[Bố Mẹ Cần Biết] Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sơ Sinh - FaGoMom
Có thể bạn quan tâm
Đối với bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh chính là một trong những bệnh lý dẫn đến suy hô hấp cấp khá phổ biến, thường xảy ra đối với trẻ sinh non. Trẻ sơ sinh có những bệnh lý mà chúng ta không thể biết trước được, chính vì thế các chuyên gia FaGoMom đưa ra bài viết dưới đây để cha mẹ hiểu hơn về bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh. Đồng thời bệnh có nguyên nhân từ sự phát triển chưa hoàn chỉnh của đường hô hấp và sự thiếu hụt surfactant, là một hoạt chất trên bên mặt trong của túi phế nang.
Bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh là gì
Đối với trẻ sơ sinh, bệnh màng trong là một trong những nguyên nhân phổ biến gây suy hô hấp cấp, đặc biệt ở trẻ sinh non tháng. Có thể nói đây là bệnh lý gây tử vong nhiều nhất ở trẻ sinh non.
Ở trẻ sinh non, bệnh màng trong xảy ra do phổi của trẻ chưa trưởng thành hoàn toàn. Bởi vì thiếu chất hoạt động bề mặt sẽ làm cho các túi phế nang trong phổi của trẻ bị xẹp xuống, huyết tương từ các mao mạch sẽ tràn vào các phế nang và cản trở quá trình hô hấp. Trẻ mắc bệnh màng trong thường có biểu hiện suy hô hấp cấp nặng sau vài phút đến vài giờ, cần loại trừ các nguyên nhân khác liên quan đến nhiễm trùng, hít phải nước ối.
Nếu mẹ quản lý tốt thai nhi trong thời kỳ mang thai thì bệnh màng trong ở trẻ đẻ non là bệnh có hiệu quả phòng bệnh trước khi sinh. Những thai phụ có tiền sử sinh non, hoặc có những bất thường khác làm tăng khả năng sinh non như cổ tử cung ngắn hoặc nhiễm trùng thì cần theo dõi thai kỳ hơn để kịp thời điều trị, tránh ảnh hưởng đến đường hô hấp cho trẻ em.

Bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh
Xem thêm: [Thực đơn] cho trẻ bị thiếu máu được bác sĩ khuyên dùng
Nguyên nhân gây bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh
Thực tế, có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh. Cụ thể về các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này ở phần dưới đây:
- Do thiếu chất hoạt động bề mặt và hệ hô hấp chưa hoàn thiện là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bệnh màng trong ở trẻ sinh non. Bởi vì, surfactant là hoạt chất nằm bên trong phế nang, có nhiệm vụ duy trì sức căng bề mặt của túi phế nang, giữ cho chúng không bị xẹp xuống trong quá trình hô hấp. Ở thai nhi khỏe mạnh, tế bào phế nang loại 2 bắt đầu tiết chất hoạt động bề mặt khi thai được 20 tuần và phát triển hoàn thiện hệ thống phế nang khi thai được 32 tuần.
Trẻ sinh non mắc bệnh màng trong phải đối mặt với tình trạng giảm diện tích bề mặt trao đổi khí ở phế nang do xẹp phổi, thiếu oxy đi nuôi cơ thể dẫn đến toan máu, tổn thương cấp tính và mãn tính ở nhu mô phổi. Đồng thời, phổi tiếp tục bị tổn thương làm cản trở quá trình sản xuất surfactant, tăng phù phế nang do ứ dịch và lắng đọng các sợi fibrin.
Ngoài ra, bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh được chia thành hai nhóm chính: bệnh màng trong nguyên phát xảy ra ở trẻ non tháng và bệnh màng trong thứ phát xảy ra ở trẻ đủ tháng và gần đủ tháng. Như vậy, bệnh màng trong không chỉ xảy ra ở trẻ sinh non. Đồng thời, tỷ lệ mắc bệnh màng trong ở trẻ sinh đủ tháng là khoảng 5% và rất hiếm gặp ở thai trên 38 tuần. Một số yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ phát triển bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh là:
+ Tăng nồng độ glucose trong máu mẹ.
+ Mẹ bị tiểu đường thai kỳ.
+ Nồng độ insulin trong máu mẹ cao.
+ Trẻ hít phải phân
+ Tình trạng viêm nhu mô phổi.
+ Sinh mổ.

