Bài Thơ: Bên Kia Sông Đuống (Hoàng Cầm - Bùi Tằng Việt) - Thi Viện
Có thể bạn quan tâm
- Tên tác giả/dịch giả
- Tên bài thơ @Tên tác giả
- Nội dung bài thơ @Tên tác giả
- Tên nhóm bài thơ @Tên tác giả
- Tên chủ đề diễn đàn
- Tìm với Google
- Tác giả
- Danh sách tác giả
- Tác giả Việt Nam
- Tác giả Trung Quốc
- Tác giả Nga
- Danh sách nước
- Danh sách nhóm bài thơ
- Thêm tác giả...
- Thơ
- Các chuyên mục
- Tìm thơ...
- Thơ Việt Nam
- Cổ thi Việt Nam
- Thơ Việt Nam hiện đại
- Thơ Trung Quốc
- Đường thi
- Thơ Đường luật
- Tống từ
- Thêm bài thơ...
- Tham gia
- Diễn đàn
- Các chủ đề mới
- Các chủ đề có bài mới
- Tìm bài viết...
- Thơ thành viên
- Danh sách nhóm
- Danh sách thơ
- Khác
- Chính sách bảo mật thông tin
- Thống kê
- Danh sách thành viên
- Từ điển Hán Việt trực tuyến
- Đổi mã font tiếng Việt
Đăng nhập
Tên đăng nhập: Mật khẩu: Nhớ đăng nhập Đăng nhập Quên mật khẩu?
Đăng nhập bằng Facebook Đăng ký Bình luận nhanh 2
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.
Tên của bạn: Thông tin liên hệ: Xác nhận bạn không phải người máy: Gửi bình luận
Hưng Bùi25/06/2025 11:42Nghe xong bài thơ mà trong lòng cảm xúc dâng trào !
Kiệt Hưng Nguyễn04/11/2018 15:34 1- Về Nội dung, tình cảm thì quá tốt rồi: Ca ngợi quê hương- Kể tội ác giặc- Gọi nhau tranh đấu- Tin ở ngày chiến thắng,.. 2- Những "Nghệ thuật ngôn từ" để nói lên Nội dung kia thì "Quá kém", còn kém cả Văn xuôi 3- Cái thời 1948, khi cuộc KC chống Pháp còn đang ở giai đoạn "Phòng ngự", lực lượng Kháng chiến còn non yếu, triển vọn thắng Pháp còn chưa thể khẳng đinh(Phải sau 1950 với chiến thắng Biên giới), bài thơ này là có giá trị vào thời đó thôi, khi các nhà thơ "Có nghề" còn chưa vào cuộc. 4- Vì thế, ngày nay, nếu có Khen Bài thơ này thì chỉ nên khen với Nội dung có tính thời sự, đừng khen gì về Nghệ thuật thơ cả, vì nó Non yếu đủ đường, xét về mặt nào cũng đều Bất cập GSTS Lê Sỹ Thiệp 1- Về Nội dung, tình cảm thì quá tốt rồi: Ca ngợi quê hương- Kể tội ác giặc- Gọi nhau tranh đấu- Tin ở ngày chiến thắng,.. 2- Những "Nghệ thuật ngôn từ" để nói lên Nội dung kia thì "Quá kém", còn kém cả… ☆☆☆☆☆ 1634.57Thể thơ: Thơ tự doThời kỳ: Hiện đại16 bài trả lời: 5 thảo luận, 11 bình luận57 người thíchTừ khoá: chiến tranh (323) kháng chiến (204) Kinh Bắc (2) quê hương (331) sông Đuống (6) thơ sách giáo khoa (673) Văn học 12 [1990-2006] (30)Tuyển tập chung
- 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ XX (2007)- Trả lời
- In bài thơ
- Tài liệu đính kèm 5
Một số bài cùng từ khoá
- Việt Bắc (Tố Hữu)- Vội vàng (Xuân Diệu)- Tây Tiến (Quang Dũng)- Sóng (Xuân Quỳnh)- Bếp lửa (Bằng Việt)Một số bài cùng tác giả
- Lá diêu bông- Nếu anh còn trẻ- Cảnh I- Quả vườn ổi- Mưa Thuận ThànhMột số bài cùng nguồn tham khảo
- Giọt mưa phương Nam (Hoàng Cầm)Đăng bởi Vanachi vào 27/06/2005 22:42, đã sửa 6 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 17/11/2014 18:30
Giọng đọc CammyĐang tải...
Quỳnh Như và Hoàng Kim ngâm thơĐang tải...
Ngâm thơĐang tải...
Giọng đọc Trần Thiện TùngĐang tải...
Bản chép tay của Hoàng Cầm tặng nhà văn Anh Ngọc (10-1988)Em ơi! Buồn làm chiAnh đưa em về sông ĐuốngNgày xưa cát trắng phẳng lìSông Đuống trôi điMột dòng lấp lánhNằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳXanh xanh bãi mía bờ dâuNgô khoai biêng biếcĐứng bên này sông sao nhớ tiếcSao xót xa như rụng bàn tay *Bên kia sông ĐuốngQuê hương ta lúa nếp thơm nồngTranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trongMàu dân tộc sáng bừng trên giấy điệpQuê hương ta từ ngày khủng khiếpGiặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tànRuộng ta khôNhà ta cháyChó ngộ một đànLưỡi dài lê sắc máuKiệt cùng ngõ thẳm bờ hoangMẹ con đàn lợn âm dươngChia lìa trăm ngảĐám cưới chuột đang tưng bừng rộn rãBây giờ tan tác về đâu?Ai về bên kia sông ĐuốngCho ta gửi tấm the đenMấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yênNhững hội hè đình đámTrên núi Thiên ThaiTrong chùa Bút ThápGiữa huyện Lang TàiGửi về may áo cho aiChuông chùa văng vẳng nay người ở đâu?Những nàng môi cắn chỉ quết trầuNhững cụ già phơ phơ tóc trắngNhững em sột soạt quần nâuBây giờ đi đâu, về đâu?Ai về bên kia sông ĐuốngCó nhớ từng khuôn mặt búp senNhững cô hàng xén răng đenCười như mùa thu toả nắngChợ Hồ, chợ Sủi người đua chenBãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lốiNhững nàng dệt sợiĐi bán lụa mầuNhững người thợ nhuộmĐồng Tỉnh, Huê CầuBây giờ đi đâu, về đâu? *Bên kia sông ĐuốngMẹ già nua còm cõi gánh hàng rongDăm miếng cau khôMấy lọ phẩm hồngVài thếp giấy đầm hoen sương sớmChợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợnKhua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teoXì xồ cướp bócTan phiên chợ nghèoLá đa lác đác trước lềuVài ba vết máu loang chiều mùa đôngChưa bán được một đồngMẹ già lại quẩy gánh hàng rongBước cao thấp trên bờ tre hun hútCó con cò trắng bay vùn vụtLướt ngang dòng sông Đuống về đâu?Mẹ ta lòng đói dạ sầuĐường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơBên kia sông ĐuốngTa có đàn con thơNgày tranh nhau một bát cháo ngôĐêm líu ríu chui gầm giường tránh đạnLấy mẹt quây trònTưởng làm tổ ấmTrong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấmÚ ớ cơn mêThon thót giật mìnhBóng giặc dày vò những nét môi xinh *Đã có đất này chép tộiChúng ta không biết nguôi hờnĐêm buông xuống dòng sông ĐuốngCon là ai? - Con ở đâu về?Hé một cánh liếp- Con vào đây bốn phía tường cheLửa đèn leo lét soi tình mẹKhuôn mặt bừng lên như dựng giăngNgậm ngùi tóc trắng đang thầm kểNhững chuyện muôn đời khôn nói năngĐêm buông sâu xuống dòng sông ĐuốngTa mài lưỡi cuốcTa uốn lưỡi liềmTa vót gậy nhọnTa rũa mác dàiTa xây thành kháng chiến ngày maiLao xao hàng cây bụi chuốiIm lìm miếu đổ chùa hoangChập chờn đom đóm bay ngangBáo tin khủng khiếpCho giặc kinh hoàngTừng từng tiếng súng vang vangTrong đêm khuya thoảng cung đàn tự doThuyền ai thấp thoáng bến HồXoá cho ta hết những giờ thảm thươngĐêm đi sâu quá lòng sông ĐuốngBộ đội bên sông đã trở vềCon bắt đầu xuất kíchTrại giặc bắt đầu run trong sươngDao loé giữa chợGậy lùa cuối thônLúa chín vàng hoe giặc mất hồnĂn không ngonNgủ không yênĐứng không vữngChúng mày phát điênQuay cuồng như xéo lên đống lửaMà cánh đồng ta càng chan chứaBao nhiêu nắng đẹp mùa xuânGió đưa tiếng hát về gầnThợ cấy đánh giặc, dân quân cày bừaTiếng bà ru cháu xế trưaChang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu“À ơi... cha con chết trận từ lâuCon càng khôn lớn càng sâu mối thù”Tiếng em cắt cỏ trại tùCăm căm gió rét mịt mù mưa bay“Thân ta hoen ố vì màyHờn ta cùng với đất này dài lâu...” *Em ơi, đừng hát nữa lòng anh đauMẹ ơi, đừng khóc nữa dạ con sầuCánh đồng im phăng phắcĐể con đi giết giặcLấy máu nó rửa thù nàyLấy súng nó cầm trong tayMỗi đêm một lần mở hộiTrong lòng con chim múa hoa cườiVì nắng sắp lên rồiChân trời đã tỏSông Đuống cuồn cuộn trôiĐể nó cuốn phăng ra bểBao nhiêu đồn giặc tơi bờiBao nhiêu nước mắtBao nhiêu mồ hôiBao nhiêu bóng tốiBao nhiêu nỗi đờiBao giờ về bên kia sông ĐuốngAnh lại tìm emEm mặc yếm thắmEm thắt lụa hồngEm đi trẩy hội non sôngCười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.
