BLC No.12: “Để Lời Thệ Hải Minh Sơn…” | Uyenminh's Blog

(©uyenminh.wordpress.com)

LTS: “Bên ly Chardonnay” đã đi được gần một nửa chặng đường, và được bạn bè thân bằng cố hữu gần xa nhiệt tình ủng hộ, khiến cho facebooker Doan Tien rất lấy làm cảm kích. Thú thật, mặc dù đã lên list cho 24 chuyện sẽ biên, song từ ý tưởng cho đến khi thành một câu chuyện hoàn chỉnh cũng không phải là đơn giản. Thật may, bạn thienlydochanh…@yahoo.com lại gỡ giùm cho cho tôi một bàn thua nữa bằng bài viết này. Trân trọng giới thiệu:

I. Đây lại tiếp tục nói chuyện Ba chàng lính ngự lâm khoa BC, trường Quốc gia đại học sỹ sau cái đợt tao ngộ ở Cố đô Huế mới lại chia tay nhau mà mỗi người đi một nẻo (*).

Thời gian như bóng câu qua cửa, thấm thoắt mà đã mấy mùa xuân hoa đào đỏ rừng Tây Bắc, mùa hạ trời xanh lồng lộng, thu đến hoa sữa ngào ngạt, đông về mặt hồ hiu hắt bảng lảng sương. Một bữa Đinh Đại Tí (Tí Athos) đang mải cuộc chắn cạ với đám văn nhân tài tử chốn Nguyễn Du lộ, Hoàn Kiếm phủ thì nhận được một tin nhắn, vỏn vẹn có hai chữ “CF?”. Không biết hai chữ này hàm chứa nghĩa gì mà Tí bật dậy như tôm, vội vàng tạm biệt mọi người mà nhảy lên chiến mã “Điện dịch” (Dream) nhằm hướng Thái Bình Đông Trấn thẳng tiến.

CF vốn là ám hiệu của ba chàng lính ngự lâm khoa BC, từ hồi các chàng còn thụ giáo ở Báo chí Bang, trường Quốc gia đại học sỹ. Nguyên nó là viết tắt của từ “coffee” (cà phê – một thức uống bổ dưỡng và gây kích thích thần kinh) là ngôn ngữ du nhập từ xứ Anh Cát Lợi (England) nhưng sau được ba chàng đổi ra thành Crystal Finger (tạm dịch: ngón tay pha lê) nghe cho nó thêm phần… oai phong.

Đám “ngự lâm quân” ở Báo chí bang vốn xuất thân tứ xứ giang hồ, thi vào đại học cốt chỉ lấy chốn giao lưu với anh hùng hào kiệt, chứ họ thừa biết ở ngôi trường mình học hầu như chả có thứ quái gì đáng học cả. Hàng ngày, đám này cũng vác sách ốc lên giảng đường như ai. Song mười buổi thì chín buổi rưỡi chỉ nhăm nhe xong tiết một là các ngón tay (Crystal Finger) thấy đan lên chíu chíu. Nhận được ám hiệu, các chàng ngự lâm lập tức mắt trước mắt sau rút hết về phía Tĩnh Cảng (Canteen), gọi một lượt “hàn băng trà” (trà đá) để cùng nhau chém gió cho tới trưa vặt mới lại rút về gia trang. Từ ngày ra trường, CF trở thành tín hiệu để các chàng tụ họp mỗi khi có việc cần kíp, hiếu hỷ…

II.

Quay lại chuyện Tí Athos sau khi nhận được “mật hiệu” ngón tay pha lê, phải tức tốc chạy về Thái Bình để gặp các em. Vừa lên đến nơi đã thấy Xú Văn Tuấn (Tuấn Aramis) và Xú Văn Tú (Tú Pothos) đang khệ nệ khênh một chiếc cối.

Nguyên Tú tên khai sinh là Bùi Văn Tú, con của Bùi Công đất Quỳnh Phụ, Thái Bình Đông Trấn. Trước Bùi Công làm tới chức quan to trong Khu Mật Viện, sau về già thì lui bước mà vui thú điền viên, chén rượu cuộc cờ. Lại có thói quen chuyên sưu tầm những loài kỳ hoa dị thảo đem về mà chăm sóc mua vui. Trong nhà đầy đủ những món đồ gia bảo, trâu cày ngựa cưỡi không sao đếm xuể, lúc nào cũng có hơn chục gia nhân, băm chặt suốt ngày, hào kiệt tới lui tấp nập.

