Ăn Cháo đái Bát | Giải Thích Thành Ngữ

SachHayOnline.com

  • Trang chủ
  • Thư viện sách
    • Văn học Việt Nam
    • Văn học nước ngoài
    • Lịch sử
    • Việt Nam sử lược
    • Thành ngữ - Tục Ngữ
    • Truyện cổ tích Việt Nam
    • Các thể loại khác
  • Tác giả
  • Thể loại sách
    • Ẩm thực - Nấu ăn
    • Cổ Tích - Thần Thoại
    • Công Nghệ Thông Tin
    • Học Ngoại Ngữ
    • Hồi Ký - Tuỳ Bút
    • Huyền bí - Giả Tưởng
    • Khoa Học - Kỹ Thuật
    • Kiếm Hiệp - Tiên Hiệp
    • Kiến Trúc - Xây Dựng
    • Kinh Tế - Quản Lý
    • Lịch Sử - Chính Trị
    • Marketing - Bán hàng
    • Nông - Lâm - Ngư
    • Phiêu Lưu - Mạo Hiểm
    • Sách Giáo Khoa
    • Sách nói miễn phí
    • Tâm Lý - Kỹ Năng Sống
    • Thể Thao - Nghệ Thuật
    • Thơ Hay
    • Thư Viện Pháp Luật
    • Tiểu Thuyết Phương Tây
    • Tiểu Thuyết Trung Quốc
    • Triết Học
    • Trinh Thám - Hình Sự
    • Truyện Cười - Tiếu Lâm
    • Truyện Ma - Truyện Kinh Dị
    • Truyên Teen - Tuổi Học Trò
    • Truyện Tranh
    • Tử Vi - Phong Thủy
    • Văn Hóa - Tôn Giáo
    • Văn Học Việt Nam Sách
    • Y Học - Sức Khỏe
  • Truyện cười
  • Liên hệ
Trang chủ » Văn học Việt Nam » Giải thích Thành ngữ - Tục ngữ » Ăn cháo đái bát