Việt Bắc, tháng 4-1948Bài thơ này được sử dụng trong chương trình SGK Văn học 12 giai đoạn 1990-2006.[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn] Thơ có nội dung liên quan:- Khi ta mỉm cười và nói... (Nguyễn Phong Việt)
Trang 12 trong tổng số 2 trang (16 bài trả lời)[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối
Phân tích truyền thống văn hoá nghệ thuật và thiên nhiên con người Kinh Bắc qua bài thơ Bên kia sông Đuống
Gửi bởi DungKD ngày 15/09/2009 09:24
Hai tiếng quê hương cất lên trong cõi sâu kín nhất của tâm linh Hoàng Cầm không chỉ gọi dậy một nỗi nhớ thương mênh mang, thổn thức, một tình yêu sâu nặng, khôn cùng mà còn vang động một nỗi niềm tự hào, say đắm. Bởi đó là miền quê của những tiếng hát lời hò ngọt ngào, mê mải, của những nét vẽ trong sáng, rạng ngời, của những con người hồn hậu, thân thương. Bức tranh Kinh Bắc trải ra trước mắt người đọc theo từng lời thơ, con chữ, tất cả hiện về thật tươi mới, sống động, tưởng như Hoàng cầm đang sống giữa quê hương, cũng náo nức đợi chờ, cũng đắm say, mê mải trước “truyền thống nghệ thuật lâu đời, trước vẻ đẹp cổ kính” ấy.Thế giới Kinh Bắc hiện về trong đong đầy thương nhớ, trước hết là gọi về những truyền thống ván hoá, lễ hội đẹp đẽ của quê hương:
Bên kia sông ĐuốngQuê hương ta lúa nếp thơm nồngTranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trongMàu dân tộc sáng bừng trèn giấy điệp.Hoàng Cầm như đưa người ta trở về một không gian ngập ánh sáng, tràn sắc màu, quấn quện, phảng phất hương vị nồng nàn của lúa nếp, nét tươi trong của tranh Đông Hồ, sắc sáng bùng lên của màu dân tộc. Chọn những nét đẹp tinh tuý, chắt lọc của đất trời Kinh Bắc, Hoàng cầm đã khơi dậy trong lòng người một nỗi niềm quê hương da diết. Nét vẽ bình dị mà rất mực tài hoa, không tả mà chỉ gợi nhưng cũng đủ để thế giới Kinh Bắc hiện về sống động, tươi mới. Hai từ “sáng bừng” như một điểm nhấn đẹp đẽ của câu thơ, không chỉ gọi nét tươi tốt, trong trẻo của tranh Đông Hồ mà còn dựng dậy sức sống rạng ngời của dân tộc. Câu thơ như được thắp sáng trong niềm tự hào, kiêu hãnh hết mực của Hoàng Cầm. Đọc thơ Hoàng cầm không chi nghe được hương lúa nồng nàn lặn sâu vào tâm thức, mê mải, cuốn hút với những nét vẽ trong trẻo, hồn nhiên mà còn gọi dậy một niềm tự hào mạnh mẽ về sức sống dân tộc. Bao trùm không gian Kinh Bắc là một tình yêu sâu nặng, một nỗi nhớ thiết tha của Hoàng Cầm. Tình yêu ấy thổi hồn cho sắc màu trong thơ, khơi dậy ánh sáng trong thơ để rồi những câu thơ viết về quê hương cứ ngân vang một nỗi niềm tự hào sâu thẳm:
Ai về Bên kia sông ĐuốngCho ta gửi tấm the đenMấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yênNhững hội hè đình đámTrên núi Thiên ThaiTrong chùa Bút ThápGiữa huyện Lang TàiGửi về may áo cho aiChuông chùa văng vẳng nay người ở đâu?Thế giới Kinh Bắc mở ra trước mắt người đọc từ những ấn tương đầu tiên những sắc màu, ánh sáng tươi tắn đầu tiên để rồi cứ mở ra mãi một không gian Kinh Bắc theo lời mời gọi “Ai về Bên kia sông Đuống?” Đại từ phiếm chi “ai”, tạo ra độ ngân vang trong cảm xúc của tác giả. Hoàng Cầm gọi ai? mời ai? Gọi người đến hay nhắc trở về hay nhủ chính lòng mình đây? Những câu thơ thao thức, gióng giả một nỗi niềm, uẩn ức cứ vời vợi chảy trôi theo lời thơ, phong tục tập quán ngàn đời đẹp đẽ của quê hương hiện về thật sống động, vẻ đẹp cổ kính trầm mặc của không gian lễ hội, sự ân tình chất chứa trong hình ảnh “tấm the đen”, “mộng bình yên” gửi gắm trong cảnh vật thơ mộng, thấp thoáng, tất cả làm nên bản sắc văn hoá lâu đời của quê hương Kinh Bắc. Những câu thơ của Hoàng cầm như còn nguyên vẹn cái âm hưởng thanh bình, yên ả của nó. Người ta như cảm thấy mắt nhìn Hoàng Cầm muốn bao chiếm, ôm trọn không gian thân thương của quê hương yêu dấu, từ “trên” đến “trông” vào “giữa”, những địa danh của Kinh Bắc, núi Thiên Thai, chùa Bút Tháp, huyện Lang Tài cứ hiển hiện như đang ở trước mắt người đọc. Từ “tấm the đen”, Hoàng Cầm chất chứa, nén dồn bao yêu thuơng, ấp ủ từ những hình ảnh bình dị, Hoàng Cầm gửi gắm những ước vọng bình yên lớn lao, từ câu chuyện về Kinh Bắc, nhà thơ đưa người ta trở về chốn cũ, người xưa trong không gian đẹp đẽ, thanh bình:
Những nàng môi cắn chỉ quết trầuNhũng cụ già phơ phơ tóc trắngNhững em sột soạt quần nâuBây giờ đi đâu về đâu.Ai về bên kia sông ĐuốngCó nhớ từng khuôn mặt búp senNhững cô hàng xén răng đenCười như mùa thu toả nắng.Chợ Hồ, Chợ Sủi người đua chenBãi Trầm Chỉ người dăng tơ nghẽn lốiNhững nàng dệt sợiĐi bán lụa màuNhững người thợ nhuộmĐồng Tỉnh, Huê CầuBây giờ đi đầu về đâuKhông gian, thế giới Kinh Bắc không chỉ đẹp trong nét vẽ cổ kính trầm mặc, mà còn sống động với hình ảnh đẹp đẽ của những con người hồn hậu, thân thương. Nhớ về Kinh Bắc, hình ảnh con người gợi dậy trong Hoàng cầm bao yêu thương trìu mến. Chỉ phác hoạ bằng vài nét, Hoàng cầm cũng giúp người ta hình dung đầy đủ về họ. Những thiếu nữ duyên dáng, những cụ già hồn hậu, những em bé ngây thơ, tinh nghịch. Một làn môi cắn chỉ, một mái tóc trắng phơ phơ, một hình ảnh sột soạt quần nâu,... cũng đủ để tưởng tượng về những con người không tên, không tuổi, lạ kì. Hoàng cầm đặc biệt dành nỗi nhớ niềm thương cho hình ảnh người con gái Kinh Bắc, những câu thơ viết về vẻ đẹp quyến rũ, hồn hậu của họ trở thành những lối đẹp nhất của bài thơ. Câu thơ bắt đầu bằng từ để hỏi “Có nhớ” đánh thức tình yêu, gọi dậy nỗi nhớ ám ảnh, thổn thức. Hình ảnh cô hàng xén răng đen với nụ cười tươi tắn, với khuôn mặt búp sen gọi ra một vẻ đẹp tươi tắn, sáng trong, đặc trưng cho vẻ đẹp con người Kinh Bắc. Vẻ đẹp con người hoà quyện với vẻ đẹp của đất trời thiên nhiên, nụ cười của cô gái như thu nhận ánh sáng của không gian.Kinh Bắc, mọi nét tinh tuý của quê hương. Chỉ tả nụ cười của con người mà gợi ra được cả một không gian Kinh Bắc và sắc nắng tươi tắn rạng ngời, với vẻ đẹp ấm áp, thiết tha. Thắp sáng cho một nụ cười hồn hậu, Hoàng Cầm còn làm bừng dậy của đất trời quê hương, đó chính là nét tài hoa trong ngòi bút người nghệ sĩ. Những câu thơ tả cảnh bãi chợ với người buôn bán tấp nập gợi được sức sống mạnh mẽ của Kinh Bắc. Nhịp thơ như nhịp rộn rạo, náo nức tươi vui của bước chân lòng người. Đọc thơ Hoàng cầm như lạc lối vào tâm người “dòng lộ nghẽn lối” ấy. Thế giới Kinh Bắc với hình ảnh của thiên nhiên tươi đẹp, con người hồn hậu đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ của văn hoá truyền thống ở đây hay ở kia, quê hương vẫn đẹp vẻ đẹp muôn đời của nó.“Đó là những gam màu hồn nhiên nhất, tươi tắn nhất trong bức tranh quê hương. Đó là những cảm xúc mãnh liệt nhất, trong sáng nhất mà tôi dành cho miền đất thân yêu của tôi” (Hoàng Cầm). Bên kia sông Đuống là tiếng lòng tri ân sâu nặng của Hoàng cầm, ông viết tác phẩm như trả một món nợ nghĩa tình cho quê hương, bài thơ là những nhịp cảm xúc lúc sôi sục trào dâng, lúc tha thiết ân tình, ân tình phát khởi tự trái tim nghệ sĩ.(Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)☆☆☆☆☆ 184.06Trả lời
Về bài thơ "Bên kia Sông Đuống"
Gửi bởi huyenson ngày 27/02/2010 21:57
Tôi thấy hình nhw bài thơ bị chép sai nhiều chỗ quá,chứ không chỉ sai một số từ, chẳng hạn đoạn:"Đêm đi sâu quá lòng sông ĐuốngBộ đội bên sông đã trở vềCon bắt đầu xuất kíchTrại giặc bắt đầu run trong sương..."Ở một số trích đăng khác tôi lại thấy là:"Đêm buông xuống dòng sông đuốngTa mài lưỡi cuốcTa uốn lưỡi liềmTa vuốt cây nhọnTa giũa mác dàiTa đã thành chiến thắng ngày maiLao xao bờ cây bụi chuối Im lìm miếu đổ chùa nghiêngChập chờn đom đóm bay ngangHay tin lũ giặc kinh hoàngRùng rùng tiếng súng khua vangTrong đêm khuya khoắt cung đàn tự doThuyền ai thấp thoáng ven bờDọn cho ta hết những giờ thảm thương..."Không biết thế nào là đúng, sai. Đề nghị Thi viện kiểm tra lại.
☆☆☆☆☆ 63.50Trả lờibản trong SGK ntn?
Gửi bởi DƯƠNG VƯƠNG ngày 08/03/2010 00:43
Bạn nào có bản chuẩn hơn cùng sửa lại cho tốt hơn đi các bạn
BÁC ĐẾN CHƠI ĐÂY TA VỚI TA!☆☆☆☆☆ 54.20Trả lờikhác biệt
Gửi bởi Vanachi ngày 07/05/2010 02:43Có 1 người thích
Đoạn bạn huyenson chép ra quả thực tôi mới được đọc lần đầu. Còn bản đăng ở trên thì giống với bản trong SGK mọi người từng đọc. Đề nghị các bạn nói sai với khác thì nên dẫn nguồn ra chứ đừng nói chung chung thế rất khó kiểm chứng.
Lộ tòng kim dạ bạch,Nguyệt thị cố hương minh.☆☆☆☆☆ 54.20Trả lờisửa chút
Gửi bởi lawyer ngày 02/12/2013 20:48
Tiếng em cắt cỏ trại tùCăm căm gió rét mịt mù mưa bay
☆☆☆☆☆ 64.17Trả lờiPhân tích lòng yêu nước trong bài thơ Bên kia sông Đuống
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 23/01/2015 23:14
Sau mười câu thơ đầu thể hiện cái nhìn toàn cảnh bên kia sông Đuống từ bên này sông Đuống là đoạn thơ tiếp theo có ý nghĩa “chép tội giặc”. Trong những vần thơ chép tội giặc thì không những chỉ có nỗi xót đau căm giận mà còn có cả sự hồi tưởng về vẻ đẹp của quê hương Kinh Bắc để nói lên niềm yêu mến tự hào. Chính vì vậy trong đoạn thơ chép tội giặc có hai thế giới Kinh Bắc một Kinh Bắc bình yên trước đây và một Kinh Bắc khi giặc tới. Cả hai hình ảnh Kinh Bắc ấy đều thể hiện lòng yêu quê hương đất nước của nhà thơ.Lòng yêu nước trước hết thể hiện niềm yêu mến tự hào trước con người và mảnh đất quê hương Kinh Bắc giàu truyền thống văn hoá.Nhà thơ tự hào trước miền quê Kinh Bắc, một miền quê trù phú, một miền quê văn hoá.Khi nhớ về quê hương ấn tượng sâu đậm đầu tiên là hương vị của lúa nếp thơm nồng. Hương nếp thơm là dấu hiệu về một miền quê nông nghiệp với đời sống vật chất ấm no. Kinh Bắc những ngày bình yên trước đây là mảnh đất trù phú với cảnh làm ăn đông vui tấp nập.
Chợ Hồ chợ Sủi người đua chenBãi Trầm Chi người dăng tơ nghẽn lốiKinh Bắc còn mang vẻ đẹp của miền quê văn hoá.Đây là chiếc nôi của văn hoá dân gian với những lễ hội đầu xuân nổi tiếng như hội Lim đây còn là quê hương của những làn điệu dân ca không chỉ phổ biến vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn nổi tiếng trong cả nước như hát quan họ, hát trống quân.Trên mảnh đất Kinh Bắc còn có những công trình kiến trúc nổi tiếng mang bản sắc nghệ thuật dân tộc với những chùa Bút Tháp những núi Thiên Thai.Đặc biệt Kinh Bắc là quê hương của tranh Đông Hồ:
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trongMàu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp.Chỉ bằng hai câu thơ với vài nét gợi mà Hoàng cầm đã nói rất đúng về tranh Đông Hồ từ đề tài đến chất liệu, đến tâm hồn dân tộc, nghệ thuật dân tộc trong tranh.Đề tài tranh Đông Hồ thường giản dị dân dã gắn bó với cuộc sống hằng ngày. Tranh vẽ về những cảnh sinh hoạt gần gũi đời thường: hứng dừa, đánh ghen, đấu vật, chăn trâu, thầy đồ cá dạy học, đám cưới chuột. Tranh vẽ về các loài vật như lợn, gà, mèo, chuột. Hồn quê dân dã như thấm vào cả đề tài về tranh Đông Hồ.Chất liệu của tranh Đông Hồ làm từ đất cát cây cỏ quê hương tranh “tươi” bởi màu và “trang” bởi giấy. Màu tranh Đông Hồ thường có sắc tươi nguyên không pha tạp. Màu đỏ lấy từ sả son, màu vàng từ hoa hoè, màu đen từ than tre. Màu sắc tươi nguyên ấy được vẽ trên nền giấy trắng, trong. Giấy tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp. Giấy được phủ bởi một lớp bột vỏ sò nên có màu sắc trắng tinh óng ánh như ngân nhũ.Tâm hồn dân tộc và nghệ thuật dân tộc của tranh Đông Hồ được thể hiện qua cách viết độc đáo: “màu dân tộc”. Thông thường chữ màu thường hay kết hợp với những từ cụ thể để chỉ màu sắc nhưng ở đây chữ màu lại kết hợp với một danh từ trừu tượng: “màu dân tộc”. Biện pháp nghệ thuật này vừa nói đúng cả nghĩa đen (tranh làm bằng màu sắc chất liêu dân tộc) vừa diễn tả cả nghĩa bóng (màu sắc của tranh mang tâm hồn dân tộc, bản sắc nghệ thuật dân tộc.Phải là người thật sự am hiểu thật sự gắn bó và rất tự hào về truyền thống quê hương Hoàng cầm mới chỉ bằng vài nét gợi bằng hai câu thơ mà giúp người đọc thưởng thức được một đặc sản văn hoá của quê hương Kinh Bắc là tranh Đông Hồ.Làm nên vẻ đẹp của miền quê văn hoá Kinh Bắc là những con người Kinh Bắc. Chính vì vậy Hoàng cầm cũng giành những câu thơ hay nhất tự hào nhất để nói lên vẻ đẹp của người Kinh Bắc một vẻ đẹp thanh lịch một vẻ đẹp nõn nà dân tộc:
Ai về bên kia sông ĐuốngCó nhớ từng khuôn mặt búp senNhững cô hàng xén răng đenCười như mùa thu toả nắng.Khuôn mặt búp sen gợi nhiều liên tưởng có gương mặt xinh xắn thanh tú. Có màu phớt hồng trẻ trung. Có hương thơm thanh quý, hàm răng đen mang vẻ đẹp truyền thống rất nền nã, rất dân tộc. Nụ cười như mùa thu toả nắng thì vừa bừng sáng rạng rỡ như lan toả niềm vui ra chung quanh nhưng vẫn mang vẻ đẹp dịu dàng kín đáo.Hình ảnh thơ Hoàng cầm rất hiện thực mà lãng mạn. Cội nguồn sâu xa cũng chính là niềm yêu mến tự hào về con người mảnh đất quê hương.Càng yêu mến tự hào về quê hương Kinh Bắc thì nhà thơ càng đau xót tiếc thương căm giận khi kẻ thù kéo đến tàn phá quê hương.Kinh Bắc đang thanh bình với nếp thơm nồng với tranh Đông Hồ gà, lợn nét tươi trong bỗng trở nên hoang tàn đổ nát:
Quê hương ta từ ngày khủng khiếpGiặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tànRuộng ta khôNhà ta cháyBa chữ quê hương được nhắc lại lời thơ da diết nó vừa gợi về hoài niệm, gợi lên có nỗi đau trước mắt với sự đối lập tương phản. Cũng “quê hương ta” ấy mà giờ đây bị tàn phá đã rơi vào tình cảnh khủng khiếp. Những hình ảnh ngắn gọn cô đọng “ruộng khô”, “nhà cháy” nói lên sự tàn khốc của chiến tranh, thiêu huỷ tất cả trong giây lát. Hình ảnh vừa cụ thể vừa có tầm khái quát nó khắc hoạ tội ác giặc ở miền quê Kinh Bắc nhưng lại cũng có thể để khắc bia căm thù ở bất cứ nơi nào có quân xâm lược.Hình ảnh có sự kết hợp giữa nghĩa thực và nghĩa ẩn dụ để nói lên tâm trạng: “chó ngộ một đàn, lưỡi dài lê sắc máu”. Với ý nghĩa thực hình ảnh này gợi lên sự tàn khốc đến ghê rợn của chiến tranh khi tất cả đã hoang tàn đổ nát thì những con chó nhà đá thành chó dại chạy khắp đường thôn ngõ xóm. Với ý nghĩa ẩn dụ hình ảnh chó ngộ nói về giặc Pháp đã lột tả được bản chất tàn bạo đến mất hết tính người của giặc. Hình ảnh cùng nói lên được thái độ của tác giả: Một nỗi uất hận trào sôi và cả sự khinh bỉ đến tột cùng đối với quân xâm lược.Trong sự đau xót tiếc thương Hoàng cầm còn viết những câu thơ có sự quyện hoà giữa thực và ảo:
Mẹ con đàn lợn âm dươngChia lìa đôi ngảĐám cưới chuột đang tưng bừng rộn rãBây giờ tan tác về đâuTác giả đã mượn cảnh trong tranh để nói cảnh thực ngoài đời. Mẹ con đàn lợn chia lìa hay bao tổ ấm gia đình chia lìa tan tác. Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã là thế mà tan tác về đâu hay là bao hạnh phúc lứa đôi đổ vỡ. Đâu chỉ là những bức tranh Đông Hồ bị thiêu cháy mà còn là cuộc sống của người dân bị huỷ diệt.Hình ảnh thơ khắc hoạ nỗi đau trước mắt và cả nỗi đau lâu dài mang ý nghĩa triết lý. Đàn lợn âm dương kia, đám cưới chuột kia đâu chi đơn thuần là đàn lợn và đám cưới. Đó còn là nguồn gốc sự sống, cội nguồn hạnh phúc trong quan niệm bình dị mà sâu sắc từ bao đời của cha ông. Giặc tiêu diệt cái đó cũng có nghĩa là xoá chân đi sự sống, chúng đâu chỉ thiêu huỷ một dòng tranh Đông Hồ, một nền nghệ thuật dân tộc mà còn huỷ diệt cả sự sống trên mảnh đất này hỏi có tội ác nào lớn hơn.Dưới gót giày của quân xâm lược đâu chỉ mảnh đất bị giày xéo mà con người còn tang tóc thê lương.Nạn nhân đau khổ nhất trong chiến tranh là người lính vô tội. Thương biết mấy những mẹ già và những em thơ, những con người thòi bình đang cần sự cưu mang che chở thì thời chiến lại thêm nỗi hoảng sợ chiến tranh.Hình ảnh người mẹ già luôn trở đi trở lại trong thơ Hoàng cầm. Đó là người mẹ của chính nhà thơ hay người mẹ của vùng quê Kinh Bắc nói chung. Dù là ai đi nữa thì hình ảnh mẹ hiện lên cũng thật xót xa tội nghiệp:
Bên kia sống ĐuốngMẹ già nua còm cõi gánh hàng rongDăm miếng cau khôMấy lọ phẩm hồngVài thếp giấy đầm hoen sương sớmMẹ còm cõi lam lũ vất vả, mẹ già nua cần đi nghỉ ngơi thì vẫn phải tất bật lo toan với cuộc sống. Gánh hàng rong của mẹ có nhiều nhặn gì đâu: Dăm miếng cau, mấy lọ phẩm, vài thếp giấy. Gánh hàng rong càng nhẹ về hàng thì gánh nặng cuộc sống càng đè lên đôi vai gầy của mẹ. Những số tử phiếm chỉ nói lên sự ít ỏi: “Dăm, mấy, vài” gợi sự lam lũ, sự nghèo khó, mẹ phải tỉ mẩn chắt chiu từng xu. Vậy mà kẻ thù nào có buông tha chúng kéo đến chúng cướp đi tất cả:
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợnKhua giày đinh đạp gãy quán gày teoXì xồ cướp bóc Tan phiên chợ nghèoLá đa lác đác trước lềuVài ba vết máu bang chiều mùa đôngKẻ thù đến thật bất ngờ gây nên nỗi kinh hoàng, chúng hiện nguyên hình là lũ quỷ âm ti mang theo chết chóc gieo bao tai hoạ.Để tố cáo tội ác man rợ của kẻ thù nhà thơ đã sử dụng liên tiếp những động từ: Trừng trợn, khua giày đinh, đạp gãy, xì xồ cướp bóc. Bên cạnh đó là nghệ thuật đối lập tương phản:
Mẹ già nua / quỷ mắt xanh trừng trợn.Giày đinh đạp gẫy / quán gày teo.Cướp bóc / phiên chợ nghèo.Biện pháp nghệ thuật này không những tố cáo tội ác kẻ thù mà còn diễn tả nỗi đau thê thảm của những người dân vô tội. Khi nói lên tình cảm đau thương của mẹ và tội ác của kẻ thù những câu thơ cũng có sự quyện hoà giữa thực và ảo. Cái thực như bị nhoè đi bởi những dòng nước mắt: “Lá đa lác đác trước lều, vài ba vết máu loang chiều mùa đông”. Hình ảnh lá đa lác đác trước lều gọi liên tưởng đến số phận của mẹ, của bao sinh linh vô tội đang rụng rơi trước mũi súng, lưỡi gươm đầm máu của quân thù. Nỗi đau cua người dân vô tội và cũng là của chính tác giả, cứ như vết máu loang ra mãi thấm cả vào trời chiều mùa đông lạnh giá.Trong một đoạn thơ khác hình ảnh người mẹ Kinh Bắc cũng gợi trong ta bao niềm thương cảm:
Có con cò trắng bay vùn vụtLướt ngang dòng sông Đuống về đâuMẹ ta lòng đói dạ sầuĐường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ.Hình ảnh thơ thật gợi cảm có bóng mẹ bước thấp bước cao trên đường trơn mưa lạnh, mái đầu bạc phơ in lên nền trời chiều giá buốt, có hình ảnh cánh cò vút bay ngang qua dòng sông Đuống. Đây không phải là cánh cò bay lả bay la trong câu ca dao thời bình mà là cánh cò hốt hoảng trong thời chiến. Cánh cò bay về đâu, người mẹ đi về đâu khi tất cả đã hoang tàn đổ nát.Cùng với những mẹ già là những em thơ, những đứa trẻ quá hồn nhiên nên cũng quá tội nghiệp. Chúng đâu đã biết lo toan trong cảnh đói nghèo: “Ngày tranh nhau một bát cháo ngô” chúng còn chưa biết sợ trước chiến tranh.
Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạnCác em hồn nhiên ngây thơ như bầy chim non trong tổ ấm. Các em đâu biết lửa hái của tử thần đang treo lơ lửng ở trên đầu. Chúng chui gầm giường tránh đạn nhưng làm sao tránh nổi khi giặc bắn cả vào giấc mơ trẻ nhỏ:
Trong giấc thơ ngày tiếng súng dồn tựa sấmÚ ớ cơn thon thót giật mìnhBóng giặc giày vò những nét môi xinhNghệ thuật đối lập những câu thơ trên lại một lần nữa khắc hoạ bằng tội ác của kẻ thù và cảnh tình thê thảm của những sinh linh vô tội. Từ nỗi đau thương uất hận câu thơ Hoàng Cầm vươn tới sự lên án tố cáo:
Đã có đất này chép tộiChúng ta không biết nguôi hờnVề mặt nghệ thuật đoạn thơ chép tội giặc được triển khai trên sự đối lập tương phản giữa hình ảnh Kinh Bắc thanh bình trước đây và Kinh Bắc bị tàn phá khi giặc tới. Về nhịp điệu có sự đan xen giữa câu thơ ngắn và câu thơ dài. Những câu thơ ngắn loang loáng vun vút diễn tả sự tàn bạo thiêu huỷ trong chốc lát của chiến tranh. Những câu thơ ngắn không liền mạch đọc lên nghe như tiếng nấc uất nghẹn. Bên cạnh đó là những câu thơ dài buông xuống như lời than tiếc nuối, như dòng lệ khôn ngăn.Cứ sau một đoạn thơ nói về Kinh Bắc bình yên thì Kinh Bắc khi giặc tới lại là một câu hỏi tu từ như xoáy sâu vào lòng người đọc: “Bây giờ tan tác về đâu, bây giờ đi đâu về đâu...” Những câu hỏi ấy vang lên như một điệp khúc, điệp khúc đau thương, điệp khúc căm hờn, điệp khúc tố cáo.Trong sự gắn bó sâu sắc với quê hương Hoàng Cầm mang niềm mơ ước, niềm hy vọng của người dân quê hương. Kết thúc bài Bên kia sông Đuống là niềm tin tưởng cuộc sống thanh bình sẽ trở lại quê hương Kinh Bắc:
Em đi trẩy hội non sôngCười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanhNếu bài thơ mở đầu bằng những câu vùa xót xa vừa an ủi vỗ về: “Em ơi buồn làm chi thì kết thúc lại là hình ảnh ngày hội non sông, ngày chiến thắng. Niềm mơ ước, niềm hy vọng, niềm tin tưởng ấy đã đem đến vẻ đẹp cho câu thơ của Hoàng Cầm những hình ảnh thực mà cũng lung linh huyền ảo, hiện thực mà siêu thực.(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)tửu tận tình do tại☆☆☆☆☆ 33.67Trả lời
Bình giảng đoạn thơ Bên kia sông Đuống … Bây giờ tan tác về đâu
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 23/01/2015 23:16
Trong vườn thơ ca kháng chiến chống Pháp, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm được sáng tác tháng 4 năm 1948 nổi lên như một bông hoa thám sắc ngát hương. Bài thơ đã diễn tả được một cách khá thấm thía và cảm động tấm lòng của nhà thơ đối với quê hương Kinh Bắc nối tiếng, quê hương nước Việt nói chung với những tình cảm yêu thương, tự hào về quê hương giàu đẹp, có nền văn hoá nghìn đời đáng yêu và niềm căm giận trước tội ác kẻ thù đã giày xéo quê hương một cách phũ phàng. Trong đó còn có những đoạn thơ cho ta thấy quê hương Kinh Bắc có một nền văn hoá dân gian độc đáo đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời nhà thơ cũng cho người đọc cảm nhận được hình ảnh quê hương tan tác điêu tàn khi quân giặc tràn về:
Bên kia sông Đuống...................Bây giờ tan tác về đâuSự trù phú tươi đẹp của quê hương được kết tinh ở một hình ảnh thật gợi cảm, nên thơ. Đó là “lúa nếp thơm nồng”. Cái hương vị đậm đà thanh khiết có sức lan toả và dễ thấm vào hồn người đọc ấy của lúa nếp đã gợi lên trong ký ức chúng ta biết bao hình ảnh thân thuộc của làng quê Việt Nam, nơi có truyền thống trồng lúa nước từ ngàn đời nay. (Trong bài Đất nước, Nguyễn Đình Thi cũng đã mở đầu bằng hai câu thơ có cái hương lúa nếp rất gợi cảm đó: “Sáng mát trong như sáng năm xưa – Gió thổi mùa thu hương cốm mới” và Quang Dũng cũng viết: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói – Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Chế Lan Viên trong bài Tiếng hát con tàu đã có hai câu thơ về hương nếp rất tài hoa “Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch – Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương”).Nhưng nói về Bên kia sông Đuống là nói về vùng Kinh Bắc, quê hương của Hoàng Cầm, “nơi đã hút hết tâm hồn và đời thơ của tôi”. Đấy là “một vùng văn hoá nhiều đền chùa cổ kính, quê hương của tranh Đông Hồ và những điệu quan họ duyên dáng, mà cũng là quê hương của nhiều truyền thuyết nên thơ cùng những hội hè náo nhiệt”. Nhưng nổi bật nhất trong số đó vẫn là tranh làng Hồ, với những đường nét, màu sắc tươi sống ngộ nghĩnh. Từ bao đời nay, tranh làng Hồ đã từng hết sức quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam vào dịp tết đến. Đó là những bức tranh mang màu sắc dân gian và dân tộc từ nghĩa đen đến nghĩa bóng, tứ chất liệu đến đề tài, màu sắc. Tranh thường gợi về những đề tài sinh hoạt bình dị của đời sống tâm hồn Việt Nam vốn yêu lao động, hoà bình, hạnh phúc và cuộc sống thịnh vượng... như “tranh con gà”, “mẹ con đàn lợn âm dương”, “đám cưới chuột”, “đánh vật”, “đánh ghen”, “hứng dừa”, “thầy đồ ếch”... Người nghệ sĩ dân gian tài hoa đã quét lên những bức tranh bình dị ấy bằng những mầu tươi sáng: màu đỏ son, màu cánh sen, màu hoa hiên, ri đồng... toàn là những chất liệu từ thôn quê quen thuộc... tất cả sáng bừng lên trên nền giấy trắng tinh và óng ánh “Mầu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Hai chữ “sáng bừng” đứng ở vị trí trung tâm, âm hưởng mạnh mẽ như rực sáng lên giữa câu thơ, toả sáng những tờ giấy điệp và cũng là toả sáng cả nền nghệ thuật độc đáo của dân tộc. Từ “sáng bừng” còn bao hàm cả niềm tự hào, tình cảm thiết tha nồng nàn, đằm thắm của nhà thơ đối với truyền thống văn hoá. Nếu không, làm sao tác giả có thể cảm nhận được vẻ đẹp “sáng bừng” của “màu dân tộc” sâu sắc đến như vậy?Quê hương ta Bên kia sông Đuống thái bình, giàu đẹp, yên vui là thế nhưng khi giặc Pháp hung bạo kéo về, tất cả phút chốc trở nên tan tác điêu linh. Cuộc sống thanh bình, trù phú nên thơ của vùng Kinh Bắc giờ chỉ còn là những kỷ niệm xót xa đau tiếc. Đây là nỗi đau lớn nhất của con người nói riêng, của một đời người nói chung. Nhà đại thi hào dân tộc Italia đã có hai câu thơ nổi tiếng:Trên đời đau khổ gì tàyChuyện vui nhớ lại trong ngày thê lương. Bao trùm lên mảnh đất, bầu trời quê hương nay chỉ là những cánh đồng quê chảy máu – Dây thép gai đốm nốt trời chiều” (Nguyễn Đình Thi), là ngọn lửa ngùn ngụt, hung tàn thiêu huỷ xóm làng. Trên cái nền cuộc sống yên ả thanh bình ngày xưa, giờ đã xuất hiện lũ giặc hung hăng, điên cuồng như một đàn chó dại “Lưỡi dài lê sắc máu”, gieo rắc từ khi khắp nơi “Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”. Hình ảnh kẻ thù được tác giả khắc hoạ bằng hình ảnh ẩn dụ rất chính xác mà rất gợi cảm, đã làm nổi bật được bản chất tàn bạo đầy thú tính của chúng.Trước cảnh giặc tàn phá “Tan hoang nhà cháy khói căm thù”, trái tim tác giả như đau thắt lại và những câu thơ của Hoàng Cầm cũng ngắt ra thành từng dòng, từng nhịp như những tiếng nấc nghẹn ngào:
Ruộng ta khô Nhà ta cháy...Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoangThế là chẳng những con người rơi vào cảnh ngộ tan tác chia lìa mà đến cả những bức tranh làng Hồ cũng cùng chung số phận:
Mẹ con đàn lợn âm dươngChia lìa đôi ngảĐám cưới chuột đang tưng bừng rộn rãBây giờ tan tác về đâu?Cái tài của nhà thơ Hoàng Cầm là đã tạo được nhiều hình ảnh vừa thực vừa ảo rất thú vị. Ở đây, cảnh trong tranh và cảnh ngoài đời như hoà vào nhau thật khó mà phân biệt. Hai bức tranh Đông Hồ được miêu tả trong bốn câu thơ đã vẽ lên được cảnh tản cư đau lòng khi giặc ập đến. Phải chăng giặc giày xéo lên quê hương gây nên cảnh tan tác chia lìa cho con người; đồng thời cũng là giày xéo lên một nền văn hoá nghìn đời đáng yêu đáng quý của ta một cách phũ phàng?Câu thơ “từ ngày khủng khiếp” và đặc biệt là câu “Bây giờ tan tác về đâu?” là câu hỏi về đám cưới chuột, đàn lợn âm dương... nhưng đằng sau câu hỏi ấy là một tình yêu quê hương bao la, là nỗi nhớ tiếc khôn nguôi về những gì thiêng liêng đã mất, là nỗi xót xa về quê hương đau thương dưới gót giày xâm lược, là nỗi oán hờn tím gan tím ruột trước tội ác trời không dung, đất không tha của kẻ thù. Đó cùng là câu hỏi muôn đời của lịch sử mỗi khi có giặc ngoại xâm.Đoạn thơ trên đã làm nổi bật sự đối lập hai cảnh: trước và nay, hạnh phúc và đau thương xây dựng và tàn phá, sum vầy yên ấm và tan tác chia lìa... làm khắc sâu nỗi đau tiếc, xót xa, căm giận; đặc biệt là làm nổi bật sự tương phản giữa những giá trị nhân văn của ta và sự tàn bạo phi nhân tính của những kẻ vẫn thường tự xưng là “văn minh”. Sự tương phản ấy như đập vào mắt, xuyên vào lòng kêu gọi lương tri nhân loại.Tiếp đến là Kinh Bắc của những đền chùa cổ kính và những hội hè đình đám vào dịp đầu xuân.Cảnh thật tươi vui đầm ấm rộn rã “Trên núi Thiên Thai – Trong chùa Bút Tháp – Giữa huyện Lang Tài”. Cuộc sống bình yên ấy đã diễn ra từ bao đời nay “mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên”. Và có lẽ nổi bất nhất trong những ngày hội vẫn là hình ảnh những cô gái Kinh Bắc “mặc áo the đen” duyên dáng, dịu dàng gợi thương gợi nhớ cho bao người. Nhưng từ ngày giặc đến, cuộc sống tưng bừng, giấc mộng bình yên ấy đâu còn nữa; chỉ còn những tiếng chuông chùa vẳng lên như một nỗi tiếc thương ngơ ngẩn.Tiếng chuông chùa ở đây không còn gợi lên cảnh êm dịu thanh bình mà vọng lên như khua sầu tủi, như rung oán hờn”.Những câu thơ tiếp theo diễn tả cảnh đông vui nhộn nhịp của sinh hoạt làm ăn vào những ngày phiên chợ Hồ, chợ Sùi, người đua chen cùng những cảnh “Bãi trầm chi người giăng tơ nghẽn lối”, “Những nàng dệt sợi, đi bán lụa mầu – Những người thợ nhuộm, Đồng Tỉnh Huê Cầu” đã thành ca dao:
Ai về Đồng Tỉnh Huê Cầu.Để thương, để nhớ, để sầu lại đây.Như vậy, Kinh Bắc là quê hương của những con người đáng yêu đáng quý. Nhưng đáng yêu nhất, để thương để nhớ cho Hoàng cầm nhất vẫn là: những cô gái chăn tằm hái dâu, những cô hàng xén có vẻ đẹp dịu dàng kín đáo, đôn hậu mà rất tình tứ. Hoàng cầm đã dành những nét bút đẹp đẽ tài hoa nhất cho những cô gái này:
Ai về Bên kia sông ĐuốngCó nhớ từng khuôn mặt búp senNhững cô hàng xén răng đenCười như mùa thu toả nắng“Khuôn mặt búp sen” là khuôn mặt mang vẻ đẹp truyền thống dân tộc của những cô gái quê. Nó gợi cho ta những đường nét thanh tú xinh xắn với màu sắc phớt hồng và hương thơm thanh quý. Còn nụ cười “như mùa thu toả nắng” thì tươi và sáng như toả niềm vui ra xung quanh nhưng lại có vẻ đẹp dịu dàng kín đáo như cái nắng dịu mùa thu.Nhưng tất cả “bây giờ đi về đâu?”. Và giữa khung cảnh tan tác của loạn lạc, của giặc giã chiến tranh, nạn nhân tội nghiệp đáng thương nhất là các bà mẹ già, đặc biệt là những người mẹ nghèo “Bà mẹ già kia tuổi đã nhiều- Đã từng đau khổ biết bao nhiêu”, dưới gánh nặng của cuộc đời một nắng hai sương, nay lại cộng thêm cái loạn lạc của chiến tranh mà vẫn phải “Đòn gánh tre chín rạn hai vai” để kiếm sống thì càng đau khổ đáng thương gấp bội phần:
Bên kia sông ĐuốngMẹ già nua còm cõi gánh hàng rongBước cao thấp bên bờ tre hun hútCó con cò trắng bay vùn vụtLướt ngang dòng sông Đuống về đâuMẹ ta lòng đói dạ sầuĐường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơHình ảnh bà mẹ già “còm cõi mái đầu bạc phơ” với “gánh hàng rong bước cao bước thấp bên bờ tre hun hút” cùng với “cánh cò trắng bay vùn vụt lướt ngang dòng sòng Đuống về đâu” gợi lên trong lòng ta biết bao cảm xúc xót thương. Đâu còn hình ảnh “Cánh cò bay lả bay la – Cánh cò bay lả rập rờn” hôm nào nữa; mà giờ chi còn là cánh cò hốt hoảng bay vụt vụt bơ vơ như chạy loạn “Bỏ nhà...”. Hình ảnh ấy hoà cùng hình ảnh yếu ớt bơ vơ của người mẹ già làm cho hình ảnh những nạn nhân xâm lược càng trở nên bi thương vô hạn.Nhưng nghĩ cho cùng thì nạn nhân tội nghiệp nhất của chiến tranh vần là những đứa con thơ. Chúng đã khổ vì đói nghèo “ngày tranh nhau một bát cháo ngô” nay càng khổ thêm vì chiến tranh:
Trẻ em như búp trên cànhBiết ăn ngủ, biết học hành là ngoan(Hồ Chí Minh)Ấy thế mà khi giặc tràn về, các con đã bị bóng đen kẻ thù đe doạ cả những vành nôi, và trong cơn mơ cũng thon thót giật mình vì sợ hãi. Bởi cái chết luôn luôn rình rập, lởn vởn đâu đó. Là kẻ thù mới bây giờ rất đáng sợ. Chúng vừa thô bạo vừa có hình thù gớm ghiếc, kỳ quái. Chúng đến đâu là gieo rắc chết chóc đau thương đến đó:
Chợt lũ quỹ mắt xanh trừng trợnKhua giày đinh đạp gãy quán gầy teoXì xồ cướp bóc, tan phiên chợ nghèoLá đa lác đác trước lềuVài ba vết máu loang đỏ chiều mùa đôngĐây là những hình ảnh thơ viết về tội ác của kẻ thù khá độc đáo. Mấy “Lá đa lác đác trước lều” cùng với “vài ba vết máu” làm “loang” đỏ cả “chiều mùa đông” cứ ám ảnh lay động không thôi tâm hồn ta. Cũng như hai câu thơ: “Bây giờ tan tác về đâu?” – Bây giờ đi đâu về đâu?” được lấy lại ở nhiều đoạn thơ như một điệp khúc cứ xoáy sâu vào lòng ta một nỗi đau nhức nhối. Đúng là đoạn thơ trên của Hoàng cầm xứng đáng là đoạn thơ “chép tội giặc” để mãi mãi chúng ta không được nguôi hờn, mỗi khi có giặc ngoại xâm.Từ đau thương đã chuyển sang uất hận, căm thù và biến thành sức mạnh chiến đấu:
Dao loé giữa chợGậy lùa cuối thônLúa chín vàng hoe giặc mất hồnĂn không ngonNgủ không yênĐứng không vữngChúng mày phát điênQuay cuồng như đứng trên đống lửaĐoạn thơ đã diên tả được một cách sinh động và chân thực những cuộc chiến đấu quyết sống chết với giặc diễn ra ở thôn xóm, giữa chợ, trên cánh đồng lúa chín bằng những nhịp thơ dồn dập sảng khoái, đầy khí thế.Bài thơ Bên kia sông Đuống được kết lại bằng những ước mơ cuộc sống thanh bình trở về: Mùa xuân lại hồi sinh với những hội hè đình đám như thuở xưa bên bờ sông Đuống yên ả. Hình ảnh “em” xuất hiện không buồn nữa mà em trở nên tươi trẻ, tràn đầy sức sống và niềm vui trong bộ quần áo mới với yếm thắm và dải lụa hồng phất phới bay. Em cùng toàn dân tộc “Đi trẩy hội non sông” trong tâm trạng hân hoan “cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh”.Nét đặc sắc của bài thơ Bên kia sống Đuống là tác giả đã tạo nên được một nhạc điệu khá độc đáo: vừa dạt dào tuôn chảy, vừa trầm buồn. Trên nền nhạc buồn ấy, cái hồn của quê hương đất nước xứ sở cứ phảng phất lắng đọng trong mỗi dòng chữ, hình ảnh thơ. Vì thế bài thơ chỉ viết về một vùng quê rất riêng: quê hương Kinh Bắc nhưng vẫn có thể khơi dậy trong trái tim hàng triệu người Việt Nam tình yêu nước Việt muôn đời.(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)tửu tận tình do tại☆☆☆☆☆ 32.33Trả lời
Cảm nhận khổ thơ thứ 3 (ba)
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 23/01/2015 23:16
Đề bài: Nêu cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau:
Bên kia sông ĐuốngQuê hương ta lúa nếp thơm nồngTranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trongMàu dân tộc sáng bừng trên giấy điệpQuê hương ta từ ngày khủng khiếpGiặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tànRuộng ta khôNhà ta cháyChó ngộ một đànLưỡi dài lê sắc máuKiệt cùng ngõ thẳm bờ hoangMẹ con đàn lợn âm dươngChia lìa trăm ngảĐám cưới chuột đang tưng bừng rộn rãBây giờ tan tác về đâu?trong bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm.Bài làmTrong mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương, nơi gắn bó tuổi thơ êm đềm, nơi có những bài hát ru ngọt ngào. Và Hoàng Cầm cũng vậy. Ông yêu sao mảnh đất quê hương Kinh Bắc của mình, coi đó như một phần máu thịt. Có lẽ bởi thế mà khi nghe tin quê hương bị giặc chiếm, nỗi niềm đau xót cứ dâng trào trong nhà thơ để rồi từ đó tạo ra những vần thơ tha thiết, đầy xúc cảm trong bài Bèn kia sông Đuống. Trong tác phẩm đoạn thơ để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng người đọc là đoạn miêu tả vẻ đẹp của quê hương Kinh Bắc và kể tội quân thù:
Bên kia sông Đuống................Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rãBây giờ tan tác về đâuQua nét bút của Hoàng cầm, quê hương Kinh Bắc hiện lên thật đẹp trong truyền thống văn hoá đặc sắc. Nhưng đau xót là cái thế giới đẹp ấy lại bị vùi dập, tàn phá bởi lũ quỷ xâm lược.Mở đầu đoạn trích là cụm từ “Bên kia sống Đuống” được lặp lại như một điệp khúc tạo ra điểm nhấn trong cảm xúc của nhà thơ. Câu thơ gợi dậy những hoài niệm, những thương nhớ về quá khứ tươi đẹp, đồng thời đánh thức trong lòng người đọc cảnh chia cắt của hai bờ quê hương. Câu thơ như tạo cảm xúc khiến cho nhà thơ nhớ về quá khứ, nhớ về những truyền thống văn hoá của Kinh Bắc:
Quê hương ta lúa nếp thơm nồngTranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trongMàu dân tộc sáng bừng trên giấy điệpChỉ bằng ba câu thơ mà Hoàng cầm đã tái hiện lại bức tranh quê hương có cả màu sắc, ánh sáng, có cả những hương vị quen thuộc. Một lời giới thiệu rất mộc mạc: “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng” – một nét vẽ bình dị, và quen thuộc của làng quê Việt Nam nhưng lại gợi dậy trong người đọc bao nhiêu ám ảnh.Không chỉ mang vẻ đẹp chung của quê hương Việt Nam, Kinh Bắc còn là quê hương của tranh Đông Hồ. Nét vẽ tươi trong của tranh Đông Hồ vừa gợi ra cái tươi tắn, trong trẻo, vừa ẩn chứa nét đẹp rạng ngời tinh khôi. Phải là người rất am hiểu, là người yêu lắm mảnh đất Kinh Bắc Hoàng cầm mới có thể làm nên nét vẽ đặc sắc, tuyệt vời đến vậy. Một bức tranh giản dị được về bằng “màu dân tộc”. Màu dân tộc phải chăng là màu của thiên nhiên hay là màu của quê hương, đất nước. Ba tiếng thơ ấy đã trở thành một ẩn dụ độc đáo của Hoàng Cầm, là niềm kiêu hãnh của nhà thơ về bản sắc văn hoá quê hương mình. Với nét vẽ của nhà thơ cả bức tranh như “sáng bừng” trên giấy điệp, Câu thơ lại một lần nữa khẳng định sức sống kì diệu của dân tộc.Một quê hương với những truyền thống văn hoá đẹp đến vậy lại bị vùi dập, chia cắt
Quê hương ta từ ngày khủng khiếpCâu thơ cất lên đau đớn, làm chuyển đổi mạnh cảm xúc của bài thơ. Tác giả gọi những ngày giặc đến xâm chiếm là những ngày “khủng khiếp” (như phần nào cho thấy sự khác biệt của hiện thực chiến tranh). Từng câu, từng chữ như gợi ra sự tàn bạo của kẻ thù đồng thời là tiếng nói tố cáo, phê phán gay gắt chiến tranh.Đọc câu thơ “Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” ta lại nhớ đến câu thơ trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tànChỉ bằng một câu thơ mà tội ác của kẻ thù hiện lên chồng chất, cùng với đó là niềm căm thù ngút trời về nỗi đau tột cùng của con người. Những câu thở than đầy máu và nước mắt.Đi đến với sự tàn phá, tội ác của kẻ thù là cả không gian tiêu điều, xác xơ của quê hương Kinh Bắc:
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoangMẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngảĐám cưới chuột đang tưng bừng rộn rãBây giờ tan tác về đâuCâu thơ ngân lên đầy đau đớn, xót xa. Đâu rồi cái vẻ thanh bình, đâu rồi những nét trù phú tươi tắn? Giờ đây tất cả chỉ là một cảnh tượng hoang tàn, chia li, diết chóc. Không gian càng lúc càng trở nên sâu thẳm “kiệt cùng” nỗi đau càng lúc càng tột cùng. Và điều đặc biệt là ở chỗ tác giả không miêu tả cụ thể hình ảnh con người nhưng dấu ấn về một cuộc sống chia li, hoang tàn vẫn được thể hiện rõ. Tác giả mượn hình ảnh những con vật vô tri, trong bức tranh Đông Hồ chia lìa, tan tác để nói về nỗi đau chia lìa của con người.Chi bằng mấy câu thơ mà nhà thơ đã tái hiện lại cả quê hương Kinh Bắc trong quá khứ và cả quê hương trong hiện tại. Quá khứ càng tươi đẹp, càng đặc sắc thì hiện tại càng khốc liệt, đau xót. Từ đó tình yêu quê hương đất nước của Hoàng cầm càng được bộc lộ rõ. Có lẽ vì vậy nhà thơ mới có thể tạo nên những dòng thơ hay đến vậy.(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)tửu tận tình do tại☆☆☆☆☆ 45.00Trả lời
Bình giảng đoạn thơ Bao giờ về Bên kia sông Đuống … Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 23/01/2015 23:17
Nếu Sông Lô của Văn Cao là một trường ca bằng nhạc về con sông miền quê Trung du thời chống Pháp thì Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm cũng được coi là trường ca bằng thơ về một con sông của miền quê Kinh Bắc. Viết tác phẩm này Hoàng Cầm muốn gửi gắm dồn trút tất cả cảm xúc mãnh liệt của mình. Đó vừa là niềm tự hào kiêu hãnh trước những vẻ đẹp của quê hương, vừa là nỗi xót xa căm giận trào sôi trước cảnh quê hương bị giặc tàn phá. Nhà thơ đã tái hiện lại chân thực sinh động bức tranh cuộc sống, thiên nhiên con người Kinh Bắc một thời máu lửa, một thời hoà bình. Đoạn thơ khép lại tác phẩm cho người đọc một hình ảnh đẹp về Kinh Bắc trong tương lai chiến thắng qua dự cảm đầy tin tưởng của Hoàng Cầm.Vì được coi là một trường ca, cho nên Bên kia sông Đuống được tổ chức theo lối khúc thức gồm bốn chàng: dạo đầu, đau thương, vùng dậy và chiến thắng. Theo đó cảm xúc thơ có khi sâu lắng thiết tha những hoài niệm, có lúc cuộn trào sôi sục mạnh mẽ, lúc lại êm đềm lan toả. Sau khúc dạo đầu, Bên kia sông Đuống cuốn người đọc vào mạch cảm xúc căm giận trào sôi trước hiện thực quê hương Kinh Bắc tươi đẹp giàu có, bình yên chìm trong máu lửa để rồi bừng lên sức mạnh chiến đấu của những đoàn quân trở về giải phóng quê hương, chuẩn bị cho Kinh Bắc ca khúc khải hoàn. Thế nên, mở đầu đoạn thơ Hoàng Cầm mới viết:“Bao giờ về Bên kia sông Đuống” - chữ “bao giờ” diễn tả thời gian trong tương lai, thòi gian trong tương lai, thời gian của mơ ước, của khát khao chứ không phải là thời gian của thực tại. Mặc dù được lặp lại đến lần thứ sáu với nhiều biến thể khác nhau nhưng ở đây, cụm từ “Bên kia sông Đuống” mới thật sự hàm chứa cái giọng của sự mong ngóng đến khắc khoải. Bởi vì bên kia sông Đuống là trở lại mái ấm, là tìm về mảnh đất thân thương máu thịt, nơi cất giữ mảnh hồn riêng của những con người Kinh Bắc. Và thế giới Kinh Bắc ấy hội tụ nơi em. Sự xuất hiện của từ “em” trong khổ thơ này một mặt tạo ra sự hồ ứng, nhất quán chặt chẽ trong cấu tứ hình tượng của toàn bài, một mặt gắn liền với lời động viên an ủi mở đầu thi phẩm:
Em ơi buồn làm chiAnh đưa em về sông ĐuốngVà lời hẹn ước nằm nhớ đang trở thành một thực hay chính lời thơ chứa đựng niềm tin của nhân vật trữ tình “anh” sẽ trở lại quê hương ngay khi thi sĩ đặt bút viết những dòng đầu tiên về Kinh Bắc ở cái thời điểm “giặc tràn lên đốt phá”. Đó là niềm tin lãng mạn mang tính cách mạng. Mặt khác, “em” chính là hình ảnh tiêu biểu hơn cả cho những vẻ đẹp Kinh Bắc. Dõi theo lời thơ, ta thấy “em” hiện ra với yếm thắm, “lụa hồng”, trang phục rực rỡ, với nụ cười “mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh” trong không khí “trẩy hội non sông” tưng bừng của mùa xuân, mùa chiến thắng.Để tái hiện chân dung những thiếu nữ Kinh Bắc, Hoàng Cầm vẫn tiếp tục sử dụng chất liệu đậm đà bản sắc dân tộc. Cách mô tả như vậy có nhiều điểm gặp gỡ với câu thơ Nguyễn Bính trong Chân quê, Chiều xuân của Anh Thơ. Vì thế con người Kinh Bắc hiện ra với những vẻ đẹp mang bản sắc văn hoá truyền thống vừa thân thuộc dung di, vừa duyên dáng tình tứ, vừa gợi nhớ gợi thương. Giữa không khí của lễ hội mùa xuân, “em” nổi bật nơi thế giới của những sắc màu toả sáng cùng nụ cười. Đây là lần thứ hai Hoàng Cầm đặc tả nụ cười thôn nữ, một nụ cười xuất hiện ở quá khứ thanh bình, một nụ cười xuất hiện trong tương lai chiến thắng. Song, cả hai đều chứa đựng vẻ đẹp của niềm hạnh phúc.
Cười như mùa thu toả nắngCười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanhNhà thơ đã khẳng định tài năng miêu tả theo lối chấm phá của mình, vẫn là tái hiện vẻ đẹp con người qua ánh sáng mùa thu tình tứ, lại có nét cười trong ánh sáng mùa xuân trẻ trung tươi tắn, căng tròn sức sống. Nếu không phải là một hồn thơ đặc biệt nhạy cảm với vẻ đẹp cuộc sống, con người thì không thể nắm bắt được những vẻ đẹp ấy và miêu tả một cách tinh tế như vậy.Ngôn ngữ thơ chưa hẳn đã mới lạ bởi người đọc đã từng gặp “mùa xuân xanh” trong câu thơ [refa=EjtGFCLaQR-cL2GZdcpbaQ]Nguyễn Bính[/refa], “mùa xuân chín” trong thơ [refa=9f1Hth0gmM_PXzGNXg5Fog]Hàn Mặc Tử[/refa]... Song sức hấp dẫn của câu thơ ở chỗ hai chữ “xuân xanh” khép lại thi phẩm gợi mở cho người đọc nhiều liên tưởng. Những ấn tượng đầu tiên thật bình yên, thanh thản và đầy tin tưởng. Bởi thế âm điệu thơ, nhịp điệu thơ không còn dồn bức, căng thẳng ngột ngạt như những đoạn thơ trước mà bỗng nhiên thư thái êm đềm, nhẹ nhàng lan toả. Đoạn thơ sau dòng thì bốn dòng thơ giữa rất ngắn, gợi được cái âm điệu tưng bừng náo nức trong bước chân, trong ánh mắt, trong nét cười của con người. Dòng đầu và dòng cuối kéo dài không ngắt nhịp như cảm giác hạnh phúc ngập tràn.Với đoạn thơ cuối, Hoàng Cầm đã làm sống dậy một Kinh Bắc giàu đẹp đầy sức sống nhưng cũng không kém phần cổ kính, giàu truyền thống lịch sử văn hoá, nơi đó cất giữ tâm tình quê hương sâu nặng da diết của tác giả – một người con Kinh Bắc. Đoạn thơ còn lôi cuốn người đọc bởi những hình ảnh ngôn ngữ giàu chất nhạc, chất thơ, chất hoạ cũng như niềm tự hào về quê hương đất nước và sự ngưỡng mộ một hồn thơ tài hoa như Hoàng cầm.(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)tửu tận tình do tại☆☆☆☆☆ 35.00Trả lời
Bình giảng đoạn thơ Ai về Bên kia sông Đuống … Cười như mùa thu toả nắng
Gửi bởi tôn tiền tử ngày 23/01/2015 23:17
Nếu Quang Dũng để hồn mình lang thang nơi mây trời non nước xứ Đoài thì hồn thơ của Hoàng Cầm mãi đi về nương náu những mái đình, gốc đa, hội hè Kinh Bắc cổ kính ngàn đời. Dường như có hẳn một khoảng không gian riêng trong thơ Hoàng Cầm”một không gian Kinh Bắc, một thời gian Kinh Bắc”. Trên nền không gian ấy, cứ thấy “thấp thoáng một cô gái Kinh Bắc” thật gợi, thật thơ nên cũng rất say đắm quyến rũ lòng người.