Trong thời kỳ thai kỳ mẹ bị đái tháo đường làm nguy cơ mắc bệnh cho bé
Dấu hiệu nhận biết bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh
Bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh được đặc trưng bởi tình trạng suy hô hấp xảy ra ngay sau khi sinh. Các triệu chứng thường bắt đầu khoảng 6 giờ sau khi sinh, với một số triệu chứng nhẹ sau vài ngày. Suy hô hấp đến đột ngột với các triệu chứng như:
+ Bé có biểu hiện tím tái da và niêm mạc, diễn tiến nặng hơn theo thời gian.
+ Nhịp thở tăng nhanh, đối với trẻ cực non tháng nhịp thở có thể chậm lại.
+ Mạch nhanh
+ Dấu hiệu sử dụng các cơ hô hấp phụ: cánh mũi phồng lên, cơ ức đòn chũm.
+ Giảm thông khí phổi. Vùng giảm thông khí lan rộng từ khu vực cục bộ đến toàn bộ phổi.
+ Khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh màng trong mà không được phát hiện và điều trị kịp thời, trẻ mắc bệnh màng trong sẽ rơi vào trạng thái nặng với các triệu chứng vật vã, ngáp, nhịp thở thấp, từng cơn. ngừng thở và dẫn đến tử vong.

Tình trạng suy hô hấp cấp xảy ra khoảng 6 giờ đầu sau khi sinh
Các phương pháp chẩn đoán bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh
Chẩn đoán bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh cần kết hợp khai thác các yếu tố nguy cơ của bệnh, các triệu chứng ban đầu của bệnh và làm thêm các xét nghiệm cận lâm sàng. Ở trẻ sinh non, bệnh màng trong thường biểu hiện với tần suất cao, trẻ bị ngạt thở do hít phải phân cao su và mẹ bị tiểu đường. Các biểu hiện lâm sàng chính là suy hô hấp nặng, bệnh nặng dần theo thời gian. Khi nghi ngờ đứa trẻ bị lạc nội mạc tử cung, các phương tiện cận lâm sàng thường được sử dụng nhất để hỗ trợ làm rõ chẩn đoán bao gồm:
+ Chụp Xquang phổi: Đối với bệnh lý màng trong sơ sinh có tổn thương nốt mờ rải rác hai bên phổi, kèm theo hình ảnh tổn thương ứ máu phế quản. Trong những trường hợp nặng, dịch trong mô kẽ phổi tạo ra hình ảnh mờ dạng lưới hoặc mờ toàn bộ hai trường kèm theo xẹp phổi.
+ Khí máu động mạch: Điều này giúp xác định suy hô hấp cấp và nhiễm toan máu. Nhiễm toan mất bù trong máu là dấu hiệu tiên lượng xấu cho trẻ.
+ Xét nghiệm sinh hóa nước ối, dịch tiết phế quản hoặc dạ dày để xác định tình trạng sinh non ở trẻ.
+ Giải phẫu bệnh: Đối với phương pháp này, các chuyên gia sẽ lấy mô phổi của bệnh nhân để giải phẫu bệnh nhằm chẩn đoán chính xác bệnh, việc này chỉ có thể tiến hành hồi cứu trên tử thi. Phổi bị tổn thương có biểu hiện xẹp phổi, lòng phế nang chứa nhiều tế bào viêm và sợ fibrin, mô kẽ xung huyết.

