2% so với năm 2007. Và GDP bình quân đầu người đạt 1301 USD/người/năm. Tỷ lệ lạm phát được kiềm chế ở mức 11,8%. Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao là khoảng 50%.

Về ngoại thương, năm 2008, Zambia xuất khẩu 5,63 tỷ USD hàng hoá trong đó các sản phẩm xuất khẩu chính là đồng/côban (64%), côban, điện, sợi thuốc lá, hoa, bông. Các đối tác xuất khẩu là Tanzania (14,1%), Nam Phi (13,2%), Trung Quốc (9,1%), Nhật Bản (7,9%), Thái Lan (7,9%), Thụy Sĩ (7,3%), Bỉ (6,7%), Malaysia (4%).

Năm 2008, Zambia nhập khẩu khoảng 4,42 tỷ USD các loại hàng hoá như máy móc, thiết bị vận tải, sản phẩm dầu, điện, phân bón, thực phẩm, dệt may. Các đối tác mà Zambia chủ yếu nhập khẩu hàng hoá là: Nam Phi (50,3%), Zimbabwe (13,2%), Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (5,3%).

Nhân khẩu

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Nhân khẩu ZambiaLịch sử dân số
NămSố dân±%
1911821.536—    
1921983.835+19.8%
19311.344.447+36.7%
19461.683.828+25.2%
19511.930.842+14.7%
19562.172.304+12.5%
19633.490.540+60.7%
NămSố dân±%
19694.056.995+16.2%
19805.661.801+39.6%
19907.383.097+30.4%
20009.885.591+33.9%
201013.092.666+32.4%
202219.610.769+49.8%
Ghi chú: In censuses carried out during the British colonial administration prior to 1963, the black African population was estimated rather than counted.Nguồn: Văn phòng Thống kê Trung ương, Zambia

Theo kết quả điều tra dân số năm 2022, dân số của Zambia là 19.610.769 người.[13]

Đô thị

[sửa | sửa mã nguồn]
 
  • x
  • t
  • s
20 thành phố hoặc thị xã lớn nhất tại ZambiaTheo kết quả điều tra dân số năm 2010[1]
Hạng Tên Tỉnh Dân số Hạng Tên Tỉnh Dân số
1 Lusaka Lusaka 1,747,152 11 Solwezi North-Western 90,856
2 Kitwe Copperbelt 501,360 12 Mansa Luapula 78,153
3 Ndola Copperbelt 451,246 13 Chililabombwe Copperbelt 77,818
4 Kabwe Central 202,360 14 Mazabuka Southern 71,700
5 Chingola Copperbelt 185,246 15 Kafue Lusaka 71,573
6 Mufulira Copperbelt 151,309 16 Kalulushi Copperbelt 51,863
7 Livingstone Southern 134,349 17 Choma Southern 51,842
8 Luanshya Copperbelt 130,076 18 Mongu Western 49,818
9 Chipata Eastern 116,627 19 Kapiri Mposhi Central 44,783
10 Kasama Northern 101,845 20 Nakonde Muchinga 41,836

Dân tộc

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ dân tộc, ngôn ngữ của Zambia

Zambia chính thức bao gồm ước tính 73 dân tộc,[14][15] nhưng trên thực tế một số dân tộc không có nhiều điểm khác biệt.[15] Hầu hết dân số Zambia là người nói tiếng Bantu.[14] Ba nhóm dân tộc-ngôn ngữ lớn nhất là người Bemba, người Nyanja và người Tonga; bốn nhóm nhỏ hơn là người Kaonde, người Lozi, người Luanda và người Luvale.[15] Năm 2010, 21% dân số là người Bemba, 13,6% là người Tonga, 7,4% là người Chewa, 5,7% là người Lozi, 5,3% là người Nsenga, 4,4% là người Tumbuka, 4,0% là người Ngoni, 38,6% thuộc những dân tộc khác.[14] Người Bemba là dân tộc chính tại các tỉnh Northern, Luapula và Copperbelt; người Nyanja tại các tỉnh Đông và Trung Bộ; người Tonga tại các tỉnh Nam và Tây; và người Lozi tại tỉnh Tây.[14] Dân tộc thiểu số Tumbuka tập trung tại thung lũng Sông Luangwa ở phía đông Zambia.[16] Không có dân tộc nào chiếm đa số Tỉnh Tây Bắc,[14] một tỉnh thưa dân.[15]