Ai về Bên kia sông ĐuốngCó nhớ từng gương mặt búp senNhững cồ hàng xén răng đenCười như mùa thu toà nắngBên kia sông Đuống ra đời trong giây phút “xúc động hồn thơ của Hoàng Cầm. Bài thơ đã khắc hoạ sống động, tài hoa bức tranh Kinh Bắc cổ kính nên thơ giàu truyền thống trong hoài niệm, chứa chan tự hào tiếc nuối Kinh Bắc hiện ra với con sông Đuống “lấp lánh”, “cát trắng phẳng lì”, bãi hồ “biêng biếc” mía dâu với lúa nếp thơm nồng, tranh Đông Hồ “nét tươi trong” đậm đà bản sắc dân tộc cùng những con người bình dị ẩn chứa vẻ đẹp riêng. Đó là em bé “sột soạt quần nâu”, đó là những cụ già “phơ phơ tóc trắng”, những nàng “môi cắn chi quết trầu”. Không chỉ vậy, vẻ đẹp con người Kinh Bắc còn được tái hiện qua chân dung những cô thôn nữ.Người đọc một lần nữa lại thấy ở đây xuất hiện câu thơ:
Ai về bên kia sông ĐuốngGiọng thơ chứa đựng nỗi niềm khắc khoải khôn nguôi của tác giả về quê hương, lời thơ có cả cái tâm thế ngóng vọng đến bồn chồn da diết. Ngay sau đó, chân dung những thôn nữ Kinh Bắc – được tái hiện bằng những chi tiết rất giàu tính thẩm mỹ với “khuôn mặt búp sen” và hàm “răng đen”. Cùng nụ cười “như mùa thu toả nắng”. Đây là những nét gọi tả hơn là miêu tả “khuôn mặt búp sen” gợi nhiều liên tưởng: đó là một khuôn mặt xinh xắn, có màu phớt hồng, có hương thơm thanh quý. Hình ảnh và ngôn ngữ tạo hình tinh tế, tài hoa nét dáng và hình riêng của những thôn nữ Kinh Bắc với chiếc khăn mỏ quạ bình dị của dân tộc. Và những hàm răng “nhưng nhức” hạt na chứa cái duyên thầm. Như thế, con người đang được miêu tả bằng những chi tiết rất ấn tượng mang màu sắc thẩm mĩ, giản dị đôn hậu chất phác mà không kém phần duyên dáng nữ tính.Cách mô tả như thế ta đã từng gặp trong thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, và xa hơn là trong những áng ca dao trữ tình. Đặc biệt, nét cười của những thôn nữ ấy được cảm nhận như mùa thu toả nắng”. Hình ảnh thơ này trở thành điểm sáng lung linh nhất của đoạn thơ và toàn bài. Bởi lẽ đây là hình ảnh so sánh rất độc đáo và chính xác. Nắng mùa thu – thứ ánh sáng nhạt – nhẹ – dịu – ấm của xứ Bắc được dùng để biểu đạt nụ cười người con gái tạo ấn tượng nụ cười như đang làm bừng sáng không gian, làm ấm lòng người. Ta bỗng dưng thấy nhớ câu thơ Lưu Trọng Lư trong Nắng mới khi tái hiện nụ cười của người mẹ nơi kí ức mồ côi của đứa trẻ lên mười nhớ mẹ:
Nét cuời đen nhánh sau tay áoTrong ánh trưa hè trước dậu thưaTrong câu thơ của Lưu Trọng Lư, nắng là bối cảnh xuất hiện nụ cười của mẹ. Cái thứ nắng trong hoài niệm không âm u lanh lẽo mà ngược lại, rực rỡ ấm áp làm sáng lên nụ cười của mẹ. Còn ở câu thơ của Hoàng Cầm, nắng đồng hiện trong nụ cười, vẻ đẹp của nắng làm nên vẻ đẹp của thiếu nữ Kinh Bắc. Đây là lối tạo hình mang dấu ấn thi pháp riêng. Trong toàn bộ bài thơ, bất cứ vẻ đẹp nào của Kinh Bắc cũng được đồng hiện trong tương quan với ánh sáng, cùng ánh sáng, bằng ánh sáng. Từ vẻ đẹp của dòng sông Đuống “lấp lánh”, vẻ đẹp của tranh Đông Hồ “sáng bừng trên giấy điệp” đến vẻ đẹp của người mẹ Kinh Bắc “khuôn mặt bừng lên như dựng tráng” trong đêm đón nhận đoàn quân trở về giải phóng quê hương. Và sau này, đó là vẻ đẹp của người con gái Kinh Bắc “cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh” trong khung cảnh thanh bình. Nụ cười của các thiếu nữ còn gợi liên tưởng đến câu ca:
Miệng cười như thể hoa ngâuChiếc khăn đội đầu như thể hoa senCó điều trong mĩ cảm dân gian, nụ cười thôn nữ toả hương – thứ hương thầm kín đáo mà thanh cao. Còn thơ Hoàng Cầm coi đó là nét cười rạng rỡ, trong trẻo mà đượm chất “hiếu tình” – cái vẻ đẹp riêng của thôn nữ vùng Kinh Bắc. Cho nên ai đã từng một lần đến miền quê này, chứng kiến nụ cười con người nơi đây sẽ không thể không nhớ tới câu thơ Hoàng Cầm để cảm nhận rằng viết được câu thơ như thế quả thực phải là một cây bút tài hoa, phải là một hồn thơ tài hoa.Từng tha thiết bởi Đôi mắt người Sơn Tây trong thơ Quang Dũng, giờ đây người đọc lại bị ám ảnh bởi nụ “cười như mùa thu toả nắng” của thôn nữ Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm. Mỗi tác giả bằng tình cảm gắn bó sâu nặng với xứ sở, bằng tất cả sự tài hoa của mình khắc chạm trong lòng người những vẻ đẹp của con người trong khoảnh khắc xuất thần của tài năng và xúc cảm. Xuân Diệu đã từng nói “Câu thơ hay hay cả xác lẫn hồn”, những câu thơ tả sông Đuống và tả thôn nữ Kinh Bắc chính là những câu thơ như thế.(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)tửu tận tình do tại☆☆☆☆☆ 45.00Trả lời
Trang 12 trong tổng số 2 trang (16 bài trả lời)[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối
© 2004-2026 VanachiRSS
Đông Hồ và Bắc Hồ (tức làng Lạc Thổ) là hai thôn kề nhau bên bờ sông Đuống. Nay hai thôn hợp nhất gọi là Song Hồ. Đông Hồ nổi tiếng về nghề vẽ tranh dân gian ngày Tết: tranh gà lợn, tranh đám cưới chuột, tranh hứng dừa, tranh đánh ghen, tranh các anh hùng thời xưa... nét vẽ vui nhộn, hóm hỉnh, màu sắc tươi tắn, trong sáng. Giấy vẽ tranh của làng Hồ là loại giấy dó, dày và dai, quét điệp (một chất liệu chế tạo bằng bột vỏ điệp (giống như loài hến), hoà với chất keo, màu trắng tinh nổi cát óng ánh). Chó dại. Làng Hồ thường vẽ tranh lợn có xoáy âm dương xanh đỏ - tượng trưng loại lợn giống tốt, hay ăn chóng lớn. Ngày Tết, người ta treo tranh lợn âm dương để mong chăn nuôi phát đạt. Một đề tài tranh Đông Hồ rất vui nhộn. Lụa tơ tằm: Tuỳ theo chất liệu và kỹ thuật dệt để cho ra các loại lụa tơ tằm khác nhau:- Lụa: Được dệt từ các sợi tơ tằm đan lóng mót. Lụa có loại trơn bóng, có loại dệt hoa văn. Mặt lụa trơn, mịn, bóng và có độ ỏng ả bắt mắt. Khi cầm trên tay, lụa rất nhẹ, mềm, độ đàn hồi tốt.- Nhiễu (xước): được dệt từ sợi tơ tằm thô, chưa được chải chuốt kỹ lưỡng, tạo ra những đường “xước” nhỏ hoặc vân nổi trên bề mặt. Bề mặt nhiễu không nhẵn mịn như các loại lụa khác, mà có những đường vân, nếp nhăn nhỏ do các sợi tơ tạo ra trong quá trình dệt, có thể có ánh kim khi ánh sáng chiếu vào các đường “nhiễu”. Nhiễu thường được dùng may áo dài, váy.- The (sa): Là loại vải dệt thưa nên hơi trong, có thể nhìn xuyên qua lớp vải. Tuỳ vào cách bố trí sợi dọc và sợi ngang mà vải the có sự đa dạng về chủng loại. Vải the thường được dùng làm khăn, trang phục ngoài.- Sồi (chồi): Lụa tơ tằm dệt sợi thô, không đều, sợi có đoạn to đoạn nhỏ nên mặt xù xì. Nếu sợi dệt xe đôi thì gọi là sồi xe.- Lĩnh (lãnh): Là loại vải dệt từ sợi tơ tằm, một mặt bóng và một mặt mờ. Trong quá trình dệt, sợi dọc được đưa lên nhiều hơn nên vải có một mặt bóng loáng. Có hai loại lĩnh là lĩnh trơn màu đen (còn gọi là lĩnh thâm) và lĩnh hoa (có hoa văn mịn màng, kín đáo, còn gọi là lĩnh hoa chanh). Lĩnh thường được dùng may váy, quần phụ nữ.- Đũi: Là loại tơ tằm dệt trơn, sợi to hơn lụa, hơi giống vải bố nhưng mềm và mịn hơn. Vải đũi mỏng, nhẹ, không bám dính, khi mặc tạo cảm giác nhẹ nhàng.- Gấm: Được coi là bà chúa của các loại hàng dệt tơ, gấm là loại vải dệt rất dày với các hoạ tiết đủ màu. Các sợi tơ dệt gấm được nhuộm màu trước, sau đó mới cho vào dệt, sợi dọc tạo nền chìm, sợi ngang tạo hoa nổi. Bởi thế, khi thay đổi góc sáng, mặt hoa văn gấm lại cho ra nhiều sắc độ khác nhau rất trang nhã.- Vóc: Loại lụa dệt bằng tơ, bóng mịn, có hoa.- Nhung: Nhung truyền thống được dệt hoàn toàn bằng sợi tơ tằm, mang lại độ mềm mại, bóng mượt và sang trọng đặc trưng. Ngày nay nhung thường được pha hoặc làm hoàn toàn từ các chất liệu khác.- Đoạn: Loại tơ tằm dệt thưa hơn gấm, sợi dọc sợi ngang đều. Có loại khi dệt, người ta chập tám sợi tơ với nhau thành một sợi, loại đoạn đó gọi là đoạn bát ti. Đoạn bát ti dùng làm triều phục của hoàng đế và quan lại triều Nguyễn. Vì tính chất dày, nặng, đoạn thường dùng cho trang phục mùa đông.- Vân: Là mặt hàng lụa mỏng có hoa nổi, hoa chìm. Hoa nổi trên mặt lụa thì bóng mịn. Còn hoa chìm phải soi lên ánh sáng mới thấy được. Vân do Vạn Phúc dệt là loại sản phẩm nổi tiếng. » Có 62 nội dung dùng giải nghĩa:- Anh đi khăn nhiễu áo the (Khuyết danh Việt Nam)
- Anh may cho em một cái áo tứ thân (Khuyết danh Việt Nam)
- Anh may cho em một cái quần lãnh trắng (Khuyết danh Việt Nam)
- Anh như tấm vóc đại hồng (Khuyết danh Việt Nam)
- Anh như trúc mọc ngoài trời (Khuyết danh Việt Nam)
Từ khóa » đuống Là
-
Đuống – Wikipedia Tiếng Việt
-
Sông Đuống – Wikipedia Tiếng Việt
-
Sông Đuống - Cồ Việt Mobile - Tri Thức Việt
-
Sông Đuống - Người Kể Sử
-
Khai Thông Sông Đuống Dưới Triều Minh Mệnh
-
Từ điển Tiếng Việt "sông đuống" - Là Gì?
-
Chàm đuống | Cổng Thông Tin Điện Tử Phú Thọ
-
Phân Tích Bài Thơ Bên Kia Sông Đuống Của Hoàng Cầm
-
Đúng, đó Là Sông Đuống - VnExpress
-
Chính Xác, Sông Đuống Nối Sông Hồng Và Sông Thái Bình - VnExpress
-
Phân Tích Bài Thơ “Bên Kia Sông Đuống” Của Hoàng Cầm - TailieuXANH
-
Từ đuống Là Gì - Tra Cứu Từ điển Tiếng Việt
-
Phân Tích Bài Thơ Bên Kia Sông Đuống Của Hoàng Cầm - Thủ Thuật