Phương pháp xét nghiệm mẫu bệnh phẩm để đưa ra chẩn đoán bệnh chính xác
Các phương pháp điều trị bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh
Thời điểm phát hiện để điều trị có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả điều trị bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh. Nếu trẻ mắc bệnh được phát hiện sớm ngay sau khi sinh sẽ làm tăng tỷ lệ điều trị thành công.
- Hạn chế tác động vào trẻ:
Cha mẹ cần tìm cách hạn chế tối đa những động tác chăm sóc ảnh hưởng đến người bệnh. Chiến lược thích hợp nhất là có kế hoạch tập trung các cử động đồng thời vào bệnh nhân để tránh cho bệnh nhân bị ảnh hưởng quá nhiều lần trong một thời gian dài. Bất kỳ kích thích nào khiến trẻ khóc đều có thể làm tăng nhịp chuyển động từ phải sang trái và làm giảm khả năng hô hấp. Việc hạn chế tác động đến trẻ là cần thiết nhưng thực tế trẻ vẫn phải chịu nhiều tác động bắt buộc.
- Theo dõi sát tiến triển:
Cho bé đi khám phổi định kỳ và kiểm tra huyết áp hàng giờ trong những giờ đầu tiên. Đảm bảo huyết áp tâm thu trên 45 mmHg. Trong trường hợp nếu trẻ bị tụt huyết áp thì cần điều trị bằng truyền albumin hoặc truyền máu, truyền huyết tương.
- Kiểm soát nhiệt độ:
Thường xuyên kiểm tra nhiệt độ của trẻ, nhiệt độ lồng ấp, nhiệt độ gió vào. Mục đích của việc này là để bảo dưỡng bình giữ nhiệt. Hạ thân nhiệt thường xảy ra nếu không được chú ý theo dõi.
- Theo dõi khí máu:
Để theo dõi điều này, trẻ được theo dõi qua màn hình, qua máy đo oxy xung. Khí máu mao mạch có thể được thực hiện nửa giờ một lần trong những giờ đầu tiên. Sau đó tăng dần khoảng cách. Đánh giá khí máu luôn phải liên quan đến các thông số lâm sàng và máy thở. Và để điều chỉnh các thông số máy thở phải dựa vào kết quả khí máu.
- Cung cấp oxy:
Trẻ em thường được cấp qua hệ thống CPAP hoặc qua máy thở. Lúc này, trẻ cần giảm nhanh và cẩn thận nồng độ oxy đưa vào khi áp suất riêng phần của oxy trong máu động mạch> 70 mmHg. Nồng độ oxy cao và kéo dài trong luồng khí vào có thể gây ra tổn thương oxy hóa cho phổi, gây xuất huyết võng mạc ... cũng như shunt phải và trái.
Phương pháp điều trị cụ thể cho bệnh màng trong là bổ sung chất hoạt động bề mặt trong những trường hợp có nguy cơ cao. Ngoài ra, việc hẹn khám vào thời điểm trẻ có triệu chứng suy hô hấp được cho là đã muộn. Chất hoạt động bề mặt cho mục đích thương mại là tự nhiên hoặc tổng hợp, và được sử dụng qua đường nội khí quản đến phổi. Sử dụng surfactant có thể gây ra nhiều tác dụng phụ như làm chậm nhịp tim hoặc ngừng thở.
Ở trẻ sơ sinh khi bị suy hô hấp cần được hỗ trợ ngay lập tức bằng cách thở oxy qua các thiết bị khác nhau. Khi thở máy được chỉ định khi suy hô hấp trở nên nặng và không đáp ứng với oxy. Do rối loạn cân bằng axit-bazơ cần được điều chỉnh để duy trì độ pH của máu ở mức 7,25.
Có những liệu pháp hỗ trợ khác bao gồm ổn định thân nhiệt, nạp đủ năng lượng và chất dinh dưỡng, đồng thời cũng cần duy trì cân bằng điện giải.
Xem thêm: [Trả lời] Trẻ đổ mồ hôi chân tay lạnh có nguy hiểm?

Cho trẻ đi khám để có phương pháp điều trị bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh
Với bài viết trên, chúng ta cũng đã hiểu được sự nguy hiểm của bệnh màng trong đối với trẻ sơ sinh rồi phải không? Vì vậy, trong quá trình mang thai, mẹ cũng cần chú ý chăm sóc thật tốt, để con không bị sinh non, có tiền đề khỏe mạnh khi chào đời. Để chăm sóc bé tốt hơn và giúp bé phát triển toàn diện hơn, bố mẹ có thể nhấc máy lên và gọi cho các chuyên gia của FaGoMom để được tư vấn và giải đáp một cách tốt nhất.
Thông tin liên hệ:
Công ty TNHH giải pháp thương mại Fago Group
Địa chỉ:
Tại Hồ Chí Minh: Chung cư tecco Greenest, Phan Văn Hớn, Tân Thới Nhất, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
https://g.page/fagomom
Tại Hà Nội: N2C Hoàng Minh Giám, Trung Hòa Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội
https://goo.gl/maps/H4ML5FeAZ97C6zne7
Điện thoại: 0934 812 773 - 0911 002 444
Thời gian làm việc:
Thứ 2 - 7 : 8:00 - 18:00
Chủ nhật : 8:00 - 11:30
Kết nối với chúng tôi:
- Fanpage: https://www.facebook.com/fagomom/
- Youtube: https://www.youtube.com/channel/UCJxRNkHP5B-lEa5jO73-URw
Từ khóa » Xquang Bệnh Màng Trong
-
Hình ảnh X Quang Phổi Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sinh Non | Vinmec
-
BỆNH MÀNG TRONG (Hyaline Membrane Disease) - Bình Định
-
Hội Chứng Suy Hô Hấp ở Trẻ Sơ Sinh (bệnh Màng Trong)
-
Bệnh Màng Trong - SlideShare
-
Bệnh Màng Trong Sơ Sinh – Wikipedia Tiếng Việt
-
Bệnh Màng Trong – Wikipedia Tiếng Việt
-
BỆNH MÀNG TRONG TRẺ ĐẺ NON
-
Suy Hô Hấp Do Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sơ Sinh
-
Hội Chứng Suy Hô Hấp ở Trẻ Sơ Sinh - Phiên Bản Dành Cho Chuyên Gia
-
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH MÀNG TRONG Ở TRẺ SƠ ...
-
Điều Trị Thành Công Một Ca Bệnh Màng Trong Giai đoạn IV Biến Chứng ...
-
Bệnh Màng Phổi Liên Quan đến Amiăng - Rối Loạn Chức Năng Hô Hấp
-
Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sơ Sinh - Tuổi Trẻ Online