Bờ Biển Ngà – Wikipedia Tiếng Việt

Bờ Biển Ngà, hay Côte d'Ivoire[8] (phát âm tiếng Pháp: [kotdivwaʁ], phiên âm tiếng Việt: Cốt-đi-voa), quốc hiệu chính thức là Cộng hòa Côte d'Ivoire[9][10] (tiếng Pháp: République de Côte d'Ivoire), là một quốc gia ở Tây Phi, giáp với Liberia về phía tây, Guinea và Mali về phía tây bắc, Burkina Faso về phía đông bắc, Ghana về phía đông và nằm bên cạnh Vịnh Guinea về phía nam. Thủ đô Bờ Biển Ngà là Yamoussoukro, thành phố lớn nhất là Abidjan. Năm 2024, dân số của Bờ Biển Ngà là 31,5 triệu người, là dân số cao thứ ba tại Tây Phi.[2]

Cộng hòa Côte d'Ivoire
Tên bản ngữ
    • République de Côte d'Ivoire (tiếng Pháp)
    • Kɔdiwari Jamana (tiếng Dyula)
Quốc kỳ Bờ Biển Ngà Quốc kỳ Quốc huy Bờ Biển Ngà Quốc huy
Tiêu ngữ: 'Union – Discipline – Travail' (tiếng Pháp)'Đoàn kết – Kỷ luật – Lao động'
Quốc ca: L'Abidjanaise(Bài ca Abidjan)
Bản đồ thế giớiBản đồ châu Phi
Tổng quan
Thủ đôYamoussoukro6°51′B 5°18′T / 6,85°B 5,3°T / 6.850; -5.300
Thành phố lớn nhấtAbidjan
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Pháp
Tiếng bản xứ
  • Tiếng Bété
  • Tiếng Dyula
  • Tiếng Baoulé
  • Phương ngữ Bono
  • Tiếng Agni
  • Tiếng Senufo
  • ngôn ngữ khác
Sắc tộc (2021)[1]
  • 78.0% người Bờ Biển Ngà
    • 38.0% người Akan
    • 22.0% người Bắc Mande
    • 22.0% Voltaiques/Gur
    • 9.1% người Kru
    • 8.6% người Nam Mande
    • 0.3% nhập quốc tịch
  • 22.0% người nước ngoàia
Tôn giáo (2021)[1]
  • 42.5% Hồi giáo
  • 39.8% Kitô giáo
  • 12.6% không tôn giáo
  • 2.2% tôn giáo truyền thống châu Phi
  • 2.2% không xác định
  • 0.7% tôn giáo khác
Tên dân cư
  • Người Bờ Biển Ngà
  • Ivory Coasters
Chính trị
Chính phủCộng hòa tổng thống chế đơn nhất
• Tổng thống Alassane Ouattara
• Phó Tổng thống Tiémoko Meyliet Koné
• Thủ tướng Robert Beugré Mambé
Lập phápQuốc hội
• Thượng việnThượng viện
• Hạ việnHạ viện
Lịch sử
Lịch sử
• Tuyên bố thành lập 4 tháng 12 năm 1958
• Độc lập từ Pháp 7 tháng 8 năm 1960
Địa lý
Diện tích  
• Tổng cộng322,462 km2 (hạng 68)124,502 mi2
• Mặt nước (%)1.4[4]
Dân số 
• Ước lượng 202431,500,000[2] (hạng 49)
• Điều tra 202129,389,150[3]
• Mật độ97.7/km2 (hạng 139)236/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2023
• Tổng sốTăng 202,647 tỷ đô la Mỹ[5] (hạng 78)
• Bình quân đầu ngườiTăng 6.960 đô la Mỹ[5] (hạng 138)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2023
• Tổng sốTăng 79,430 tỷ đô la Mỹ[5] (hạng 84)
• Bình quân đầu ngườiTăng 2.728 đô la Mỹ[5] (hạng 141)
Đơn vị tiền tệFranc CFA Tây Phi (XOF)
Thông tin khác
Gini? (2021)Giảm theo hướng tích cực 35.3[6]trung bình
HDI? (2023)Tăng 0.582[7]trung bình · hạng 157
Múi giờUTC±00:00 (Giờ chuẩn Greenwich)
Cách ghi ngày thángdd/mm/yyyy
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+225
Mã ISO 3166CI
Tên miền Internet.ci
  1. Bao gồm khoảng 130.000 người Liban và 14.000 người Pháp.