Giải thích Thành ngữ - Tục ngữ

Lá mặt lá trái Chữ như gà bới Xui nguyên giục bị Lấy thúng úp voi Chó mái chim mồi Nói nhăng nói cuội Chết đứng như Từ Hải Bóc ngắn cắn dài Muỗi đốt chân voi Bàn tay không che nổi mặt trời Cốc mò cò xơi Ăn chay niệm phật nói lời từ bi Cha truyền con nối Bàn tay có ngón ngắn ngón dài Giật gấu vá vai Há miệng mắc quai Mũ ni che tai Ba chìm bảy nổi Dốt có đuôi Tấc đất cắm dùi Trộm cắp như rươi Ruột để ngoài da Cá chậu chim lồng Chuồn chuồn đạp nước Hằng hà sa số Chuột sa chĩnh gạo Giậu đổ bìm leo Gan cóc tía Phúc họa khó lường Một mất mười ngờ Qua cầu rút ván Một nghề thì sống đống nghề thì chết Như vợ chồng ngâu Giàu làm kép hẹp làm đơn Đa nghi như Tào Tháo Dở dở ương ương Thoả chí tang bồng Niêu cơm Thạch Sanh Như vợ chồng sam Chết đuối vớ được cọc Tham thì thâm Ốc không nổi mình ốc lại mang cọc cho rêu Ông Tơ bà Nguyệt Mưa không khắp Một miệng thì kín, chín miệng thì hở Mất bò mới lo làm chuồng Lừa ưa nặng Mèo già hóa cáo Lươn ngắn lại chê chạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm Đẽo cày giữa đường Đèo heo hút gió Công cha nghĩa mẹ Bọ ngựa chống xe Ăn lông ở lỗ Ngựa quen đường cũ Tấc đất tấc vàng Lòng vả cũng như lòng sung Hồng nhan bạc mệnh Đẹp như Tiên Dốt hay nói chữ Đất có thổ công, sông có hà bá Cá chuối đắm đuối vì con Bán lợi mua danh Bán trời không văn tự Ăn mày đánh đổ cầu ao Ăn như rồng cuốn Ăn cơm chúa, múa tối ngày Ăn chay niệm phật Cháy nhà ra mặt chuột Đục nước béo cò Lá thắm chỉ hồng Cá hóa rồng Quạ nào mà chẳng đen đầu Rồng đến nhà tôm Nằm gai nếm mật Gửi trứng cho ác Đứt đuôi con nòng nọc Gương vỡ lại lành Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo Đồ Sở Khanh Của ít lòng nhiều Nước chảy chỗ trũng Môi hở răng lạnh Cá không ăn muối cá ươn Học vẹt Văn hay chữ tốt Ngang như cua Nhanh như cắt Mỗi cây mỗi hoa Của người phúc ta Tương cà gia bản Thuốc đắng dã tật Cháy nhà mới ra mặt chuột Chắp cánh liền cành Chén tạc chén thù Há miệng chờ sung Ăn vóc học hay Vụng chèo khéo chống Nhạt phấn phai hương Rau muống tháng 9 nhịn cho mẹ chồng Ếch ngồi đáy giếng Cú kêu cho ma ăn Vàng thau lẫn lộn Năm tao bảy tuyết Có nếp có tẻ Cõng rắn cắn gà nhà Nước mắt cá sấu Tức nước vỡ bờ Thả mồi bắt bóng Tứ cố vô thân Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng Thua keo này bày keo khác Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa Được voi đòi tiên Lá lành đùm lá rách Chim sa cá lặn Có công mài sắt, có ngày nên kim Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào Chạy như cờ lông công Cạn tàu ráo máng Ăn ốc nói mò Sống để dạ chết mang theo Cà cuống chết đến đít còn cay Giàu vì bạn, sang vì vợ Cái tổ con chuồn chuồn Chân nam đá chân chiêu Chờ được mạ, má đã sưng Bợm già mắc bẫy cò ke Bá Nha - (Chung) Tử Kỳ Bầu dục chấm mắm cáy Áo vải, cờ đào Ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng Áo gấm đi đêm Ăn cháo đái bát Ướt như chuột lột Bóng chim tăm cá Oan Thị Kính Nát như tương Đồng không mông quạnh Đười ươi giữ ống Hồn xiêu phách lạc Nói toạc móng heo Quýt làm cam chịu Vừa ăn cướp vừa la làng Trướng rủ màn che Lo bò trắng răng Cửa Khổng sân Trình Cáo mượn oai hùm Sức dài vai rộng Tiền trảm hậu tấu Khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương Bách phát bách trúng Con cà con kê Ông chẳng bà chuộc Kín cổng cao tường Đi một ngày đàng, học một sàng khôn Ba hồn bảy vía - Ba hồn chín vía Như nước đổ đầu vịt Nợ như chúa Chổm Kẻ tám lạng người nửa cân Một nắng hai sương Mạt cưa mướp đắng Máu ghen Hoạn Thư Ma ăn cỗ Nói có sách, mách có chứng Xác như vờ, xơ như nhộng Len lét như rắn mùng năm Tham bát bỏ mâm Ba que xỏ lá Hàng tôm hàng cá Lời ong tiếng ve Lệnh ông không bằng cồng bà Sơn cùng thủy tận Tha phương cầu thực Rách như tổ đỉa Rước voi giày mả tổ Già đòn non nhẽ

