Camnang-kinh
Có thể bạn quan tâm
| ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ Từ Bi Bác Ái Công Bình [ Thất Thập Tam Niên ] Tòa Thánh Tây Ninh |
| Đời Ngắn Ngủi Tôi đến trọ đời chỉ một chốc Thấy trăm năm mới sáng đã chiều Sinh khôn cho lắm cũng về đất Trời xoay không giới trụ thiên hà . Muà hạ Paris 15-7-1998 Huỳnh Tâm |
| Cẩm Nang Kinh |
| * Biên khảo Huỳnh Tâm |
| Lời Giới Thiệu Hiền Ðệ Huỳnh Tâm [ Paris ] |
| Kính Hiền Ðệ . Tôi nhận quyển Cẩm Nang Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo của Hiền Ðệ do Phan Ngọc Truất trao lại vào ngày 30/12/1997 . Buổi chưa có Trời-Ðất, âm dương tương hiệp phát khởi Càn khôn rồi biến sanh vạn vật muôn loài, cho đến khi càn khôn phân định thì hoằng khai Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, rồi kế tiếp Nhị Kỳ Phổ Ðộ để giáo hóa chúng sanh tu hành. Ðế buổi Hạ Nguơn mạt pháp, Ðức Chí Tôn giáng trần dụng quyền linh Cơ Bút khai Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Chuyển tiếp qua ba thời Khai Giáo : Nhứt Kỳ, Nhị Kỳ và Tam Kỳ cũng chưa có Kinh Tận Ðộ . Mãi đến mười năm [ Ðệ Thập Niên ], Ðức Quyền Giáo Tông, Ðức Hộ Pháp dâng sớ cầu xin được Ðức Chí Tôn ban cho Tân Kinh tức Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo là Kinh Tận Ðộ đó. Một kho báu quí gía vô tận Ðức Chí Tôn ban cho chúng ta, từ ngày có Kinh Tận Ðộ các Chơn Hồn được siêu thoát, như vậy có nhiều bạn Ðạo chưa biết giá trị của Tân Kinh . Hôm nay Hiền Ðệ gia tâm sưu khảo, diễn giải rõ nghĩa lý diệu huyền của Kinh Tận Ðộ, vì Ðức Chí Tôn ban ân cho mỗi người chúng ta, kể như có được chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh, là khi mãn kiếp trần có đường về [ Cõi Thiêng Liêng Hằng Sống ] . Vậy tôi long trọng giới thiệu với các bạn Ðạo và để lời khen Hiền Ðệ . |
| Tòa Thánh Tây Ninh, ngày 07 tháng 12 Ðinh Sửu [ DL:05/01/1998 ] Phối Sư Thái Thế Thanh |
| Lời Bộc Bạch Cẩm Nang Kinh dẫn giải từ nguyên bổn Tân Kinh Thiên Ðạo & Thế Ðạo của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tòa Thánh Tây Ninh, Tân Kinh Thiên Ðạo là phép mầu kỳ diệu được tôn vinh tuyệt đối, như dòng nước Cam lộ của thời đại hoằng vĩ, bởi Ðức Chí Tôn chan rưới Ðạo Trời và chư Phật, Tiên, Thánh, Thần đồng truyền tụ cho quý Ðấng Chức Sắc Ðại Thiên Phong như: Ðức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt [ Lê Văn Trung ], Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Ðức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư, Ðức Thượng Sanh Cao Hoài Sang, và năm 1926 chính thức công bố khai mở Ðại Ðạo truyền lưu đời đời . Cẩm Nang Kinh nay gửi vào đời dòng mạch hoằng pháp Tân Kinh Thiên Ðạo & Thế Ðạo, nhằm thôi thúc cơ duyên thấu suốt thần học và nhuận ý chân lý bao quát của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ . Nay thần học Ðạo Cao Ðài mở ra không gian một di sản Ðức tin hoằng viễn 700.000 năm lẻ. Và từ mặt nhịp nguyên lý khơi nguồn chảy vào định luật vạn vật muôn loài cùng sống trên căn bản nung đúc Ðức tin. Như Tân Kinh mở ra lộ trình khuyến đức vi diệu, xây dựng cho nhân loại một kiến trúc Pháp Ðạo hoàn toàn mới, theo ý Thiên Cơ tạo ra môi trường sống để nhân sinh khám phá phương tu của Tân Kinh, như một khoa học thực dụng . Thượng Ðế vì háo sanh thương yêu muôn loài hiện thành Thánh Thể công bố tin mừng cứu rỗi và phổ độ. Người ban truyền cho nhân loại Tân Kinh Thiên Ðạo & Thế Ðạo có đặc thù khuyến Ðạo và từ đó làm nền tảng cho những thành tựu vượt ngoài Càn Khôn . 