Ngôn ngữ

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ ngôn ngữ chính tại các tỉnh của Zambia[17]   Tiếng Bemba   Tiếng Chewa   Tiếng Lozi   Tiếng Lunda   Tiếng Nyanja   Tiếng Tonga

Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của Zambia và được sử dụng trong thương mại, giáo dục và pháp luật.[14] Tiếng Nyanja là tiếng địa phương chính, đặc biệt là ở Lusaka, sau đó là tiếng Bemba. Tại Copperbelt, tiếng Bemba là ngôn ngữ chính, tiếng Nyanja là ngôn ngữ thứ hai. Tiếng Bemba và tiếng Nyanja được sử dụng tại các khu vực thành thị. Những ngôn ngữ bản địa phổ thông tại Zambia bao gồm tiếng Lozi, tiếng Tumbuka, tiếng Kaonde, tiếng Tonga, tiếng Lunda và tiếng Luvale, được phát sóng trên chuyên mục ngôn ngữ địa phương của Đài Phát thanh Truyền hình Quốc gia Zambia.[14][18][19]

Tôn giáo

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Tôn giáo Zambia
Tôn giáo tại Zambia[20][21]
Tôn giáo Tỷ lệ
Tin Lành    75.3%
Công giáo    20.2%
Thuyết vật linh    2.5%
Chủ nghĩa vô thần    1.8%
Hồi giáo    2.7%
Thành phần tôn giáo tại Zambia

Hiến pháp Zambia quy định Kitô giáo là quốc giáo, nhưng đảm bảo quyền tự do tôn giáo.[22] Zambia là nước châu Phi duy nhất công nhận Kitô giáo là quốc giáo.[23] Cục Thống kê Zambia ước tính 95,5% dân số theo Kitô giáo, trong đó 75,3% theo Tin Lành và 20,2% theo Công giáo.[24] Kitô giáo tại Zambia mang tính nguyên hợp, thường được kết hợp với những yếu tố tín ngưỡng truyền thống.[24] Những hệ phái Tin Lành lớn nhất là Anh giáo, chủ nghĩa phúc âm và Phong trào Ngũ tuần.[24]

Anh giáo là giáo phái Tin Lành lớn nhất cả nước. Ngày nay, có ít nhất 600.000 người Anh giáo, 15 giáo xứ, 250 chi hội và khoảng 400 linh mục Anh giáo ở Zambia.

Khoảng 1% dân số là người Hồi giáo, hầu hết sống ở khu vực đô thị. Mặc dù Zambia chính thức là một nước Kitô giáo nhưng việc tự do tôn giáo được đảm bảo và người Hồi giáo nói chung được chấp nhận trong xã hội.[25] Ngoài ra còn có một cộng đồng nhỏ người Do Thái, chủ yếu là Ashkenazis. Tôn giáo Bahá'í ở Zambia có hơn 160.000 thành viên, hay 1,5% dân số.[26]

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Giáo dục Zambia và Y tế Zambia

Hiến pháp và pháp luật Zambia đảm bảo quyền giáo dục.[27][28] Tỷ lệ biết chữ tiếng Anh của Zambia là 86,7% vào năm 2018.[4]

Y tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Chăm sóc y tế khá đầy đủ. Cả nước có 12 bệnh viện lớn và hơn 60 trung tâm y tế nhỏ, phần lớn đều ở đô thị. Tại Zambia, người ta sử dụng cả y học hiện đại lẫn cổ truyền trong việc chữa trị. Những bệnh nhân không có khả năng chi trả được điều trị miễn phí. Tình trạng thiếu dinh dưỡng, mất vệ sinh và các bệnh tật do đói nghèo gây ra khá phổ biến.