Trước khi bị thực dân châu Âu chiếm đóng, Bờ Biển Ngà bao gồm nhiều nước nhỏ như Gyaaman, Kong Empire, và Baoulé. Ngoài ra còn có hai vương quốc của Người Anyi, đó là IndéniéSanwi, những quốc gia đã cố gắng duy trì sự độc lập của mình trong suốt thời kì Pháp thuộc và kể cả về sau này, khi Bờ Biển Ngà đã giành được độc lập.[11] Hiệp định 1843-1844 buộc Bờ Biển Ngà chấp nhận sự bảo hộ của Pháp vào năm 1883, Bờ Biển Ngà trở thành một bộ phận của hệ thống thuộc địa của Pháp.

Bờ Biển Ngà tuyên bố độc lập vào ngày 7 tháng 8 năm 1960. Từ năm 1960 đến năm 1993, Bờ Biển Ngà được lãnh đạo bởi Félix Houphouët-Boigny. Trong giai đoạn này, Bờ Biển Ngà vẫn giữ mối liên kết mật thiết về kinh tế với các nước láng giềng Tây Phi cũng như các nước châu Âu, đặc biệt là Pháp. Tuy nhiên, sau giai đoạn lãnh đạo của Houphouët-Boigny, Bờ Biển Ngà trải qua hai cuộc đảo chính và một cuộc nội chiến,[12] bất chấp cuộc bầu cử[13] và một hiệp định giữa chính phủ mới và nhóm nổi loạn được ký kết mang lại hòa bình cho Bờ Biển Ngà.[14] Bờ Biển Ngà là thành viên Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, Liên minh châu Phi, Cộng đồng Pháp ngữ, Liên minh Latinh, Cộng đồng Kinh tế Tây Phi và Khu vực hòa bình và hợp tác Nam Đại Tây Dương.

Ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp nhưng Bờ Biển Ngà có rất nhiều thổ ngữ bao gồm tiếng Baoulé, tiếng Dioula, tiếng Dan, tiếng Anyin và tiếng Cebaara Senufo. Tôn giáo chính ở Bờ Biển Ngà là đạo Hồi, đạo Thiên Chúa và những tôn giáo bản địa khác.

Thông qua xuất khẩu cà phê và cacao, Bờ Biển Ngà là một nền kinh tế mạnh mẽ ở Tây Phi vào thập niên 1960-1970. Tuy nhiên, vào thập niên 1980, Bờ Biển Ngà đã phải trải qua khủng hoảng kinh tế, khiến cho quốc gia này trở nên rối loạn về chính trị xã hội. Kinh tế Bờ Biển Ngà trong thế kỉ 21 vẫn chủ yếu dựa vào kinh tế tiểu chủ nông nghiệp.[4]

Mục lục

  • 1 Tên gọi
  • 2 Lịch sử
    • 2.1 Thuở sơ khai
    • 2.2 Thời kỳ thuộc địa
    • 2.3 Độc lập
    • 2.4 Houphouët-Boigny quản lý
    • 2.5 Bédié quản lý
    • 2.6 Đảo chính năm 1999
    • 2.7 Gbagbo quản lý
    • 2.8 Đảo chính năm 2002
    • 2.9 Chính phủ thống nhất 2003
    • 2.10 Hậu quả 2004 - 2007
    • 2.11 Chính quyền Ouattara
  • 3 Địa lý
  • 4 Chính trị
    • 4.1 Phân cấp hành chính
  • 5 Kinh tế
  • 6 Nhân khẩu
    • 6.1 Đô thị hóa
    • 6.2 Ngôn ngữ
    • 6.3 Tôn giáo
    • 6.4 Y tế
  • 7 Văn hóa
    • 7.1 Văn học, nghệ thuật truyền thống và tượng hình, các công trình kiến trúc
    • 7.2 Thể thao, truyền thông, giải trí
  • 8 Ghi chú
  • 9 Tham khảo
  • 10 Thư mục
  • 11 Liên kết ngoài

Từ khóa » Bờ Biển Ngà Thuộc Quốc Gia Nào