25/12/1925 thời điểm nhân loại chính thức tiếp nhận Ðại Ðạo cũng là ngày ghi dấu lịch sử Ðức tin Cao Ðài trên những bề dày Nhân sinh, Văn hóa và Khoa học đang tiến hóa. Ðức Thượng Ðế trao quyền Thiêng Liêng cho quý Ðấng Chức Sắc Ðại Thiên Phong lập Thế và khai mở chính thể Phổ Ðộ, trên mục đích chân lý Từ bi, Bác ái, Công bình và đem lại cho loài người một đại đồng mặt sống dậy nẩy tình, nhân nghĩa, đồng sinh phúc lạc . Tân Kinh đem lại cho nhân loại một dung hợp ngôn ngữ, nhận mặt nhau cùng tăng tốc đặc mệnh Ðạo phụng sự quyền sống thế nhân, Ðạo Cao Ðài dâng hiến cho nhân loại một chân lý toàn thiện, phù hợp mọi thời gian, bởi chân lý bao quát với trữ lượng mặt sống vô tận, cũng là môi trường tạo cơ duyên cho cá thể lập nghiệp Ðạo . Tân Kinh Thiên Ðạo & Thế Ðạo với sứ mạng chuyên chở Pháp Ðạo vào đời nhằm hóa độ, cứu rỗi, hướng dẫn nhân loại vượt băng sương thắng khổ và nhập mặt phương tu hành Ðạo do Ðức Thượng Ðế trực tiếp truyền thụ . Nay chúng tôi mạo muội dâng hiến phần âm chất nhỏ nầy để cùng hầu hạ quý cơ duyên, qua những thôi thúc của trang kinh chứa đựng thuật ngữ Thần học cần phải dẫn giải, nhưng vẫn giữ nguyên ý Tân Kinh Thiên Ðạo & Thế Ðạo bởi đây là căn bản của gốc Ðạo và chúng tôi hoàn toàn Tôn kính quý Ðấng tiền khai Ðạo đã dâng kiếp sinh để hình thành những thành tố chân lý qui nhứt toàn thiện và bao gồm những trạng thái nội ngoại vật thể có tính năng phương tu khoa học hoàn chỉnh . Ngày có Tân Kinh. Nhân loại như được dịp để ứng thân thành Ðạo và cũng là nhu cầu cho mọi xã hội đang tiến hóa vào môi trường hoằng vĩ. Tân Kinh Thiên Ðạo & Thế Ðạo sẽ đời đời trên vị trí nguyên khối của Chứng Pháp và cũng là thước đo truyền pháp để thôi thúc lòng người vào dây cộng sinh thực hiện phúc lạc . Ðạo thường hằng trên nhịp sống và trải rộng theo từng thời gian phổ độ, chất liệu giải thoát và cứu rỗi vẫn là giáo lý trong sáng, rạch ròi làm nền tảng đức tin vào trường cửu, bởi thế Ðạo Cao Ðài ở trên mục đích đó. Ðạo Cao Ðài là chủ của thắng khổ, đem đến cho nhân loại một tính khí chân linh. Ðạo bồi đắp vạn vật muôn loài đồng thiện và gieo giống khuyến hạnh . Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ do Ðức Chí Tôn huyền linh chính thức dìu dẫn Nhơn sanh nhằm chia tay vô minh, nên NGƯỜI mới lập toàn bộ cấu trúc Thần học để quán chúng tâm thức trong Tân Kinh Thiên Ðạo & Thế Ðạo . Ðây là một bửu kinh cần nhập thế rộng rãi, nên chúng tôi dẫn giải theo nghĩa ý tha lực để làm một nhiệp cầu cơ duyên vào Tự lực, nghĩ rằng Cẩm Nang Kinh sẽ là phương tiện vận dụng thành đạt kiến tánh và xúc tác vào định ý soi rọi hồ nước vô minh phản chiếu thay mầu chọn sắc và phát sinh tĩnh thức Chơn Linh. Hy vọng nhân loại cùng ngôn ngữ chân lý Ðạo Trời để lưu truyền vào thời gian và trải rộng ánh sáng muôn mầu phép lạ, Tín Ðồ Cao Ðài sