ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH MÀNG TRONG Ở TRẺ SƠ ...
Có thể bạn quan tâm
- Điều hướng chính
- Nội dung chính
- Thanh bên
- Trang chủ
- Lưu trữ
- Tập 502 Số 2 (2021)
- Các bài báo
Thanh bên bài viết
PDF Ngày xuất bản: 31/07/2021 Số lượt xem tóm tắt: 1762 Số lượt xem PDF: 813 DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v502i2.635 Số xuất bản Tập 502 Số 2 (2021) Chuyên mục Các bài báo Trích dẫn bài báo Vân Anh, P. ., & Đình Tuyến, N. (2021). ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH MÀNG TRONG Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG BẰNG LIỆU PHÁP SURFACTANT TẠI BỆNH VIỆN SẢN-NHI TỈNH QUẢNG NGÃI. Tạp Chí Y học Việt Nam, 502(2). https://doi.org/10.51298/vmj.v502i2.635 Thêm định dạng trích dẫn - ACM
- ACS
- APA
- ABNT
- Chicago
- Harvard
- IEEE
- MLA
- Turabian
- Vancouver
- AMA Tải xuống trích dẫn
- Endnote/Zotero/Mendeley (RIS)
- BibTeX
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Bệnh màng trong hay còn gọi là Hội chứng suy hô hấp là bệnh lý khá phổ biến ở trẻ sơ sinh, đặc biệt ở trẻ sơ sinh non tháng, nguyên nhân là do thiếu chất hoạt diện (Surfactant) ở phổi. Tại Bệnh viện Sản-Nhi Quảng Ngãi, Surfactant ngoại sinh đã được đưa vào sử dụng từ lâu, tuy nhiên việc điều trị đa phần chưa đạt kết quả cao. Chúng tôi mong muốn đánh giá kết quả sử dụng liệu pháp Surfactant thay thế trong điều trị Bệnh màng trong. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan về Bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh non tháng. Đánh giá kết quả điều trị Bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh non tháng bằng liệu pháp Surfactant. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu toàn bộ hồ sơ bệnh án của trẻ sơ sinh non tháng được chẩn đoán Bệnh màng trong, chỉ định điều trị thay thế bằng Surfactant tại khoa Sơ sinh, Bệnh viện Sản-Nhi Quảng Ngãi từ 01/01/2019 đến 30/06/2020. Kết quả: Tỷ lệ nam/nữ là 1/1,1; tuổi thai rất non <32 tuần là 63,2%, trung bình 30,1±3,1 tuần; cân nặng chủ yếu <2000 gr chiếm 73,6%, cân nặng lúc sinh trung bình là 1521 ± 588 gr. Các dấu hiệu suy hô hấp xuất hiện sớm, có 47,4% trẻ được hồi sức đặt nội khí quản lúc nhập khoa, thở rên (60%), hạ thân nhiệt (71,9%), rối loạn nhịp thở (63,3%), tím (40,4%). pH giảm nặng dưới 7,25 chiếm 56,1%, giảm oxy hóa máu từ nhẹ đến nặng là 82,5%. Tổn thương trên Xquang phổi độ II-III chiếm 77,2%. Giới tính là liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ nặng của Bệnh màng trong trên X-quang. Surfactant có hiệu quả rõ rệt khi nhu cầu Oxy và tình trạng toan hô hấp máu được cải thiện nhanh chóng sau bơm 1 giờ. X-quang phổi cải thiện 96,5% sau 6 giờ. Thời gian thở máy trung bình là 3 ngày, thở máy không xâm nhập là 6 ngày. Trẻ sống chiếm 80%; biến chứng trong 24 giờ sau bơm nhiều nhất là hạ huyết áp (15,8%). nguyên nhân chính là sốc do nhiễm trùng huyết (58,3%). Kết luận: Điều trị Surfactant thay thế ở trẻ sơ sinh non tháng bị Bệnh màng trong tại Bệnh viện Sản-Nhi Quảng Ngãi đem lại hiệu quả rõ rệt, giảm nhu cầu Oxy sau bơm thuốc 1 giờ, Xquang phổi cải thiện 96,5% sau 6 giờ bơm thuốc.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Bệnh màng trong, trẻ sơ sinh non tháng, BV Sản-Nhi tỉnh Quảng Ngãi
Tài liệu tham khảo
1. Phạm Nguyễn Tố Như, Lâm Thị Mỹ (2010), "Mô tả kết quả điều trị bệnh màng trong ở trẻ sanh non bằng Surfactant qua kỹ thuật INSURE", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 1(14), tr.155-161. 2. Trần Thị Bích Phượng, Trần Tôn Nữ Anh Ty (2012), "Đánh giá hiệu quả điều trị Surfactant trong điều trị bệnh màng trong ở trẻ sinh non tại khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng Nai", Đề tài cấp tỉnh năm 2012. 3. Trần Thị Thủy, Ngô Thị Xuân (2017), "Kết quả phương pháp INSURE trong điều trị hội chứng suy hô hấp ở trẻ đẻ non tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh năm 2017 ", Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Y Dược, 33(2), tr.106-114. 4. Nakhshab M, Tajbakhsh M, Khani S, et al (2015), "Comparison of the effect of Surfactant administration during nasal continuous positive airway pressure with that of nasal continuous positive airway pressure alone on complications of respiratory distress syndrome: a randomized controlled study", Pediatrics & Neonatology, 56 (2), pp.88-94. 5. Nguyễn Viết Đồng, và cs (2018). Nghiên cứu điều trị bệnh màng trong ở trẻ đẻ non bằng liệu pháp Surfactant tại Khoa Nhi – Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tỉnh. 6. Fujiwara T, Chida S, Watabe Y, et al (1980), "Artificial Surfactant therapy in hyaline-membrane disease", The Lancet, 315 (8159), pp.55-59. 7. Ramathan R, Rsmussen MR, Gerstmann D, et al (2004) "A randomized, multicenter masked comparison trial of Curosuff versus Survanta in the treatment of respiratory distress syndrome in preterm infant", AJP, 21(3), pp.109- 119.Từ khóa » Xquang Bệnh Màng Trong
-
Hình ảnh X Quang Phổi Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sinh Non | Vinmec
-
BỆNH MÀNG TRONG (Hyaline Membrane Disease) - Bình Định
-
Hội Chứng Suy Hô Hấp ở Trẻ Sơ Sinh (bệnh Màng Trong)
-
Bệnh Màng Trong - SlideShare
-
Bệnh Màng Trong Sơ Sinh – Wikipedia Tiếng Việt
-
Bệnh Màng Trong – Wikipedia Tiếng Việt
-
BỆNH MÀNG TRONG TRẺ ĐẺ NON
-
Suy Hô Hấp Do Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sơ Sinh
-
Hội Chứng Suy Hô Hấp ở Trẻ Sơ Sinh - Phiên Bản Dành Cho Chuyên Gia
-
Điều Trị Thành Công Một Ca Bệnh Màng Trong Giai đoạn IV Biến Chứng ...
-
Bệnh Màng Phổi Liên Quan đến Amiăng - Rối Loạn Chức Năng Hô Hấp
-
[Bố Mẹ Cần Biết] Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sơ Sinh - FaGoMom
-
Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sơ Sinh - Tuổi Trẻ Online