Cách đây hai mươi sáu năm ái thiếp của Bùi Công trong một đêm mơ thấy sao Thần Nông rơi vào miệng. Chín tháng sau sinh hạ được một bé trai khôi ngô tuấn tú trắng trẻo, Bùi Công yêu lắm mới đặt hiệu là Ngọc Trung Mễ (ngọc trong lúa). Sau Trung Mễ lên Thăng Long học thì kết giao với đám Tí, Tuấn mà được bạn bè mến mộ mới đặt cho ngoại hiệu là… Xú Văn Tú.

Thế nên, bọn mục đồng trong vùng mới có bài vè rằng:

Bùi gia ở đất Tư Môi

Nổi danh Quỳnh Phụ, Quỳnh Côi xa gần

Thường nuôi mấy chục gia nhân

Hầu hạ hảo hán người gần kẻ xa

Bùi sinh được một thiếu gia

Đặt tên Trung Mễ thật là oai phong

Sau học ở đất Thăng Long

Chúng bạn yêu mến gọi là Xú Văn.

Trở lại chuyện cối đá. Nhìn sơ qua thì có thể thấy nó phải nặng tới hàng tạ, vì Tuấn Aramis từ thời sinh viên vẫn được chúng bạn gọi bằng biệt danh là “Thiên cân lực sỹ” mà cũng phải nhắm mắt nhắm mũi vừa đi vừa thở hổn hển. Dựng xe, Tí Athos xắn tay vào phụ giúp các em. Sau khi đã nâng được chiếc cối lên miệng giếng, Tú Pothos mới lẩm nhẩm mấy câu rồi đẩy “ùm” một cái, chiếc cối chìm nghỉm dưới làn nước. Chưa hết, Tú Pothos còn rút đâu ra một ngọn rong, thả nốt xuống giếng rồi cùng anh em phủi tay đi về.

Sau khi đã cơm rượu no say, Tú Pothos mới cất lời: “Em mới có nhắn tin được chưa đầy canh giờ, đã thấy các anh em có mặt khiến tiểu đệ xúc động không biết để đâu cho hết. Sau lại giúp đệ thực hiện xong một việc tuy hơi kỳ quặc, nhưng lại rất quan trọng đối với em. Cũng chả giấu gì huynh đệ, chuyện cũng khá dài…

III.

Số là cách đây hai mươi sáu năm, Bùi Công với một danh sỹ làng bên họ Đào – cũng là chi trưởng của họ to nhất của làng – có mối giao tình. Khi Trung Mễ chào đời, và nhà bên cũng sinh một bé gái tứ thân phụ mẫu có hẹn ước sau này sẽ tác thành mối lương duyên. Tương truyền khi Đào thị có mang thì thấy một vành trăng màu xanh chui tọt vào bụng, nên mới đặt tên là Lam Nguyệt.

Quả thật, từ nhỏ đôi bên cũng hay qua lại và đến năm 18 tuổi thì Tú chính thức cảm mến con nhà người ta. So Lam Nguyệt của Tú với Quỳnh Vy của Tí ngày trước thì đúng là “kẻ quốc sắc/người thiên hương – nhất cố khuynh thành/tái cố khuynh quốc”.

Khi học đại học, Lam Nguyệt học bên trường Quốc tế ngữ (HUFS). Ra trường, Tú về Quỳnh Côi lập nghiệp được một thời gian thì phía bên kia bội ước trả lại trầu cau để cho người ta đi lấy một nghị sĩ kiêm doanh nhân. Nhưng buồn hơn, là mảnh đất rộng 3 vạn dặm vuông mà ngày xưa thân phụ Tú mua để sau này cất nhà cho đôi “thanh mai trúc mã”, cũng bị phía bên kia chiếm nốt. Phụ thân em trước thế sự đảo điên, thì chán ngán mà suốt ngày chỉ vùi mình vào chè rượu với lá bài tổ tôm, chắn cạ.