Văn hóa

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Major Racial Groups include Other Africans, Americans, Asian and Europeans
  2. ^ /ˈzæmbiə, ˈzɑːm-/
  3. ^ tiếng Bemba: Icalo ca Zambia; Tonga: Cisi ca Zambia; tiếng Tumbuka: Chalo cha Zambia; tiếng Lozi: Naha ya Zambia; tiếng Chichewa: Dziko la Zambia

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Census of Population and Housing National Analytical Report 2010" (PDF). Central Statistical Office, Zambia. tr. 67. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2017.
  2. ^ "2023 Report on International Religious Freedom: Zambia". US Department Of State. US Government. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
  3. ^ "Amended Constitution of Zambia". Government of Zambia. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2016.
  4. ^ a b "Zambia". The World Factbook (ấn bản thứ 2026). Cơ quan Tình báo Trung ương.
  5. ^ United Nations Statistics Division. "Population by sex, rate of population increase, surface area and density" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2007.
  6. ^ a b c d "World Economic Outlook Database, October 2023 Edition. (Zambia)". International Monetary Fund. ngày 10 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2023.
  7. ^ "Gini Index coefficient". The World Factbook. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2024.
  8. ^ "Human Development Report 2025" (PDF) (bằng tiếng Anh). United Nations Development Programme. ngày 6 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  9. ^ Everett-Heath, John (ngày 7 tháng 12 năm 2017). The Concise Dictionary of World Place Names (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. ISBN 978-0-19-255646-2.
  10. ^ "State Sponsored Homophobia 2016: A world survey of sexual orientation laws: criminalisation, protection and recognition" (PDF). International Lesbian, Gay, Bisexual, Trans and Intersex Association. ngày 17 tháng 5 năm 2016. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  11. ^ Avery, Daniel (ngày 4 tháng 4 năm 2019). "71 Countries Where Homosexuality is Illegal". Newsweek. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019.
  12. ^ Meyer, Birgit (2021). "What Is Religion in Africa? Relational Dynamics in an Entangled World". Journal of Religion in Africa. 50 (1–2). Brill: 156–181. doi:10.1163/15700666-12340184.
  13. ^ "State Sponsored Homophobia 2016: A world survey of sexual orientation laws: criminalisation, protection and recognition" (PDF). International Lesbian, Gay, Bisexual, Trans and Intersex Association. ngày 17 tháng 5 năm 2016. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.
  14. ^ a b c d e f g "Zambia – People". Encyclopedia Britannica (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2024.
  15. ^ a b c d GROWup – Geographical Research On War, Unified Platform. "Ethnicity in Zambia". ETH Zurich. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018.
  16. ^ "Tumbuka people". Encyclopedia Britannica (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2020.
  17. ^ "Zambia - 2010 Census of Population and Housing". www.zamstats.gov.zm. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  18. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Chanda, Vincent M., and, Mkandawire, Sitwe Benson. 2013 1–173
  19. ^ "Zambia - 2010 Census of Population and Housing". www.zamstats.gov.zm. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  20. ^ "Zambia - 2010 Census of Population and Housing". Zambia Statistics Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2014.
  21. ^ "2022 Report on International Religious Freedom: Zambia". United States Department of State. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  22. ^ "Constitution of Zambia, 1991(Amended to 1996)". Scribd.com. ngày 30 tháng 6 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2012.
