Cách Làm Các Dạng Bài Văn Nghị Luận Văn Học 9 đã Chuyển đổi (1)

+ Nếu là tác phẩm truyện và thơ tự sự hoặc đoạn trích thì điểm sáng nghệ thuật tập trung ở nhân vật, sự việc, nhan đề, cốt truyện, tình huống truyện, cách xây dựng nhân vật, ngôn ngữ nhâ

Trang 1

LÊ NGA - NGUYỄN LÝ TƯỞNG

CÁCH LÀM CÁC DẠNG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 9 (Có hệ thống đề thi và đáp án minh họa)

Ôn thi học sinh giỏi

Ôn thi vào lớp 10 THPT và Chuyên

Trang 2

PHẦN 1 PHƯƠNG PHÁP LÀM CÁC KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

A Các kiểu bài nghị luận văn học thường gặp

Nghị luận văn học có rất nhiều kiểu bài khác nhau Nhưng trong các kì thi học sinh giỏi, thi vào lớp 10 THPT và thi chuyên học sinh thường gặp một số kiểu bài sau:

I Kiểu bài cảm thụ văn học:

- Cảm thụ về tác phẩm (hoặc đoạn trích) thơ, văn:

+ Cảm thụ về một bài thơ, đoạn thơ, một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích

+ Cảm thụ về phương diện, khía cạnh trong tác phẩm văn học (có thể nội dung hoặc nghệ thuật)

+ Cảm thụ về hai đoạn thơ/ đoạn văn trong hai tác phẩm khác nhau (còn gọi là

so sánh văn học)

- Cảm thụ về nhân vật trong tác phẩm văn học:

+ Cảm thụ về nhân vật trong một tác phẩm

+ Cảm thụ nhân vật trong nhiều tác phẩm khác nhau (từ hai tác phẩm trở lên,

còn gọi là so sánh nhân vật trong tác phẩm văn học)

II Kiểu bài phân tích, chứng minh cho một ý kiến, nhận định:

- Ý kiến nhận định tổng kết, kết luận về tác phẩm văn học

- Ý kiến nhận định có lí luận văn học

B Phương pháp làm bài cụ thể:

I Kiểu bài cảm thụ văn học:

1 Cảm thụ về tác phẩm (hoặc đoạn trích) thơ, văn:

1.1 Cảm thụ về một bài thơ, đoạn thơ, một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích Cách làm

Bước 1: Tìm hiểu khái quát

- Đọc kĩ đề bài để nắm được yêu cầu của đề

- Đọc kĩ tác phẩm thơ - văn (đoạn thơ, đoạn văn) nắm vững nội dung và nghệ thuật khái quát của đoạn của bài đó

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

* Tìm ý:

Trang 3

- Đoạn thơ - đoạn trích truyện hoặc bài thơ văn ấy có cần phân ý không? (Nếu có thì phân làm mấy ý? Đặt tiêu đề cho từng ý, mỗi ý tương đương với một luận điểm.)

- Tìm dấu hiệu nghệ thuật của từng ý (từng luận điểm) (còn gọi là điểm sáng nghệ thuật)

- Điểm sáng nghệ thuật thể hiện ở các phương diện nội dung và nghệ thuật + Nếu là tác phẩm truyện và thơ tự sự (hoặc đoạn trích) thì điểm sáng nghệ thuật tập trung ở nhân vật, sự việc, nhan đề, cốt truyện, tình huống truyện, cách xây dựng nhân vật, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ nhà văn…

+ Nếu là tác phẩm thơ trữ tình ( hoặc trích thơ) thì điểm sáng nghệ thuật tập trung ở tình cảm, cảm xúc, thể thơ, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu, cách ngắt nhịp, biện pháp tu từ…

+ Dựa vào các điểm sáng nghệ thuật để nhận xét, đánh giá, phân tích và bình (thể hiện những tình cảm, cảm xúc của người viết) và sự ảnh hưởng của tác phẩm văn học của đoạn trích đối với bản thân

(Trong quá trình cảm thụ có thể tách riêng các tín hiệu nghệ thuật và nội dung thành các luận điểm hoặc cảm thụ song song)

* Lập dàn ý: Theo bố cục ba phần:

- Đặt vấn đề:

+ Giới thiệu vấn đề nghị luận

+ Ấn tượng ban đầu

- Giải quyết vấn đề:

+ Tập trung cảm nhận về tác phẩm, đoạn trích trên hai phương diện: nội dung

và hình thức (Trong quá trình cảm thụ có thể tách riêng nội dung, nghệ thuật thành từng luận điểm, cũng có thể cảm thụ song song

- Kết thúc vấn đề:

+ Khẳng định lại vấn đề

+ Sự ảnh hưởng, tác động của tác phẩm văn học học đối với bản thân

Bước 3: Viết thành bài văn cảm thụ

Ví dụ minh họa:

Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:

Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Trang 4

Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí!

(Trích Đồng chí - Chính Hữu, Ngữ văn 9, Tập 1, tr 128, NXB Giáo dục Việt Nam)

Hướng dẫn làm bài Bước 1: Tìm hiểu khái quát

Đọc kĩ đề bài để nắm được yêu cầu của đề và xác định:

- Vấn đề cần nghị luận: Cảm thụ về đoạn thơ trên hai phương diện:

+ Nội dung: Cơ sở của tình đồng chí

+ Nghệ thuật: thể thơ, ngôn ngữ, cách xưng hô, hình ảnh thơ, cấu trúc các câu thơ,…

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

* Tìm ý:

- Nội dung: Các cơ sở của tình đồng chí (mỗi cơ sở trình bày thành một luận điểm)

+ Cùng chung cảnh ngộ xuất thân

+ Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu

+ Cùng chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn cũng như niềm vui

+ Ý nghĩa từ “đồng chí”

- Nghệ thuật biểu biện cơ sở tình đồng chí: thể thơ tự do, ngôn ngữ cô đọng hàm súc, sử dụng thành ngữ dân gian, cách xưng hô gần gũi thân mật, nghệ thuật đối xứng, điệp từ…

* Lập dàn ý:

a Đặt vấn đề

Giới thiệu vấn đề nghị luận: (có thể bằng nhiều cách khác nhau)

Khái quát chung về bài thơ, chuyển sang đoạn thơ (vị trí của đoạn thơ, khái quát cảm xúc chung của đoạn thơ và ấn tượng với người đọc)

Ví dụ có thể đi từ tác giả, tác phẩm:

Chính Hữu là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp Từng cầm súng chiến đấu ->Am hiểu tâm tư, cuộc đời người lính Bắt đầu sáng tác năm 1947, chủ yếu viết về đề tài người lính và chiến tranh Thơ Chính Hữu cảm xúc chân thành, mãnh liệt, ngôn ngữ giàu hình ảnh chọn lọc hàm súc

- Hoàn cảnh sáng tác: Mùa xuân năm 1948, được in trong tập “Đầu súng trăng treo” (1966) Bài thơ thể hiện tình đồng chí, đồng đội thắm thiết sâu nặng của

Trang 5

những người lính cách mạng, đồng thời bài thơ cũng làm hiện lên hình ảnh chân thực, giản dị và cao đẹp của anh bộ đội trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn nhiều khó khăn thiếu thốn

- Đoạn trích trong đề bài thuộc phần đầu của bài thơ Bằng những cảm xúc chân thực, ngôn ngữ giản dị cô đọng, hàm súc nhà thơ đã lí giải hết sức cảm động về cơ

sở của tình đồng chí

b Giải quyết vấn đề

* Về nội dung: Cơ sở của tình đồng chí

- Cùng chung cảnh ngộ xuất thân

+ Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, những chiến sĩ dũng cảm, kiên cường

chiến đấu bảo vệ Tổ quốc không ai khác chính là những người nông dân mặc áo lính Từ giã quê hương, họ ra đi tình nguyện đứng trong đội ngũ những người chiến đấu cho một lí tưởng chung cao đẹp, đó là độc lập tự do cho dân tộc

+ Nước mặn đồng chua: Vùng đồng bẳng ven biển ngập mặn, độ chua cao khó khăn cho việc cày cấy

+ Đất cày lên sỏi đá: Vùng đồi núi trung du bị đá ong, đá vôi hóa khó canh tác làm ăn

=> Hai thành ngữ dân gian nói về cảnh ngộ xuất thân của hai người bạn - hai người đồng chí đều từ những vùng quê nghèo, khó làm ăn sinh sống

- Cấu trúc sóng đôi - đối xứng: Quê anh - làng tôi đã tạo cho câu thơ có sự cân xứng về cảnh ngộ của anh và tôi, thể hiện sự gắn bó bền chặt Cách xưng hô “ anh - tôi” thân mật gần gũi của hai người lính - hai người bạn Giọng điệu thủ thỉ tâm tình tăng sức biểu cảm cho câu thơ

- Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu:

+ Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, hai con người “xa lạ” từ những miền quê cách xa nhau về vị trí địa lí trở thành quen nhau bởi họ cùng chung một lí tưởng chiến đấu: Vì độc lập tự do của Tổ quốc vì hạnh phúc của nhân dân

+ Điệp từ: Súng (tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu), đầu (tượng trưng cho

mục đích, lí tưởng chiến đấu) có tác dụng nhấn mạnh nhiệm vụ và lí tưởng cao đẹp của người lính

- Cùng chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn cũng như niềm vui:

Trang 6

+ Đêm rừng chiến khu Việt Bắc sương muối rơi nhiều lạnh buốt như kim châm, chăn lại không đủ đắp nhưng chính sự thiếu thốn ấy đã làm cho người lính gắn bó, thân thiết với nhau hơn

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

Tri kỉ: là cảm thông, thấu hiểu, gắn bó keo sơn

Chính sự thiếu thốn ấy đã làm tình cảm của người lính cách mạng thêm gần gũi

và được phát triển từ xa lạ - quen nhau - tri kỉ và đúc kết thành tình đồng chí ở dòng thơ thứ bảy:

“Đồng chí!”

+ Dòng thơ có cấu trúc đặc biệt - chỉ một từ gồm hai tiếng và một dấu chấm than vang lên như một nốt nhấn - một tiếng gọi thân thương của tình đồng chí Nó còn có vai trò như một bản lề gắn kết hai phần: cơ sở của tình đồng chí và mở ra phần sau: Những biểu hiện của tình đồng chí

=> Lời thơ cô đúc, hàm súc nhưng ý nghĩa sâu xa

* Về nghệ thuật:

- Thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị, cô đọng, hàm súc

- Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện, tâm sự của hai người đồng đội nhớ lại kỉ niệm về những ngày đầu tiên gặp gỡ Họ đều là con em của những vùng quê nghèo khó, là những nông dân ở nơi “nước mặn đồng chua” hoặc ở chốn “đất cày lên sỏi đá”

- Hình ảnh “quê hương anh” và “làng tôi” hiện lên với biết bao nỗi gian lao vất

vả, mặc dù nhà thơ không chú ý miêu tả Nhưng chính điều đó lại làm cho hình ảnh vốn chỉ là danh từ chung chung kia trở nên cụ thể đến mức có thể nhìn thấy được, nhất là dưới con mắt của những người con làng quê Việt Nam

- Thành ngữ dân gian được tác giả vận dụng rất tự nhiên, nhuần nhuỵ khiến người đọc có thể dễ dàng hình dung được những miền quê nghèo khổ, nơi sinh ra những người lính Khi nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, họ sẵn sàng ra đi và nhanh chóng có mặt trong đoàn quân chiến đấu bảo vệ Tổ quốc

-> Hai câu thơ đầu theo cấu trúc sóng đôi, đối ứng: “Quê anh - làng tôi” đã diễn

tả sự tương đồng về cảnh ngộ Và chính sự tương đồng về cảnh ngộ ấy đã trở thành niềm đồng cảm giai cấp, là cơ sở cho tình đồng chí, đồng đội của người lính

c, Kết thúc vấn đề

- Đánh giá kết luận vấn đề: Đoạn thơ đã khắc họa chân thực mà sinh động tình

đồng chí gắn bó keo sơn của những lính vệ quốc trong những ngày đầu kháng chiến, đồng thời thể hiện tài năng nghệ thuật của tác giả

Trang 7

- Bộc lộ cảm xúc của người viết

Bước 3: Viết thành bài

Dựa vào dàn ý đã lập ở trên để viết thành bài văn hoàn chỉnh

Lưu ý: Khi viết bài văn mỗi luận điểm trình bày ít nhất thành một đoạn văn,

giữa các đoạn văn phải có các từ ngữ, câu văn liên kết để bài văn vừa có sự gắn kết chặt chẽ vừa có sự mạch lạc

1.2 Cảm thụ về phương diện, khía cạnh trong tác phẩm văn học (có thể nội

dung hoặc nghệ thuật)

Cách làm

Bước 1: Tìm hiểu khái quát

- Đọc kĩ đề bài để nắm được yêu cầu của đề

- Đọc kĩ tác phẩm thơ - văn (đoạn thơ, đoạn văn) nắm vững về phương diện mà

đề yêu cầu cảm nhận là gì? (nội dung hay nghệ thuật)

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

* Tìm ý:

- Phương diện, khía cạnh trong tác phẩm văn học ấy thường đã xuất hiện thành luận điểm ở đề bài Vì vậy chỉ cần căn cứ vào đề bài để xác lập luận điểm bằng cách phân thành các ý, mỗi ý tương đương với một luận điểm

- Căn cứ vào các luận điểm để tìm luận cứ và cách lập luận cho phù hợp

- Từ luận điểm và luận cứ để nhận xét, đánh giá, phân tích và bình

* Lập dàn ý Căn cứ vào bước tìm ý để lập dàn ý theo bố cục ba phần

Trang 8

-> Đánh giá tổng hợp chung

- Kết thúc vấn đề:

+ Khẳng định lại vấn đề

+ Sự ảnh hưởng của tác phẩm, đoạn trích đối với bản thân

Bước 3: Viết thành bài văn cảm thụ

Ví dụ minh họa:

Đề bài: Cảm nhận của em về bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế và khát

vọng dâng hiến của nhà thơ trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải

(SGK Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011)

Hướng dẫn làm bài Bước 1: Tìm hiểu khái quát

- Đọc kĩ đề bài để nắm được yêu cầu của đề

- Đọc kĩ tác phẩm thơ - văn ( đoạn thơ, đoạn văn) nắm vững về phương diện

mà đề yêu cầu cảm nhận: bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế và khát vọng dâng hiến của nhà thơ

- Phạm vi dẫn chứng: trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

* Tìm ý: Căn cứ vào đề bài để tách thành các ý Mỗi ý là một luận điểm

- Bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế

+Hình ảnh: Dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, con chim chiền chiện…

+Âm thanh:Tiếng chim chiền chiện

+ Từ ngữ:

“Mọc”: Nghệ thuật đảo ngữ

“Giọt”: Giọt sương, giọt mưa của mùa xuân

Giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện -> Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

“Hứng”: Sự nâng niu, trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên mùa xuân

- Khát vọng dâng hiến của nhà thơ:

+ Cống hiến phần đẹp đẽ, tinh túy nhất của cuộc đời cho đất nước, cho dân tộc

* Lập dàn ý

a Đặt vấn đề: Giới thiệu vấn đề nghị luận dẫn đến khía cạnh đề yêu cầu cảm thụ

b Giải quyết vấn đề: Xác lập luận điểm, tìm luận cứ và cách lập luận phù hợp

Trang 9

Luận điểm 1: Bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế thể hiện tập trung ở khổ đầu:

- Không gian cao rộng, thoáng đãng (bầu trời, dòng sông…); màu sắc tươi thắm (xanh, tím biếc) màu của Huế vừa dịu dàng, tươi tắn tràn đầy sức xuân; có âm thanh (tiếng chim trong vắt, long lanh như giọt mưa xuân…) Một mùa xuân trong trẻo, rạo rực sức sống, một mùa xuân đậm đà chất Huế … (Phân tích thơ làm sáng rõ)

- Cảm xúc của thi nhân: ngỡ ngàng, đắm say, trìu mến (đảo từ mọc lên đầu câu thơ như một phát hiện bất ngờ, thú vị; lời bật thốt tự nhiên Ơi con chim chiền chiện; tiếng trách yêu Hót chi mà …; Tôi đưa tay tôi hứng đầy nâng niu, trân trọng…)

và chiến đấu của dân tộc (Phân tích thơ làm sáng rõ)

- Niềm khát khao dâng hiến cuộc đời được thể hiện một cách khiêm nhường nhưng rất đỗi chân thành, đó là ước nguyện được hòa nhập, được là một con chim hót, một cành hoa tỏa ngát hương, một nốt trầm xao xuyến, một mùa xuân nho nhỏ,

… Niềm khát khao ấy càng có ý nghĩa và xúc động khi là ước nguyện của một người đang nằm trên giường bệnh… (chú ý cách thể hiện: Điệp cấu tứ “ta làm”, “dù là” chọn các hình ảnh đẹp của thiên nhiên: “con chim”, “cành hoa”, “nốt trầm” Ẩn

dụ: “Một mùa xuân nho nhỏ” kết hợp đảo từ “lặng lẽ dâng cho đời”->Thể hiện và

nhấn mạnh nguyện ước giản dị, khiêm nhường của nhà thơ Hoán dụ: “Tuổi hai mươi”, “khi tóc bạc” - Khi còn trẻ, lúc đã già ->Cống hiến cả cuộc đời Thay đổi cách xưng hô “tôi” - “ta” là sự hòa nhập giữa cá nhân với cộng đồng mang tính nhân sinh)

c Kết thúc vấn đề:

- Đánh giá khái quát vấn đề

- Bộc lộ cảm xúc của người viết

Bước 3: Viết thành bài văn cảm thụ

Dựa vào dàn ý đã lập ở trên để viết thành bài văn hoàn chỉnh

1.3 Cảm thụ về hai đoạn, bài văn, thơ trong hai tác phẩm khác nhau (còn gọi là so sánh văn học)

Trang 10

Cách làm

• Đối với kiểu bài cảm thụ hai đoạn, bài thơ, văn song song:

Bước 1: Tìm hiểu khái quát:

- Giới thiệu vấn đề (có thể bằng nhiều cách nhưng với dạng đề này thì thường

đi từ chủ đề, đề tài)

- Khái quát chung về vấn đề ở hai đoạn trích

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, xuất xứ, vị trí hai đoạn trích (nếu phần đặt vấn đề

đi từ tác giả, tác phẩm thì phần tác giả, tác phẩm đưa lên trước, phần này chỉ cần nêu xuất xứ, vị trí hai đoạn trích)

- Khái quát nội dung, nghệ thuật của hai đoạn trích (có cùng chủ đề, đề tài hay khác, hình thức thể hiện giống nhau hay khác nhau)

- Xác lập các luận điểm (bằng cách căn cứ vào nội dung, nghệ thuật của hai đoạn trích để xác lập các luận điểm cho phù hợp)

Luận điểm 1: …

Luận điểm 2: …

Luận điểm 3: …

(Tìm luận cứ và cách lập luận phù hợp làm sáng tỏ cho luận điểm.)

- So sánh hai đoạn, bài ở các phương diện:

+ Điểm tương đồng, khác biệt về nội dung, nghệ thuật

+ Lí giải về sự tương đồng khác biệt (Có sự ảnh hưởng của hoàn cảnh ra đời, hoàn cảnh xã hội, đời sống vănhóa, thái độ, tình cảm, cách nhìn nhận, dấu ấn riêng của từng tác giả… hay không?)

- Đánh giá nâng cao:

• Đối với kiểu bài cảm thụ một đoạn, bài thơ, văn là trọng tâm và chỉ liên hệ

với đoạn, bài thơ, văn thứ hai

Trang 11

- Sau đó là phần liên hệ với đoạn, bài thơ, văn thứ hai chỉ cần giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích và cảm thụ ngắn gọn về nội dung nghệ thuật của đoạn trích (không cần tỉ mỉ chi tiết quá vì dung lượng ở phần này chỉ chiểm 30% của toàn bài viết)

- Từ đó so sánh hai đoạn, bài về các phương diện: Điểm tương đồng và khác biệt và lí giải lí do

- Đánh giá nâng cao

Bước 3: Viết thành bài văn cảm thụ

Dựa vào dàn ý đã lập ở trên để viết thành bài văn hoàn chỉnh

Ví dụ minh họa:

Cảm nhận của em qua hai đoạn thơ sau:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

(Đồng chí - Chính Hữu)

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

(Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật)

Hướng dẫn làm bài Bước 1 Đọc kĩ đề để xác định

- Vấn đề cần nghị luận: Trình bày cảm nhận về nội dung và nghệ thuật biểu hiện của hai đoạn thơ, những nét chung và riêng về vẻ đẹp hình tượng người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ

- Phương pháp lập luận: Kết hợp các phương pháp phân tích, bình giảng, so sánh, đánh giá, tổng hợp

- Tư liệu: Chủ yếu ở hai đoạn thơ đã cho

Bước 2 Tìm ý và lập dàn ý

* Tìm ý:

- Tìm điểm tương đồng trong nội dung và bút pháp thể hiện

- Nét đặc sắc riêng trong bút pháp thể hiện của hai đoạn thơ

Trang 12

- Nhận xét, đánh giá, tổng hợp vấn đề

* Lập dàn ý:

a Đặt vấn đề: Vài nét về đề tài người lính và vị trí hai đoạn trích

- Viết về người lính là một đề tài chủ yếu của thơ ca cách mạng 1945 - 1975

Họ được coi là “con người đẹp nhất” trong lịch sử kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của

dân tộc

- Nhiều nhà thơ đã ca hát về vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bi tráng của người lính,

trong đó phải kể đến hai bài thơ nổi tiếng một thời: Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

- Hai đoạn thơ được nghị luận trích trong hai thi phẩm này

b Giải quyết vấn đề

Luận điểm 1: Điểm tương đồng và khác biệt trong nội dung

* Nét chung trong hai đoạn thơ: Đều viết về người lính trong chiến tranh từ

những chi tiết chân thực đời thường của cuộc đời người lính Hình tượng người chiến

sĩ được thể hiện trong hai đoạn thơ đều có chung một hoàn cảnh, một phẩm chất: + Họ chiến đấu trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn, gian khổ, nghiệt ngã của chiến tranh

+ Họ có chung một dòng máu yêu nước - truyền thống Lạc Hồng: dũng cảm, kiên cường, bất khuất trước mọi khó khăn, gian nan, hiểm nguy

+ Tinh thần lạc quan, tâm hồn yêu đời, lãng mạn, coi thường cái chết

+ Gắn bó trong tình yêu thương đồng chí đồng đội

=> Đó là những phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong thời đại

Hồ Chí Minh và là lí do để các nhà thơ sáng tác…

* Nét đặc sắc riêng trong mỗi đoạn thơ:

- Đoạn thơ thứ nhất nằm ở phần cuối bài thơ Đồng chí của Chính Hữu Đoạn

thơ viết về người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp Họ đứng bên nhau chờ giặc tới trong cảnh “rừng hoang sương muối” lạnh buốt giá rét Đây là biểu hiện đẹp nhất của tình đồng chí được kết đọng ở những hình ảnh đặc sắc:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

Trang 13

Ba câu thơ tạo nên bức tranh tuyệt đẹp về tình đồng chí của chiến hào truy kích giặc, khái quát toàn cảnh của chiến trường, thiên nhiên, con người, tinh thần, tâm hồn của họ

+ Hình tượng người lính nổi bật trên bức phông nền rừng hoang sương muối-

hoàn cảnh nghiệt ngã của chiến trường Họ chỉ có manh quần tấm áo rách vá phong phanh, để chống lại cái giá lạnh thấu xương chỉ có cách tìm hơi ấm trong tình đồng

đội: “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”, tạo nên tư thế vững chãi, vượt qua cái nghiệt ngã của ngoại cảnh, cái căng thẳng chờ giặc của chiến trường

+ Song bức tranh không sao chụp hiện thực một cách tự nhiên, trần trụi mà được quyện hòa với bút pháp lãng mạn, đó là cách điểm xuyết một vầng lửng trên đầu mũi súng, tạo ra ba nhân vật: người lính, cây súng và vầng trăng Ba nhân vật

quyện hòa tạo nên hình ảnh tuyệt đẹp, thơ mộng: “Đầu súng trăng treo”

+ Câu thơ có thể được đánh giá là “tuyệt cú”, tạo ra hình ảnh tài hoa, làm nổi bật và hoàn thiện vẻ đẹp người lính cả về tinh thần, ý chí, nghị lực, lòng quyết tâm

và một tâm hồn đầy yêu thương, lãng mạn

=> Hình ảnh người lính và vầng trăng giữa chiến trường khốc liệt đã nói lên tình đồng đội vô cũng cao đẹp, tâm hồn lãng mạn, yêu đời, lạc quan của người lính

Và đó cũng là sự tài hoa trong bút pháp, tình thần, tâm hồn của cái tôi thi sĩ - Chính Hữu trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp

- Đoạn thơ thứ hai thuộc phần mở đầu Bài thơ về tiểu đội xe không kính của

Phạm Tiến Duật Đoạn thơ viết về người lính lái xe trong thời kì kháng chiến chống

Mĩ Đây là tư thế ung dung hiên ngang, bình tĩnh tự tin của người họ:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

+ Nhà thơ vào đề rất tự nhiên, giới thiệu ngay với người đọc hoàn cảnh khốc kiệt của chiến trường chống Mĩ những năm 1968 - 1970 của dân tộc Minh chứng hùng hồn đó là những chiếc xe mang hình hài kì dị, độc đáo, gây “hổng hông hốc”

như những con quái vật ngộ nghĩnh, lạ lẫm Nhà thơ giải thích: “Không có kính không phải vì xe không có kính”, nghĩa là nó được sinh ra đầy đủ, hoàn hảo Nhưng

vì lí do mưa bom bão đạn của kẻ thù làm chúng vỡ đi, biến những chiếc xe trở nên khác thường như vậy

Trang 14

+ Giọng thơ không hề giãi bày, ca thán mà hồn hiên, đầy vẻ tự hào vì những chiếc xe bị chiến tranh tàn phá nhưng nó không vô dụng mà vẫn đầy hữu ích Ngày đêm vẫn băng băng lao ra chiến trường, bất chấp hiểm nguy, hoàn thành nhiệm vụ + Song những chiếc xe chỉ là phương tiện, làm nền cho nhà thơ tả con người Cái đích chính của nhà thơ là tả người - người lính lái xe trên tuyến đường Trường

Sơn những năm đánh Mĩ gian khổ, oanh liệt Hai câu thơ “Ung dung buồng lái ta ngồi / Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” đã khắc họa tư thế ung dung, tinh thần dũng

cảm, hiên ngang, bất khuất của họ

+ Câu thơ “Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”vừa tạo ra nhịp thơ ngắn, mạnh,

khỏe khoắn, vừa nói lên ý chí kiên cường, tinh thần hiên ngang, bất khuất, vừa có cả lãng mạn của tâm hồn người lính khi ôm vành tay lái vi vu trên tuyến đường gập ghềnh đầy lửa đạn

=> Đó là nét đẹp tâm hồn của người lính lái xe giàu lí tưởng, giàu nhiệt huyết, trái tim thanh xuân gửi trọn cho vành tay lái: tất cả vì miền Nam ruột thịt, thống nhất đất nước Và đó cũng chính là nét đẹp trong tâm hồn của cái tôi thi sĩ - Phạm Tiến Duật trong những năm đánh Mĩ

Luận điểm 2: Nét chung và riêng trong bút pháp thể hiện của hai đoạn thơ:

- Chính Hữu và Phạm Tiến Duật là hai nhà thơ - chiến sĩ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ Viết về đề tài người lính ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cả hai nhà thơ đều gặp gỡ nhau ở cách thể hiện, đó là bút pháp hiện thực kết hợp với bút pháp lãng mạn

Cả hai nhà thơ đều sử dụng thể thơ tự do và các biện pháp tu từ có hiệu quả Chính Hữu sử dụng ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, cấu trúc thơ đối ứng thành từng cặp trong mỗi cặp câu hoặc trong từng câu Phạm Tiến Duật sử dụng ngôn ngữ tự nhiên phóng khoáng dí dỏm pha chút ngang tàng của người lính lái xe…

- Sở dĩ có sự tương đồng và khác biệt trong nội dung và nghệ thuật của hai đoạn thơ là vì:

+ Cả hai nhà thơ đều là chiến sĩ trực tiếp tham gia những cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc Vì vậy hơn ai hết họ hiểu được cuộc sống gian khổ của người lính và những nhiệm vụ vinh quang nhưng hết sức nặng nề cùng những phẩm chất cao đẹp của họ trong chiến tranh

+ Cả hai nhà thơ đều viết về người lính xuất phát từ hiện thực cuộc sống cùng với cảm hứng lãng mạn

+ Tuy nhiên, nhà thơ Chính Hữu viết về bài thơ Đồng chí khi ông đang là chính trị viên đại đội nên thơ ông mang sự điềm tĩnh, cô đọng, hàm súc Còn Phạm Tiết

Trang 15

Duật viết về người lính khi ông đang là người lính lái xe nên thơ ông hài hước, dí dỏm pha chút ngang tàng, ngạo nghễ của người lính lái xe

c Kết thúc vấn đề:

- Lịch sử chiến tranh đã lùi xa, nhưng hình tượng người lính qua các cuộc kháng chiến đã tạc vào thế kỉ, trở thành dáng đứng kiên cường, bất khuất Việt Nam… Hình tượng ấy mãi mãi bất tử trong tâm hồn người Việt

- Là thế hệ được thừa hưởng cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc, ta không nên lãng quên quá khứ hào hùng và bi tráng của ông cha Họ đã phải đổ bao máu xương để có cuộc sống hôm nay Chúng ta phải biết ơn sâu sắc và có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ thành quả đó ngày một to lớn, đàng hoàng hơn

Bước 3.Viết bài dựa theo dàn ý

2 Cảm thụ về nhân vật trong tác phẩm văn học:

2.1 Cảm thụ về nhân vật trong một tác phẩm

Cách làm

Bước 1: Tìm hiểu khái quát

- Đọc kĩ đề bài để nắm được yêu cầu của đề

- Xác định đúng nhân vật mà đề bài yêu cầu cảm thụ

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

* Tìm ý:

- Nhân vật đề bài yêu cầu cảm thụ là nhân vật nào, đóng vai trò chính hay phụ?

- Nhân vật đó có những đặc điểm gì? (hoàn cảnh sống, làm việc, những vẻ đẹp của nhân vật như vẻ đẹp ngoại hình, nội tâm hoặc những diễn biến tâm lí… của nhân vật)

- Số phận của nhân vật (nếu có)

*Lập dàn ý:

a Đặt vấn đề:

- Giới thiệu vấn đề nghị luận

- Cảm nhận chung về nhân vật

b.Giải quyết vấn đề: Tập trung cảm thụ về nhân vật

(Căn cứ vào các đặc điểm của nhân vật để xác lập thành các luận điểm) Ví dụ:

- Hoàn cảnh sống và làm việc

- Những vẻ đẹp của nhân vật

Trang 16

(Vẻ đẹp ngoại hình, tâm hồn, tình cảm, cách sống hoặc diễn biến nội tâm… của nhân vật)

- Số phận của nhân vật (nếu có)

Tìm các luận cứ và lập luận để làm sáng tỏ luận điểm

- Đánh giá tổng hợp về nhân vật: Tiêu biểu cho lớp người nào, thời đại, công việc gì của đất nước…

c Kết thúc vấn đề:

- Khẳng định lại nhân vật cảm thụ

- Sự ảnh hưởng của nhân vật với bản thân (hoặc bài học từ nhân vật tới bản thân)

Bước 3: Viết thành bài văn cảm thụ

Ví dụ minh họa:

Đề bài: Cảm nhận vẻ đẹp anh thanh niên trong truyện Lặng lẽ Sa Pa của

Nguyễn Thành Long

Hướng dẫn làm bài Bước 1: Đọc kĩ đề bài để nắm được yêu cầu của đề và xác định:

- Vấn đề cần nghị luận: Cảm thụ về nhân vật anh thanh niên

+ Nội dung: Nhân vật anh thanh niên

+ Nghệ thuật: Nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật xây dựng tình huống, xây dựng nhân vật, ngôi kể, tình huống truyện

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý:

* Tìm ý:

- Hoàn cảnh sống và công việc

- Những vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên

+ Lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc

+ Biết sắp xếp cuộc sống một cách khoa học, ngăn nắp

+ Sự chân thành, cởi mở và lòng hiếu khách

+ Sự khiêm tốn, thành thật

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Ngôi kể: ngôi thứ 3, điểm nhìn trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn và ý nghĩ của nhân vật ông họa sĩ Nhân vật được đặt trong tình huống đặc sắc:Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ tình cờ, ngắn ngủi giữa ông họa sĩ,

cô kĩ sư và anh thanh niên

* Lập dàn ý:

Trang 17

a Đặt vấn đề: Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

- Nguyễn Thành Long sáng tác từ thời kì kháng chiến chống Pháp và nhanh

chóng trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi cách mạng Việt Nam

- Thành công ở truyện ngắn và kí

- Tác phẩm của Nguyễn Thành Long tập trung phản ánh vẻ đẹp của con người Việt Nam mới trong lao động và trong chiến đấu

- Lối viết vừa chân thực, giản dị, vừa giàu chất trữ tình

- Tác phẩm: Được viết vào mùa hè năm 1970 - là kết quả chuyến công tác lên

Lào Cai của tác giả Truyện viết về những con người bình thường nhưng đã cống hiến hết mình cho đất nước Tiêu biểu là nhân vật anh thanh niên

- Khái quát về nhân vật anh thanh niên - nhân vật chính của truyện: Anh thanh niên được miêu tả qua cái nhìn của nhiều nhân vật: bác lái xe, ông họa sĩ, cô kĩ sư…

Từ những điểm nhìn ấy tác giả dần khám phá, khắc họa những vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn anh

b, Giải quyết vấn đề

Luận điểm 1: Hoàn cảnh sống và làm việc của nhân vật anh thanh niên

- Hoàn cảnh sống và công việc:

+ Sống và làm việc một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, quanh năm suốt

tháng bốn bề mây mù, lạnh rét Anh cô độc đến ”thèm người” và luôn ”nhớ người”

+ Công việc mỗi ngày của anh là: Làm công tác khí tượng thủy văn kiêm vật lí

địa cầu: ”Đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất”, dự báo trước

thời tiết hàng ngày phục vụ sản xuất và chiến đấu => Công việc gian khổ đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao

Luận điểm 2: Những vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên

- Lòng yêu nghề, ý thức trách nhiệm cao đối với công việc:

+ Vì lòng yêu nghề nên anh đã vượt qua được khó khăn gian khổ của thời tiết

khắc nghiệt, của sự cô đơn đến mức”thèm người”

+ Vì ý thức trách nhiệm cao đối với công việc nên hằng đêm anh phải dậy đúng giờ “ốp” để làm công việc của mình mặc cho đêm rét, mưa, bão tuyết ào ào xô tới tấn công như chặt từng khúc, như muốn phá tung tất cả nhưng anh vẫn cảm thấy thoải mái vì hoàn thành công việc

+ Anh suy nghĩ đúng đắn về công việc của mình, tuy bé nhỏ nhưng góp ích cho đất nước, cho xã hội và cảm thấy thật hạnh phúc khi biết nhờ vào sự phát hiện

Trang 18

kịp thời của anh về đám mây khô trên bầu trời Hàm Rồng mà đã giúp cho không quân của ta bắn rơi máy bay Mĩ

+ Anh nói về công việc và sự cô đơn của mình một cách chân thành và sâu sắc:

“Công việc của cháu gian khổ thế đấy chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”, “khi

ta làm việc, ta với công việc là đôi sao lại gọi là một mình được”, “người thì ai mà chả thèm, song mình sinh ra để làm gì? Mình đẻ ở đâu? Mình vì ai mà làm việc?”

-> Anh thanh niên là người có suy nghĩ và lối sống cao đẹp, một con người sống có lí tưởng, có mục đích đúng đắn về sự cống hiến cho đất nước

- Sắp xếp cuộc sống một cách khoa học, ngăn nắp

+ Mặc dù, chỉ có một mình trên đỉnh núi cao, anh vẫn chủ động, sắp xếp cho mình một cuộc sống ngăn nắp, đầy đủ, phong phú và thơ mộng: trồng hoa, nuôi gà, đọc sách… Hình ảnh người con trai nhỏ bé đứng giữa vườn hoa thược dược vàng, tím, đỏ, hồng phấn, tổ ong… thật là đẹp! Con người anh là sự kết hợp hài hòa giữa nghị lực phi thường và một tâm hồn lãng mạn, một đời sống nội tâm phong phú + Trong cái cuộc sống lẻ loi của mình, ngoài công việc anh còn tìm thấy một niềm vui khác nữa - đó là đọc sách Với anh, đọc sách không chỉ là nâng cao kiến thức mà còn để trò chuyện, để thanh lọc tâm hồn và cũng là một cách để giao tiếp

- Cởi mở, chân thành, hiếu khách, luôn quan tâm đến người khác

+ Vì “thèm người” mà anh đã đẩy một khúc gỗ ra chắn giữa đường, buộc xe khách đi qua phải dừng lại Việc làm ấy thể hiện niềm khao khát được gặp gỡ, được trò chuyện

+ Khi biết có khách tới thăm nhà anh đã chuẩn bị, đón tiếp nhiệt tình chu đáo: Với bác lái xe dường như đã trở thành người bạn thân tình nên anh nhớ việc vợ bác vừa mới ốm dậy Anh gửi biếu vợ bác lái xe củ tâm thất vì hôm nọ “bác chẳng bảo bác gái vừa ốm dậy là gì?”

+ Anh đón tiếp ông họa sĩ và cô kĩ sư thật thân tình, nồng hậu - đón bằng sự niềm nở cùng hoa tươi trong vườn, cùng chè pha nước mưa Yên Sơn, rồi cả làn trứng lúc chia tay để hai người làm thức ăn đi đường Lòng mến khách của anh đã khiến ông họa sĩ xúc động: “người con trai ấy đáng yêu thật!”

Trang 19

-> Chỉ bằng vài nét khắc họa nhẹ nhàng, tác giả đã làm nổi bật anh thanh niên - bức chân dung với vẻ đẹp tinh thần, tình cảm, lối sống, những suy nghĩ về lí tưởng, công việc của anh Thật đáng tiếc! Chính tác giả cũng đã nhận xét truyện ngắn này

là “một bức chân dung” - chân dung được hiện lên ở một số nét đẹp nhưng chưa được xây dựng thành một tính cách hoàn chỉnh và hầu như chưa có cá tính

- Đánh giá về nhân vật: Dù còn trẻ tuổi nhưng anh đã thấm thía cái nghĩa, cái

tình của mảnh đất Sa Pa nơi mà mình được sinh ra và lớn lên; thấm thía sự hi sinh thầm lặng của những con người ngày đêm làm việc và lo nghĩ cho đất nước Có thể nói, qua cuộc gặp gỡ và trò chuyện, nhân vật anh thanh niên được khắc họa giản dị, khiêm nhường, đẹp trong suy nghĩ, trong cách sống và trong tâm hồn Đó là nét vẽ đơn sơ, chân dung một con người có tầm vóc nhỏ bé mà nét mặt rạng rỡ

Luận điểm 3: Nghệ thuật khắc họa nhân vật

- Ngôi kể: ngôi thứ 3, điểm nhìn trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn và ý nghĩ của nhân vật ông họa sĩ, ngoài ra còn có điểm nhìn của cô kĩ sư và bác lái xe Khiến cho câu chuyện về nhân vật trở nên khách quan, chân thực, có cái nhìn nhiều chiều về nhân vật

- Nhân vật được đặt trong tình huống đặc sắc: Tình huống truyện là cuộc gặp

gỡ tình cờ, ngắn ngủi giữa ông họa sĩ, cô kĩ sư và anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn, Sa Pa Tạo tình huống ấy khiến tác giả giới thiệu nhân vật một cách thuận lợi, nhất là để nhân vật ấy hiện lên qua cái nhìn, ấn tượng của các nhân vật khác Từ đó làm cho hình tượng của anh thanh niên trở nên khách quan, chân thực

- Tác giả không gọi nhân vật bằng tên cụ thể mà gọi nhân vật bằng đặc điểm giới tính, nghề nghiệp -> nổi bật vẻ đẹp bình dị và khiêm nhường; nổi bật ý nghĩa điển hình cho lớp trẻ Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ: lặng thầm, khao khát cống hiến cho đất nước

- Khắc họa nhân vật qua những chi tiết nghệ thuật đặc sắc, giàu sức gợi, tạo ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc

c, Kết thúc vấn đề

- Khẳng định vấn đề đã nghị luận: Tác phẩm đã khắc họa thành công hình ảnh những con người lao động bình dị, mà tiêu biểu là anh thanh niên - vẻ đẹp tiêu biểu của hình tượng người lao động mới trong xã hội chủ nghĩa, ngày đêm lặng thầm góp sức mình vào công cuộc xây dựng đất nước

- Bộc lộ cảm xúc của người viết…

Trang 20

- Sự ảnh hưởng tích cực của nhân vật tới bản thân…

Bước 3: Viết thành bài văn cảm thụ theo dàn ý

2.2 Cảm thụ nhân vật trong nhiều tác phẩm khác nhau (còn gọi là so sánh nhân vật trong văn học)

1 Ý kiến nhận định tổng kết, kết luận về tác phẩm văn học (thường lấy ở

phần ghi nhớ sau mỗi bài học trong sách giáo khoa)

Cách làm

Bước 1: Đọc kĩ đề bài để nắm được yêu cầu của đề và xác định:

- Vấn đề nghị luận: là tổng kết, kết luận về giá trị của toàn bộ tác phẩm hay chỉ thuộc phương diện nội dung, nghệ thuật

+ Nội dung

+ Nghệ thuật

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

* Tìm ý:

- Nêu xuất xứ của ý kiến, nhận định

- Giải thích ý nghĩa của nhận định

- Phân tích, chứng minh cho ý kiến nhận định

- Đánh giá tổng hợp về ý nghĩa của ý kiến, nhận định

* Lập dàn ý:

a, Đặt vấn đề:

- Giới thiệu vấn đề nghị luận

Trang 21

- Trích dẫn ý kiến

b, Giải quyết vấn đề

* Giải thích và khẳng định ý kiến (xuất xứ, ý nghĩa,…):

- Giải thích ý nghĩa và khẳng định tính chính xác, đúng đắn của ý kiến, nhận định (Vì ý kiến, nhận định ở phần ghi nhớ sau mỗi bài học trong sách giáo khoa đã mang tính chất chuẩn mực, chính xác về các phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học và thường diễn đạt bằng những từ ngữ câu văn mang ý tường minh nên không cần giải thích cụ thể từng từ ngữ mà chỉ cần khẳng định tính đúng đắn, chính xác của nhận định)

- Giải thích vì sao lại khẳng định tính chính xác và đúng đắn của nhận định (Bước này căn cứ vào nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học)

(Mỗi luận điểm triển khai ít nhất thành một đoạn văn Giữa các luận điểm phải

có câu văn chuyển ý Câu văn chuyển ý phải có vai trò thâu tóm luận điểm trước, mở

ra luận điểm sau để cho bài văn vừa có sự mạch lạc, uyển chuyển vừa thống nhất)

* Đánh giá tổng hợp

c, Kết thúc vấn đề: Khẳng định lại ý kiến và liên hệ bản thân

Lưu ý: Kiểu bài này rất ít khi đề yêu cầu liên hệ với một tác phẩm văn học khác

vì kết luận (ghi nhớ trong sách giáo khoa) là đúc kết từ một tác phẩm cụ thể

Bước 3: Viết bài dựa theo dàn ý

Ví dụ minh họa:

Nhận định về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận sách giáo khoa Ngữ

văn 9 tập 1 có viết:

“Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể

hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con ngưởi lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống”

Trang 22

Dựa vào sự hiểu biết của em về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá hãy làm sáng tỏ

* Nêu xuất xứ và giải thích ý kiến

- Nêu xuất xứ và giải thích ý kiến, nhận định

- Ý kiến trong đề bài đã khẳng định, kết luận về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Đoàn thuyền đánh của Huy Cận Đây là một ý kiến hoàn toàn chính xác bởi vì xuyên suốt bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là những hình ảnh đẹp tráng lệ, là bức tranh hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động vùng biển Quảng Ninh

Từ đó bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ về đất nước về cuộc sống mới của đất nước đang từng ngày đổi thay trong những ngày đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở miền Bắc

* Phân tích, chứng minh:

Luận điểm 1: Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động trong cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá

- Thiên nhiên buổi hoàng hôn thật đẹp và tráng lệ: “Mặt trời” được so sánh với

“hòn lửa” đang hạ dần xuống biển -> Hình ảnh mặt trời trở nên rực rỡ tráng lệ và kì vĩ

- Biện pháp nhân hóa ẩn dụ “sóng cài then đêm sập cửa” đã tạo nên bức tranh thiên đẹp tráng lệ gần gũi Bức tranh thiên nhiên đó làm phông nền cho con người lao động xuất hiện với công việc đánh cá trên biển Chữ “lại” diễn tả việc đánh cá của ngư dân đã diễn ra nhiều lần trở thành nền nếp thường xuyên liên tục Từ đó tác giả tạo ra hình ảnh khỏe lạ mà rất thực tế từ sự gắn kết ba sự vật hiện tượng” “cánh buồm”, “gió khơi”, “câu hát” của người lao động Tiếng hát hào hứng khi ra khơi của người lao động đã hòa nhịp với gió khơi làm căng cánh buồm Đó chính là sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động

Luận điểm 2: Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động trong cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm

Trang 23

- Cảm hứng lãng mạn kết hợp với hiện thực giúp nhà thơ phát hiện nhiều vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động hài hòa với nhau Thiên nhiên vũ trụ với không gian rộng lớn, khoáng đạt của trời, nước, mây cao, biển bằng, trăng sao, gió làm căng cánh buồm, gió lùa bóng nước

- Hòa cùng không gian vũ trụ là con thuyền đánh cá Con thuyền có gió làm bánh lái, có trăng làm cánh buồm gợi lên sự nhịp nhàng hòa quyện của đoàn thuyền với biển trời

- Tầm vóc của con người lao động được nâng lên hòa nhập vào kích thước của thiên nhiên vũ trụ bởi các từ ngữ: lướt, ra đậu, dò, dàn đan, thế trận, vây giăng -> Hình ảnh con thuyền tung hoành ngang dọc giữa biển khơi cũng là tư thế của con người lao động làm chủ biển khơi, làm chủ đất trời…

- Công việc đánh cá đêm trên biển vốn vất vả nặng nhọc và đầy nguy hiểm trở nên nhẹ nhàng như một cuộc du ngoạn nhờ cách nói thi vị của nhà thơ Tác giả đã đặt công việc đánh cá của con người trong mối quan hệ với thiên nhiên “hát bài ca gọi cá” “gõ thuyền đã có nhịp trăng cao” và câu hát ngợi ca biển “biển cho ta cá như lòng mẹ”…

- Hình ảnh người đánh cá nổi bật giữa thiên nhiên vũ trụ “kéo xoăn tay” gợi hình ảnh người dân chài vạm vỡ khỏe mạnh cơ bắp nổi lên cuồn cuộn như bức tượng đồng hiện lên dưới ánh sáng rạng đông “lóe” và màu sắc “vàng”, “bạc” thể hiện vẻ đẹp và niềm vui của người lao động với mùa cá bội thu

Tất cả hòa nhập với màu sắc long lanh huyền ảo của các loại cá “đen hồng”,

“vàng chóe” và ánh sáng lung linh của trăng sao …

=> Cảm hứng lãng mạn kết hợp liên tưởng, tượng tưởng, bay bổng từ sự quan sát hiện thực đã tạo nên hình ảnh đẹp tráng lệ hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động

Luận điểm 3: Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con ngýời lao động trong cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về

- Đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh rạng đông, nắng hồng, gió khơi, mặt

trời đội biển… sự vận động của thiên nhiên trên biển thật kì vĩ, mát mẻ, trong trẻo tinh khôi và khoáng đãng Đoàn thuyền căng buồm “chạy đua cùng mặt trời” lướt sóng về bến trong niềm vui phơi phới hân hoan mừng thắng lợi hòa giữa vũ trụ bao

Trang 24

la Nghệ thuật nhân hóa, nói qua, hoán dụ…đã thể hiện thành công niềm vui của người lao động về cuộc sống ấm no hạnh phúc đang đến với người dân chài…

Luận điểm 4: Bài thơ Đoàn thuyền đánh của Huy Cận còn bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống

- Nhà thơ Huy Cận có cái nhìn tươi mới và cảm xúc hào hứng, tràn đầy niềm vui về cuộc sống Thiên nhiên tráng lệ, giàu có là nguồn tài nguyên vô tận luôn phục vụ con người, tham gia tích cực vào cuộc sống Con người hăng hái say mê lao động làm chủ cuộc sống, xây dựng cuộc sống mới

- Chính nhà thơ đã viết “Không khí lúc này thật vui, cuộc đời phấn khởi, nhà thơ cũng rất phấn khởi Cả một vùng than, vùng biển đang hăng say lao động từ bình minh cho đến hoàng hôn và cả từ hoàng hôn cho đến bình minh” Đây là một cái nhìn tin tưởng và phấn khởi của nhà thơ trước cuộc đời mới Cái nhìn ấy, cảm xúc ấy là kết quả của quá trình đi thực tế dài ngày tại vùng mở Quảng Ninh Bắt đầu

từ đây hồn thơ Huy Cận nảy nở trở lại trong niềm vui say của cuộc sống mới

3, Kết thúc vấn đề

- Ngợi ca vẻ đẹp hùng tráng và thơ mộng của biển khơi, ngợi ca cuộc sống tưng bừng niềm vui xây dựng, bài thơ thực sự là tiếng hát cất lên từ hồn thơ Huy Cận để dâng tặng cuộc đời

- Bộc lộ cảm xúc của người viết

2.Ý kiến nhận định có lí luận văn học

Trang 25

+ Nghệ thuật

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

* Tìm ý:

- Nêu xuất xứ của ý kiến, nhận định

- Giải thích các khái niệm lí luận văn học

- Phân tích, chứng minh cho ý kiến, nhận định

- Bàn luận: Sử dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải vấn đề nghị luận

+ Lí giải vì sao lại khẳng định ý kiến đúng bằng cách trả lời những câu hỏi “Vì sao lại thế?”, “Lí do nảy sinh vấn đề là gì?”, “Nguyên nhân nào dẫn đến vấn đề?”…để tìm hướng lí giải nhận định

Lưu ý: Giữa kiểu bài phân tích để chứng minh cho một ý kiến, nhận định mang

tính tổng kết, kết luận về tác phẩm văn học với kiểu bài phân tích chứng minh cho một ý kiến, nhận định mang tính lí luận văn học, điểm khác nhau cơ bản ở phần

Trang 26

(Mỗi luận điểm triển khai ít nhất thành một đoạn văn Giữa các luận điểm phải có câu văn chuyển ý Câu văn chuyển ý phải có vai trò thâu tóm luận điểm trước, mở ra luận điểm sau để cho bài văn vừa có sự mạch lạc, uyển chuyển vừa thống nhất.)

Lưu ý: Nếu đề bài yêu cầu liên hệ với một tác phẩm văn học khác thì cách làm

như sau:

- Phân tích tác phẩm thứ nhất theo luận điểm đã xác định

- Sau đó liên hệ đến tác phẩm thứ hai bằng cách chỉ giới thiệu những nét chính

về tác giả, tác phẩm và phân tích ngắn gọn về tác phẩm (theo ý kiến ở đề bài nhưng chỉ chiếm dung lượng 30% toàn bài viết)

Từ đó liên hệ điểm tương đồng và khác biệt trên các phương diện sau:

+ Hoàn cảnh, thời đại tác phẩm ra đời

+ Nội dung, chủ đề, đề tài thể hiện

+ Nghệ thuật thể hiện, phong cách của tác giả

+ Thái độ, tình cảm của tác giả

+ Lí giải về lí do có sự tương đồng khác biệt

(Trong quá trình liên hệ học sinh có thể tách riêng điểm tương đồng, khác biệt hoặc liên hệ song song, đồng thời ở từng phương diện, miễn là hợp lí)

Trong “Tiếng nói của văn nghệ” Nguyễn Đình Thi có viết:

… Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu ở thực tại Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ Anh gửi vào lá thư một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh…

(Sách Ngữ văn 9, tập hai, tr 12, 13 - NXB Giáo dục,2010)

Trang 27

Suy nghĩ của em về ý kiến trên? Hãy làm sáng tỏ vấn đề qua tác phẩm Làng

của Kim Lân

Hướng dẫn làm bài Bước 1: Đọc kĩ đề bài để nắm được yêu cầu của đề và xác định:

- Vấn đề nghị luận

+ Kiến thức lí luận: : vai trò của hiện thực đời sống đối với văn học nghệ thuật

và yêu cầu đối với người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật

+ Nội dung tác phẩm: Hình tượng nhân vật ông Hai

+ Nghệ thuật: Nghệ thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ nhân vật

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

* Tìm ý:

- Khái quát về tác giả, tác phẩm

- Giải thích ý kiến

+ Chất liệu mượn từ thực tại đời sống trong tác phẩm Làng

+ Cách nhìn, cách cảm riêng về cuộc sống được thể hiện trong tác phẩm Làng + Sáng tạo nghệ thuật mới mẻ trong tác phẩm Làng

- Phân tích, chứng minh: Theo luận điểm đã xác lập

- Đánh giá, tổng hợp

* Lập dàn ý:

1, Đặt vấn đề

- Dẫn dắt vấn đề: có thể dẫn dắt theo nhiều cách khác nhau

- Giới thiệu vấn đề nghị luận:

+ Nêu khái quát vấn đề nghị luận: Tính chất đặc trưng của tác phẩm văn nghệ nói chung, tác phẩm văn học nói riêng được thể hiện rõ qua tác phẩm Làng

+ Trích dẫn nhận định

- Phạm vi vấn đề: Phân tích chứng minh qua tác phẩm Làng

- Đánh giá sơ bộ vấn đề

2, Giải quyết vấn đề

a Nêu xuất xứ và giải thích ý kiến:

- Nêu xuất xứ câu nhận định:

Trang 28

- Giải thích nhận định:

+Tác phẩm: đứa con tinh thần, sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ

+ Nghệ sĩ: người sáng tạo tác phẩm nghệ thuật

+Vật liệu mượn ở thực tại: hiện thực là chất liệu để xây dựng nên tác phẩm + Ghi lại cái đã có rồi: sao chép y nguyên cuộc sống như nó vốn có

+ Muốn nói một điều gì mới mẻ: tác phẩm thể hiện cách nhìn và cách khám phá

riêng về hiện thực đồng thời gửi gắm những thông điệp của người nghệ sĩ

- Cặp quan hệ từ: không những… mà còn… chỉ quan hệ bổ sung

-> Ý kiến khẳng định vai trò của hiện thực đời sống đối với văn học và đề cao

sự sáng tạo của người nghệ sĩ

- Lí giải nhận định:

* Vì sao tác phẩm nào cũng xây dựng bằng chất liệu mượn ở thực tại?

- Thực tại đời sống là cội nguồn của sáng tạo nghệ thuật, trong đó có sáng tác văn chương Không có cuộc sống sẽ không có sáng tạo nghệ thuật

- Thực tại đời sống là đề tài vô tận cho văn chương khai thác và phản ánh, là nguồn chất liệu vô cùng phong phú sinh động cho nhà văn lựa chọn và sử dụng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Nó còn là cái nôi nuôi dưỡng nhà văn, là mảnh đất nhà văn sống và hình thành cảm xúc

- Văn học trở thành tấm gương phản chiếu thực tại đời sống để qua tác phẩm, người đọc có thể hình dung được “sự sống muôn hình vạn trạng” Không bám sát đời sống, nhà văn sẽ không thể cho ra đời những tác phẩm văn học giàu “chất sống” Nếu thoát li thực tại văn chương sẽ rơi vào siêu hình, thần bí

* Vì sao nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều

Trang 29

- Thực tại đời sống được cảm nhận dưới con mắt của người nghệ sĩ bao gồm những điều mà mọi người đều thấy và cả vấn đề mà người khác chưa thấy - những điều sâu sắc và mới mẻ luôn phát sinh từ cuộc sống

- Những chất liệu thực tại cần sự sắp xếp và tái hiện, sáng tạo trên cơ sở những

gì đã có để từ những mảng rời rạc của đời sống tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật

Đó là nhờ tài năng và công phu lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ

- Sáng tạo nghệ thuật thuộc lĩnh vực tinh thần mà đặc trưng của nó là tính cá thể hóa cao độ, đòi hỏi nhà văn phải đem đến cho văn chương một tiếng nói riêng, phong cách riêng, nếu không tác phẩm sẽ rơi vào quên lãng

- Thực tại đời sống được người nghệ sĩ ghi lại không phải là sự phản ánh một cách máy móc, rập khuôn mà được phản chiếu qua tâm hồn, trí tuệ, cảm xúc mãnh liệt của tác giả trước hiện thực Người nghệ sĩ không chỉ phản ánh cuộc sống mà còn gửi gắm, kí thác những ước mơ khát vọng về cuộc đời Qua tác phẩm ta thấy

được thông điệp tinh thần người nghệ sĩ gửi vào tác phẩm

CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG - NGUYỄN DỮ

Đề 1:

Cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam

Xương của Nguyễn Dữ (SGK Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

Hướng dẫn làm bài

a Đảm bảo cấu trúc một bài văn nghị luận: Trình bày đầy đủ các 0,25 Bài 1

Trang 30

phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu

được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết

chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được

vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương 0,25

c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận

điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt

các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm Học sinh có thể giải

quyết vấn đề theo hướng sau:

4.0

* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật:

- Nguyễn Dữ là gương mặt nổi bật của văn học Việt Nam thế kỉ XVI

“Truyền kì mạn lục” của ông thực sự đã mang đến cho nền văn học dân

tộc một “Thiên cổ kì bút” có khả năng lay động lòng người bởi giá trị mọi

mặt của nó

- “Chuyện người con gái Nam Xương” là thiên truyện thứ 16 trong 20

truyện của Truyền kì mạn lục và là thiên tiêu biểu trong tập sáng tác này

Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ

Nương, ”Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm cảm thương

đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ

phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ

- Trước khi làm vợ chàng Trương, Vũ Nương là người con gái xinh đẹp,

tính tình thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp -> Ở nàng đã hội tụ những vẻ

đẹp theo chuẩn mực của xã hội phong kiến

- Khi làm vợ chàng Trương, nhà văn đã đặt Vũ Nương vào trong các thời

điểm và các mối quan hệ khác nhau: với chồng, với mẹ chồng, với con để

làm toát lên những vẻ đẹp của Vũ Nương:

+ Vũ Nương là người vợ khéo léo, thủy chung và yêu thương chồng tha thiết:

Những ngày đầu làm vợ chàng Trương biết chồng là người thất học lại

+2,0

Trang 31

có tính đa nghi nên nàng luôn “giữ gìn khuôn phép” không để cho vợ

chồng phải xảy ra bất hòa -> Cư xử khéo léo, dịu dàng Khi tiễn chồng đi

lính nàng rót chén rượu đầy nói lời tình nghĩa, đằm thắm thiết tha (chàng

đi chuyến này…hai chữ bình yên …thế là đủ rồi) chứng tỏ nàng không

mong gì vinh hiển, chức tước, bổng lộc, chỉ khát khao hạnh phúc gia

đình Nàng còn cảm thông vì những gian lao vất vả mà chồng sắp phải

gánh chịu nơi chiến trận (Chỉ e việc quân khó liệu…) Nàng bày tỏ nỗi

khắc khoải nhớ thương của mình (mùa dưa chín quá kì…bay bổng) Khi

chồng ở ngoài mặt trận, nàng càng thủy chung yêu thương chồng hết

mực, buồn thương khắc khoải (ngày qua tháng lại…mỗi khi thấy bướm

lượn đầy vườn mây che kín núi nỗi buồn không thể nào ngăn cách được)

thổn thức tâm tình nhưng luôn giữ tiết hạnh với chồng (cách tiết 3 năm

…chưa hề bén gót)

+ Vũ Nương là người mẹ hiền, dâu thảo, là người phụ nữ đảm đang tháo vát:

Chồng xa nhà, một mình Vũ Nương vừa nuôi dạy con thơ vừa chăm sóc

mẹ già Chi tiết hằng đêm Vũ Nương bế con và chỉ vào bóng mình nói

“Cha Đản lại đến kia kìa” cũng là xuất phát từ tình yêu con sâu sắc vì

muốn con không phải sống trong sự thiếu vắng hình ảnh người cha ->

Nàng đã làm trọn trách nhiệm của người mẹ nhân hậu, dịu hiền hết lòng

yêu thương con Nàng còn chăm sóc nuôi dưỡng mẹ chồng ân cần chu

đáo, nói lời dịu dàng Khi mẹ chồng ốm, Vũ Nương chăm sóc tận tình lo

thuốc thang, lễ bái thần phật, khi bà mất nàng lo ma chay tế lễ chu đáo

vẹn toàn -> Nàng đã làm trọn bổn phận của người con dâu hiếu thảo

Phẩm chất này của Vũ Nương đã được mẹ chồng khẳng định ở lời trăn

trối: (Ngắn dài có số…chẳng phụ con)

* Sống nơi thủy cung, nàng vẫn giữ được những phẩm chất tốt đẹp,

không nguôi thương nhớ chồng con, lo lắng đến phần mộ tổ tiên

Muốn khát khao được phục hồi danh dự

=> Vũ Nương là người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục, đảm đang

tháo vát, là người vợ thủy chung, người mẹ nhân hậu, người con hiếu

thảo hết lòng vun đắp cho hạnh phúc gia đình, là khuôn vàng thước ngọc

của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến nhưng cuộc đời lại

không may mắn đối với nàng

Trang 32

- Phải sống trong nỗi cô đơn vất vả, một mình nuôi dạy con thơ, chăm

sóc mẹ chồng, thiếu vắng tình cảm của chồng

- Phải chịu nỗi oan nghiệt cuối cùng phải tự vẫn:

Khi chiến tranh kết thúc, Trương Sinh trở về lẽ ra người phụ nữ vẹn toàn

như Vũ Nương phải được sống hạnh phúc nhưng nàng lại bị nghi oan

Nàng đã giãi bày, phân trần nhưng Trương Sinh không hề động lòng trắc

ẩn trước sự khổ đau của nàng Hàng xóm bênh vực, biện minh nhưng

chàng cũng không tin Nàng đã không có quyền bảo vệ mình, bị chồng

ruồng rẫy, ghẻ lạnh, mắng nhiếc, đánh đuổi Nàng đã giải bày và thề

nguyền về sự trinh bạch của mình, cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình có

nguy cơ tan vỡ nhưng không được, bế tắc tuyệt vọng đến bước đường

cùng nàng phải trẫm mình xuống sông Hoàng Giang để tự vẫn

Nỗi oan và cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân… nhưng chủ

yếu vẫn là do sự hồ đồ và độc đoán của Trương Sinh -> Từ những

nguyên nhân này nhà văn muốn tố cáo xã hội phong kiến đầy rẫy những

bất công đã đẩy người phụ nữ đẹp người đẹp nết như Vũ Nương vào số

phận bi thảm

=> Thông qua cuộc đời và số phận Vũ Nương nhà văn không chỉ ca ngợi

những phẩm chất đức hạnh của nàng mà còn thương cảm những khổ đau

bi kịch của người phụ nữ đồng thời lên án tố cáo xã hội phong kiến…đã

đẩy người phụ nữ vào bước đường cùng không lối thoát

3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

- Cách dẫn dắt tình huống sự việc hợp lí, kịch tính ngày càng tăng, thắt -

mở nút bất ngờ

- Đặt nhân vật vào tình huống, thời điểm và các mối quan hệ khác nhau

để nhân vật bộc lộ phẩm chất

- Sáng tạo chi tiết cái bóng kết hợp hài hòa yếu tố thực và ảo, lời văn biền

ngẫu, hình ảnh so sánh ước lệ, sinh động, hấp dẫn…

Đánh giá nâng cao:

- Khẳng định lại nhân vật

-Liên hệ với người phụ nữ ngày nay để thấy được tính ưu việt của xã hội

hiện nay đã đem đến cho người phụ nữ cuộc sống mới và vị thế mới…

+0,5

d Sáng tạo: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (Viết câu, sử 0,25

Trang 33

dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm ) thể hiện được quan điểm

và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và

pháp luật

e Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ

nghĩa Tiếng Việt Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu

0,25

Đề 2:

Dựa vào truyện cổ tích “Vợ chàng Trương” nhưng “Chuyện người con gái

Nam Xương” đã khẳng định được những sáng tạo tài hoa của Nguyễn Dữ

Hãy làm sáng tỏ những sáng tạo của tác giả được thể hiện trong tác phẩm đó

Đề 3:

Trong tập tiểu luận “Trang giấy trước đèn”, Nguyễn Minh Châu từng viết:

“Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng

giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ, bị cái ác và số phận đen đủi dồn đến chân tường, để bênh vực cho những con người không còn được ai bênh vực”

Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Cảm nhận qua nhân vật Vũ Nương trong

Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, từ đó liên hệ với nhân vật chị

Dậu trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố để thấy được điểm tương

đồng và khác biệt trong cách thể hiện của mỗi nhà văn

Đề 4:

Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt Trong đó những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự trong thơ vậy

(Nguyễn Đăng Mạnh - Trong cuộc tọa đàm về cuốn sách Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa báo Văn nghệ số 14, 4/1999)

Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng việc phân tích ý nghĩa của chi tiết chiếc

bóng trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ để làm rõ ý kiến

trên Liên hệ với chi tiết chiếc lá trong” Chiếc lá cuối cùng” của O,Henri để thấy

tài năng của mỗi nhà văn trong việc thể hiện chi tiết tác phẩm

Trang 34

NGUYỄN DU VÀ CÁC ĐOẠN TRÍCH TRUYỆN KIỀU

Đề 1:

Sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập một viết: “Đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” là bức

tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng được gợi lên qua từ ngữ, bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình của Nguyễn Du”

Từ việc cảm nhận của em về đoạn thơ sau, hãy làm sáng tỏ nhận định trên:

Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử, giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm

(Nguyễn Du - Truyện Kiều, SGK Ngữ Văn 9, tập một, trang 84,85)

Đề 2

Cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh mùa xuân trong hai đoạn thơ sau:

Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam) Mọc giữa dòng sông xanh

Bài 2

Trang 35

Một bông hoa tím biếc

Ôi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng (Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam)

Đề 3

Nói về bút pháp tả người của Nguyễn Du, giáo sư Trần Đình Sử nhận xét: “Cả

vẻ đẹp lẫn tài năng nhân vật, tuy đều vẽ rất khéo léo, bút pháp đa dạng (mỗi nhân vật có một cách vẽ riêng) nhưng vẫn nằm trong nghệ thuật và tư tưởng thời trung đại, với những đường nét ước lệ, cao quý, hoàn hảo, lí tưởng […], làm hiện

rõ hai bức chân dung, dự báo số phận về sau của mỗi người.”

Em hãy phân tích đoạn trích Chị em Thúy Kiều (SGK Ngữ văn 9, tập 1, NXB

Giáo dục Việt Nam) để làm sáng tỏ nhận xét trên

Đề 4

Hoài Thanh từng nhận xét: Nguyễn Du - “một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”

Qua việc tìm hiểu tác giả Nguyễn Du và các đoạn trích đã học (SGK Ngữ Văn

9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam) em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

Hướng dẫn làm bài

a Đảm bảo cấu trúc một bài văn nghị luận: Trình bày đầy đủ các

phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu

được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết

chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được

vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân

0,25

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Nguyễn Du - “một trái tim lớn,

một nghệ sĩ lớn”

0,25

c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các

luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có liên kết chặt chẽ; sử

dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm Học sinh có thể

giải quyết vấn đề theo hướng sau:

4.0

Trang 36

* Giới thiệu tác giả, tác phẩm và các đoạn trích (Tham khảo đề 1)

*Giải thích và khẳng định ý kiến:

- Trái tim lớn: là tâm hồn, tấm lòng cao đẹp, chứa chan tình yêu thương

- Nghệ sĩ lớn: trí tuệ lớn, tài năng thơ ca trác việt (tài)

Ở Nguyễn Du: Tâm cũng lớn mà tài cũng lớn Đọc thơ Nguyễn Du, nhất

là Truyện Kiều, người ta thấy “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”

và cũng thấy rằng tất cả lời ngọc ý vàng ấy đều được viết ra từ một tấm

lòng đau đớn cho thân phận con người, cho thời thế và cho nhân thế

Ngọc của nghệ thuật Nguyễn Du đúng là kết tinh từ vết thương lòng của

một trái tim từng quặn đau trong biển đời

Một số đoạn trích trong truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện đầy đủ ý

kiến trong đề bài

+0,5

* Phân tích, chứng minh:

1 Trái tim lớn của Nguyễn Du:

1.1 Mang một nỗi đau thời đại, một tình yêu thương sâu rộng con

người - “Người vẫn còn mang vết thương đã lại đi chữa vết thương cho

người khác” (Nguyễn Ngọc Tư)

- Nguyễn Du sống vào nửa cuối TK XVIII - nửa đầu TK XIX trong hoàn

cảnh xã hội có nhiều biến động dữ dội:

+ Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, các tập đoàn

phong kiến tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau, đời sống nhân dân

vô cùng cực khổ, xã hội loạn lạc, tăm tối

+ Bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là

khởi nghĩa Tây Sơn đánh đổ các tập đoàn phong kiến thống trị, quét sạch

hai mươi vạn quân Thanh xâm lược

- Sống giữa sóng gió ba đào của thời đại ấy, Nguyễn Du đã nếm trải đủ

cay đắng, ngọt bùi trên đời, bất lực, phẫn uất khi chứng kiến xã hội

đương thời đầy những cảnh nhiễu nhương, những điều trái tai gai mắt…

Thế nên các sáng tác của ông là bức tranh sinh động về xã hội, những

cảnh đời trước mắt Nổi bật nhất trong những sáng tác đó là “Truyện

+2,5

Trang 37

Kiều” - Tiếng kêu mới của một trái tim rỉ máu:

“Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

1.2 Luôn trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp, tài năng và phẩm chất cao quý của con người (Dựa vào đoạn trích Chị em Thúy Kiều, Cảnh ngày xuân,

Kiều ở lầu Ngưng Bích làm rõ)

- Vẻ đẹp nhan sắc:

+ Vẻ đẹp của Thúy Vân : Đó là vẻ đẹp đoan trang phúc hậu, quí phái khác

thường: Khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn như mặt trăng, lông mày sắc nét đậm như con ngài, miệng cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong trẻo thoát ra từ hàm răng ngà ngọc, mái tóc đen óng nhẹ hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết Vẻ đẹp của Thúy vân tạo sự hòa hợp, êm đềm với

xung quanh nên nàng sẽ có cuộc đời bình lặng, suôn sẻ

+ Vẻ đẹp Thúy Kiều: Vẻ đẹp của Kiều ở đôi mắt “làn thu thủy”: trong

veo, êm dịu, đượm buồn như nước hồ mùa thu, ở đôi mày “nét xuân sơn”: như nét bút vẽ núi mùa xuân trong bức tranh thủy mặc Nhan sắc đó: đẹp như hoa, yểu điệu như liễu nhưng vẻ đẹp vượt trên vẻ đẹp thông thường,

ví như sắc đẹp của người con gái khiến cho quân vương say đắm mà mất

đi quốc gia Vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt mỹ, thế nhưng vẻ đẹp ấy khiến trời đất ghen tị -> dự báo cuộc đời lênh đênh của nàng sau này

- Vẻ đẹp tài năng của Kiều: Tất cả tài năng của nàng đều được thiên phú,

nàng am hiểu cả cầm - kỳ - thi - họa -> người con gái lý tưởng trong xã hội phong kiến “pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm” nhưng nổi bật nhất là thi ca, nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương”

Trang 38

Thúy Kiều thật đáng thương khi rơi vào hoàn cảnh gia đình tan tác, nàng

đã phải hy sinh chính hạnh phúc của mình để cứu lấy gia đình, cứu lấy cha

-> Đặt chữ hiếu lên hàng đầu, gạt bỏ tình yêu với Kim Trọng -> Nàng

bán thân mình để chuộc cha Khi phải phiêu bạt, giam lỏng nơi lầu

Ngưng Bích vẫn luôn nặng lòng xót thương, lo lắng cho cha mẹ, luôn

khẳng định tấm lòng son sắt, thủy chung đối với Kim Trọng dù trên

bước đường đời có phải trải qua bao sóng gió thì tấm lòng son ấy mãi

vẹn nguyên

1.3 Tấm lòng yêu thương, đồng cảm, xót xa cho những số phận người

phụ nữ tài sắc mà bất hạnh, gặp nhiều bi kịch trong cuộc đời (Dựa vào

đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích làm rõ)

- Đau xót cho cảnh ngộ côi cút, đơn độc nơi lầu Ngưng Bích “khóa

xuân” (6 câu đầu)

- Nguyễn Du nhập thân vào nhân vật để cảm nhận hết nỗi đau của nhân vật,

tác phẩm viết ra như có “máu chảy trên đầu ngọn bút”, thương cảm cho tương

lai bất định, nhiều bất an của Kiều nơi lầu Ngưng Bích (8 câu cuối)

2 Nguyễn Du còn là một nhà nghệ sĩ lớn

- Ông là người đầu tiên trong lịch sử văn học trung đại đã đưa nghệ thuật

văn học, đặc biệt là nghệ thuật thơ ca Việt Nam lên một đỉnh cao vời vợi

chưa từng thấy

+ Truyên Kiều là một kiệt tác chứng tỏ nguyễn Du là một ngòi bút thiên

tài, là bậc thầy của nghệ thuật thơ ca ở nhiều phương diện

- Tài miêu tả, khắc họa tính cách nhân vật: Khắc họa bằng một vài nét

nhưng rất đậm đà sắc sảo, nổi bật lên như chạm khắc

- Miêu tả thiên nhiên, tâm trạng đặc sắc

- Nguyễn Du là một bậc thầy về ngôn ngữ

+ Ngoài ra: thơ chữ Hán, văn chiêu hồn của Nguyễn Du đạt được nhiều

thành tựu đặc sắc về nghệ thuật

* Đánh giá, tổng hợp:

- Ý kiến của Hoài Thanh đã đánh giá đúng đắn về Nguyễn Du: Năng

khiếu văn chương, vốn sống phong phú kết tinh ở một trái tim yêu

thương vĩ đại đối với con người trong một bối cảnh lịch sử cụ thể đã tạo

+0,5

Trang 39

nên thiên tài Nguyễn Du - đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới

- Với một trái tim dạt dào tình người, tình đời, một ngòi bút tài hoa hiếm

thấy, Nguyễn Du và tác phẩm của ông mãi mãi được ca tụng, lưu truyền

Nguyễn Du xứng đáng được coi là một thiên tài văn học, một danh nhân

văn hoá tầm cỡ nhân loại Như M.Gorki, Puskin, Lỗ Tấn , tên tuổi và sự

nghiệp của ông làm rạng danh cho nền văn hoá dân tộc và thế giới

d Sáng tạo: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (Viết câu, sử

dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm ) thể hiện được quan

điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức

và pháp luật

0,25

e Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ

nghĩa Tiếng Việt Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu

0,25

Đề 5:

Nhận xét về Truyện Kiều của Nguyễn Du, Mộng Liên Đường Chủ Nhân - Nhà

phê bình văn học nổi tiếng thế kỉ XIX viết:

Nguyễn Du là người “có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt

cả nghìn đời”

Dựa vào đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du

- SGK Ngữ văn 9 tập 1 - NXB Giáo dục Việt Nam, 2010, tr 93-94) hãy làm sáng tỏ

ý kiến trên

Đề 6:

“Hình tượng văn học không chỉ là thế giới sống, mà còn là “thế giới biết nói”

Bằng hiểu biết về thiên nhiên trong các đoạn trích “Cảnh ngày xuân” “Kiều ở

lầu Ngưng Bích” Truyện Kiều của Nguyễn Du (SGK Ngữ Văn 9, tập 1, NXB Giáo

dục Việt Nam) em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

Hướng dẫn làm bài

a Đảm bảo cấu trúc một bài văn nghị luận: Trình bày đầy đủ các

phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu

được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết

0,25

Trang 40

chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được

vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Thiên nhiên trong hai đoạn

trích “không chỉ là thế giới sống, mà còn là “thế giới biết nói”

0,25

c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận

điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt

các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm Học sinh có thể giải

quyết vấn đề theo hướng sau:

* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hai đoạn trích

Trích dẫn ý kiến

- Giới thiệu tác gỉa Nguyễn Du: là đại thi hào dân tộc, là danh nhân văn

hóa thế giới

- Giới thiệu về “Truyện Kiều”: là kiệt tác của Nguyễn Du, là tác phẩm kinh

điển của văn học Việt Nam và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới

- Giới thiệu vị trí hai đoạn trích và dẫn dắt thiên nhiên trong Truyện Kiều

không chỉ là thế giới sống, mà còn là “thế giới biết nói”

4.0

+0,25

* Giải thích ý kiến, nhận định:

- Giải thích:

+ Hình tượng văn học là một thế giới sống: Đó là hình tượng nghệ thuật

được người nghệ sĩ sáng tạo nên từ thế giới hiện thực khách quan một

cách sống động, cụ thể Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống nhưng

không sao chép y nguyên mà có chọn lọc, sáng tạo thông qua lăng kính

của nhà văn, nhà thơ

+ Hình tượng văn học là thế giới biết nói: Người nghệ sĩ sáng tạo hình

tượng văn học trong tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể

hiện tư tưởng, tình cảm của mình, gửi gắm một lời nhắn nhủ…về con

người, về cuộc sống Thông qua hình tượng văn học, người đọc phải suy

nghĩ, nhận thức về con người, cuộc sống…để lựa chọn cho mình một lối

sống đúng đắn Người đọc có thể tìm thấy tiếng nói đồng điệu trong tác

phẩm mà người nghệ sĩ muốn truyền đạt

-> Ý kiến trên đã khẳng định đặc trưng của hình tượng trong tác phẩm

văn học: Hình tượng nghệ thuật vừa mang tính khái quát, vừa mang

+0,5

Từ khóa » Cách Viết Nghị Luận Văn Học Lớp 9