Cách đây ít ngày đệ lên núi thắp hương, dọn dẹp mộ tổ thì được một vị cao nhân đưa cho một chiếc cối đá và một cành rong, dặn đúng giờ Tí ngày Ất Mùi, tháng Giáp Thân, năm Canh Dần thì mang yểm dưới cái giếng đầu làng. “Cho tới khi nào cối đá nổi lên, rong chìm xuống thì trai gái hai làng này mới được qua lại với nhau. Còn không thì mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần nhằm vào dịp mưa ngâu tháng 7 mà thôi!”.

Chưa nghe dứt câu chuyện, Tí Athos đã vỗ đùi đánh đét, cười ha hả: “Tưởng đệ ngâm cối xuống dưới nước để cho nó… thêm phần bền chắc, chứ ngâm một chứ ngâm mười chiếc thì cũng chả có tác dụng gì đâu. Ngày trước, khi ta còn đang đắm chìm trong bể tình ái với Quỳnh Vy cô nương, đệ đã chả ra sức khuyên can. Nào thì đức lớn đức bé, nào thì đũa mốc mâm son… thôi thì chả còn thiếu nhẽ gì. Ấy thế mà bây giờ tới lượt mình, đệ lại đi làm một cái việc nực cười là yểm chú chặn tình duyên.

Với lại, rất có thể trong chuyện này còn có những khúc mắc mà tạm thời đệ chưa hiểu hết. Có thể ít lâu nữa, người ta sẽ sang tận nơi để thưa rõ ngọn ngành. Đệ không nên nhìn hiện tượng mà quy thành bản chất, khéo không lại trở thành người hồ đồ”.

“Huynh nói như vậy, đệ trộm nghĩ có điều chưa hẳn đã đúng. Chuyện anh với Quỳnh Vy là do hai người tự đến tự đi. Đằng này chuyện của em lại là “để lời thệ hải minh sơn”, hai gia đình đã có nguyện ước thề nguyền từ lâu. Nghe phụ thân kể lại, thì trong một lần hai gia đình đi chơi ở mạn Hải Ninh, cha em và danh sĩ họ Đào kia đã bắt tay nhau: “Cho tới khi nào biển kia cạn, núi kia thành đồng bằng thì lời nguyện ước này mới hết tác dụng”. Ở đời, người ta sống được với nhau vốn ở hai chữ tín, nghĩa. Bây giờ, non xanh còn đó, biển kia vẫn vậy mà người ta đã bội tín, nghĩa cũng chả còn huynh bảo đệ phải nghĩ thế nào”.

Tí Athos lựa lời:

“Còn nhớ, hồi anh em ta “kết nghĩa vườn chuối” ở Mễ Trì cốc, Thanh Xuân quận đệ bảo tuy anh em ta cùng nên nghĩa Lưu, Quan, Trương song thực bụng đệ vẫn ngưỡng mộ Thường Sơn Triệu Tử Long. Đệ từng say sưa: Tử Long mới thực là trang nam nhi hảo hán. Bên cạnh tài năng, khí phách phi thường (trong trận Đương Dương Trường Bản cứu ấu chúa), Tử Long còn đầy hào hiệp, nhân nghĩa, trí tuệ (trong việc từ chối lấy chị dâu của Triệu Phạm).

Khi Huyền Đức chất vấn, vì sao họ Triệu có lòng tốt muốn kết mối duyên lành, em ta lại không chịu. Tử Long khẳng khái đáp: “Đã sinh ra ở trong trời đất chỉ lo không lập được công danh, đền nợ nước; chứ còn việc lấy vợ lúc nào chả được”. Thế có phải là đệ đã quên hết những điều ấy?

Lại nữa, có lần ba anh em đi du xuân ở mạn Bắc Ninh Phật Tích được một vị tiên ông, vì quý mến mà tặng cho 14 chữ để về treo rằng, “Tố nhân bất hữu khinh ngạo thái. Nhiên, bất khả vô khinh ngạo cốt” (**) chẳng lẽ em đã quên rồi sao? Lam Nguyệt của đệ đẹp thì có đẹp thật đấy song những hành động của họ Đào liệu có đáng để cho ta phải ưu sầu đến thế?”

Nghe đến đây, Tú porthos lặng thing không đáp.

Bấy giờ, Tuấn Aramis mới góp lời:

“Chuyện yểm chú thì em bán tín bán nghi, song em cũng thấy cái chuyện bội ước, khước tình giữa hai bên cũng không phải là điều gì quá đau buồn. Huynh có nhớ thời gian còn học ở trường Quốc gia đại học sỹ, anh em ta được thụ giáo một môn gọi là “Triết học bảo điển”. Môn này em đặc biệt thích, và người ta gọi tên nó là “Khoa học của mọi khoa học”, em nghĩ cũng không phải là quá lời. Học xong môn này, em mới vỡ ra biết bao nhiêu điều, và khi mang áp dụng trong cuộc sống thì càng thấy chí lý biết bao. Có luận điểm mà em rất nhớ, đó là “vạn vật luôn biến đổi một cách khách quan”. Như một câu của bài hát trong phim Tam quốc: “Thị phi thành bại theo dòng nước/Sừng sững cơ đồ bỗng như không”. Luận điểm này còn được khái quát thành định lý “thường dịch”, công nhận rằng: Trời đất, vạn vật luôn luôn biến chuyển, không ngừng. Trong xã hội, cái được/mất/thành/bại/có/không… đều là những khái niệm tương đối cả. Hôm nay còn, mai đã mất.

Nếu em nghiên cứu về Phật giáo, thì sẽ còn biết được khái niệm “vô vi, vô ngã, vô thường”. Hiểu nôm na, đệ tưởng là đệ có rất nhiều (nhà cửa, vườn tược, đất đai cho đến chiến mã, nghiên mực…); song thực ra đệ lại không có cái gì cả. Nói thế để biết rằng, dù thề non hẹn bể hôm nay nhưng đến hôm sau đã có thể không còn tí ti giá trị nào, nữa là hai bên thông gia đã thề bồi từ hai chục năm trước. Nói thì lại bảo là “tái ông thất mã”, thế nhưng chuyện người ta bội ước cũng chưa hẳn là chuyện tồi tệ quá. Vì rằng, nếu như để tới khi “gạo nấu thành cơm” rồi, mà mới phát hiện ra toàn… cơm khê, cơm cháy rồi thì em định giải quyết thế nào. Chả lẽ đành đổ đi hết để mà gieo mạ lại từ đầu chăng? Triết học cũng có nói, “một cánh cửa đóng lại, cũng có nghĩa là một cánh cửa mở ra”. Nếu như đặt trường hợp đệ bỗng dưng một ngày thấy Lam Nguyệt cô nương chả còn chút hấp dẫn nào với mình nữa, trong khi đệ lại gặp một giai ngẫu khác thì đệ tính sao? Cũng phải đặt mình vào trường hợp của người ta, để mà thông cảm cho họ nữa chứ”. “Những điều huynh đài góp ý, em đều hiểu cả.

Thế nhưng dưới vòm trời này chả lẽ không có cái gì là vĩnh cửu sao”?

“Dĩ nhiên có những cái vĩnh cửu. Thứ nhất là tùy vào quan niệm của mỗi người. Nếu như em nghĩ điều ấy là vĩnh cửu, thì nó sẽ là vĩnh cửu. Thứ nữa có những điều được gọi là vĩnh cửu, song nó không đứng yên một chỗ mà luôn luôn biến đổi. Chủ thể thấy được nó là vĩnh cửu là do chủ thể cũng vận động phát triển “cùng pha” với sự vật, sự việc. Còn khi lệch pha thì cái vĩnh cửu cũng tự nhiên mà mất đi”.

Tí Athos nói đến đây thì Bùi Công từ trong rèm bước ra mỉm cười: “Ta rất mừng vì Trung Mễ đã có những người anh em rất tốt, lại thông minh đĩnh ngộ, hiểu biết lịch duyệt. Nhân có 3 chàng lính ngự lâm ở đây, ta tổ chức một hội chứ nhỉ. Rồi ông ngân nga: “Làm trai biết đánh tổ tôm/ Uống chè mạn hảo nghe Nôm Thúy Kiều”…

(*)Xin xem thêm ở BLC No 10: Huế, Phùng Quán và “Ba phút sự thật” http://www.facebook.com/note.php?note_id=409313678061

(**) Muốn biết rõ, xin mở lại “Mùa lá rụng trong vườn” – Ma Văn Kháng.

Share this:

  • Facebook
  • X
Like Loading...

Related

Từ khóa » đệ Lời Thệ Hải Minh Sơn