Thành ngữ ăn cháo đái bát gồm hai vế: vế thứ nhất nói về việc nhận ân nghĩa (ăn cháo), về thứ hai nói về sự bội bạc ân nghĩa đó (đái bát). \/ề thành ngữ này, một số người còn băn khoăn, không hiểu dạng đích thực của nó là ăn cháo đái bát hay ăn cháo đá bát. Thực ra, điều đó chẳng có nghĩa lý gì, bởi vì hành vi đái bát hay đá bát đều biểu thị sự phũ phàng đến thô bạo của người đời. Dĩ nhiên, hành vi đái bát gây ấn tượng mạnh mẽ, nặng nề hơn và phù hợp với cách nói khoa trương, phóng đại mà dân gian vẫn ưa dùng. Hơn nữa, trên thực tế sử dụng, hầu như ta chỉ gặp dạng ăn cháo đái bát mà thôi. Như vậy, chẳng cần biện luận nhiều, chúng ta cũng dễ dàng chấp nhận dạng thức ăn cháo đái bát là dạng đích thực của thành ngữ đang xét. Vấn đề đáng quan tâm hơn là tại sao dân gian lại dùng cụm từ ăn cháo để biểu hiện việc ân nghĩa? Có bao nhiêu thứ khác, quý hiếm hơn, đáng giá hơn sao không được chọn dùng, trong khi đó lại dùng cháo, một thức ăn bậc thấp nhất, để chỉ cái ân cái nghĩa do người khác mang lại? Thông thường cháo là món ăn nhẹ, dễ tiêu thích hợp với người bệnh đuối sức, không ăn được cơm. Bát cháo từ tay người khác mang lại chăm sóc lẽ nào người bệnh chẳng biết nâng niu trân trọng? Lại nữa cháo trong dân gian các cụ bà thường dùng để cúng lễ ở các miếu dưới gốc đa, sau đó ban phát cho trẻ để lấy phước. Vì thế mà có chuyện “cướp cháo gốc (lá) đa”. Khi gặp nạn đói kém nhiều người quẫn bách cơm không có ăn, áo không có mặc, sống thoi thóp trong hoạn nạn, những người có lòng nhân đức thường nấu cháo để phát chẩn, giúp cho người bị nạn bát cháo cầm hơi. Bát cháo cứu giúp con người ra khỏi cái đói đến chết người cũng chẳng đáng ghi lòng tạc dạ hay sao? Một miếng khi đói bằng mót gói khi no là thế! Những điều liên tưởng ở trên cho thấy cách lập ý lập tứ của thành ngữ ăn cháo đái bát vùa cụ thể vùa rất sâu sắc. Với quan niệm sâu kín đó, nhân dân đã khéo léo tạo nên một sự đối lập gắt gao giữa một bên là ân nghĩa với một bên khác là hành vi phụ bạc đến mức thô bạo nhằm toát lên giá trị phê phán của thành ngữ ăn cháo đái bát đối với những kẻ sống không có trước có sau, sống vô ơn bạc nghĩa.

“Cậu nào lấy mất bi đông người ta rồi. Chỉ được cái ăn cháo đái bát, uống cho khỏe vào rồi vất cả bi đông người ta đi”. (Lê Khánh. “Những ngày vui”).

Cùng nghĩa với ăn cháo đái bát, trong tiếng Việt còn có những thành ngữ như qua cầu rút ván, qua sông đấm vào sóng... Tuy vậy, khi sử dụng cần chú ý đến sự khác nhau rất tinh tế về sắc thái ý nghĩa của chúng.

  • Áo gấm đi đêm
  • Ướt như chuột lột

Danh mục

  • Văn học Việt Nam
  • Văn học nước ngoài
  • Lịch sử
  • Truyện cười hay
  • Chuyện kể cho bé
  • Giải thích Thành ngữ - Tục ngữ
  • Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
  • Các thể loại khác

Tác phẩm nổi bật

  • Truyện ngắn Nam Cao
  • Truyện tam quốc diễn nghĩa
  • Số đỏ Vũ Trọng Phụng
  • Phong thần diễn nghĩa
  • Tắt đèn Ngô Tất Tố
  • Đọc truyện Trạng Quỳnh

Đọc sách hay Online

  • Hồng lâu mộng
  • Truyện Tây Du Ký
  • Cổ học tinh hoa
  • Copyright © 2026 SachHayOnline.com. All Rights Reserved

Từ khóa » đá Bát Là Gì