  23. ^ Haynes, N. (2021). "Taking Dominion in a Christian Nation: North American Political Theology in an African Context". Pneuma. 43 (2): 214–232. doi:10.1163/15700747-bja10036. hdl:20.500.11820/48b556a6-cf81-4058-bf5b-894934a35ca0.
  24. ^ a b c "Zambia". United States Department of State (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2025.
  25. ^ "Zambia". Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
  26. ^ "Adherents.com: Largest Baha'i Communities". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2001. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
  27. ^ "Laws of Zambia". National Assembly of Zambia. 1996. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2016.
  28. ^ "The Education Act (2011)". National Assembly of Zambia. 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2016.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Zambia.
  • x
  • t
  • s
Các quốc gia và lãnh thổ tại Châu Phi
Quốc gia có chủ quyền
  • Ai Cập
  • Algérie
  • Angola
  • Bénin
  • Botswana
  • Bờ Biển Ngà
  • Burkina Faso
  • Burundi
  • Cameroon
  • Cabo Verde
  • Comoros
  • Cộng hòa Dân chủ Congo
  • Cộng hòa Congo
  • Djibouti
  • Guinea Xích Đạo
  • Eritrea
  • Eswatini
  • Ethiopia
  • Gabon
  • Gambia
  • Ghana
  • Guinée
  • Guiné-Bissau
  • Kenya
  • Lesotho
  • Liberia
  • Libya
  • Madagascar
  • Malawi
  • Mali
  • Mauritanie
  • Mauritius
  • Maroc
  • Mozambique
  • Namibia
  • Cộng hòa Nam Phi
  • Nam Sudan
  • Niger
  • Nigeria
  • Rwanda
  • São Tomé và Príncipe
  • Sénégal
  • Seychelles
  • Sierra Leone
  • Somalia
  • Sudan
  • Tanzania
  • Tchad
  • Togo
  • Cộng hòa Trung Phi
  • Tunisia
  • Uganda
  • Zambia
  • Zimbabwe
Bộ phận củaquốc gia có chủ quyền
  • Bồ Đào Nha
    • Madeira
  • Pháp
    • Mayotte
    • Réunion
  • Tây Ban Nha
    • Quần đảo Canaria
    • Ceuta
    • Melilla
    • Plazas de soberanía
  • Yemen
    • Socotra
  • Ý
    • Pantelleria
Quốc gia được công nhận hạn chế
  • Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Sahrawi
  • Somaliland
Lãnh thổ phụ thuộc
  • Các đảo rải rác tại Ấn Độ Dương (Pháp)
  • Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha (Anh Quốc)
Chủ quyền không rõ
  • Tây Sahara
  • x
  • t
  • s
Khối Thịnh vượng chung Anh
Quốc gia có chủ quyền
  • Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
  • Antigua và Barbuda
  • Ấn Độ
  • Bahamas
  • Bangladesh
  • Barbados
  • Belize
  • Botswana
  • Brunei
  • Cameroon
  • Canada
  • Dominica
  • Eswatini
  • Fiji
  • Ghana
  • Grenada
  • Guyana
  • Jamaica
  • Kenya
  • Kiribati
  • Lesotho
  • Malaysia
  • Malawi
  • Maldives
  • Malta
  • Mauritius
  • Mozambique
  • Namibia
  • Nam Phi
  • Nauru
  • New Zealand
  • Nigeria
  • Pakistan
  • Papua New Guinea
  • Saint Kitts và Nevis
  • Saint Lucia
  • Saint Vincent và Grenadines
  • Samoa
  • Seychelles
  • Sierra Leone
  • Singapore
  • Síp
  • Quần đảo Solomon
  • Sri Lanka
  • Tanzania
  • Tonga
  • Trinidad và Tobago
  • Tuvalu
  • Úc
  • Uganda
  • Vanuatu
  • Zambia
Lãnh thổ phụ thuộc
Anh
  • Akrotiri và Dhekelia
  • Anguilla
  • Bermuda
  • Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Anh
  • Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh
  • Quần đảo Virgin thuộc Anh
  • Quần đảo Cayman
  • Quần đảo Falkland
  • Gibraltar
  • Guernsey
  • Đảo Man
  • Jersey
  • Montserrat
  • Quần đảo Pitcairn
  • Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha
  • Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich
  • Quần đảo Turks và Caicos
New Zealand
  • Quần đảo Cook
  • Niue
  • Lãnh thổ phụ thuộc Ross
  • Tokelau
Úc
  • Quần đảo Ashmore và Cartier
  • Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Úc
  • Đảo Giáng Sinh
  • Quần đảo Cocos (Keeling)
  • Quần đảo Biển San hô
  • Đảo Heard và quần đảo McDonald
  • Đảo Norfolk

Từ khóa » Con Dăm Bi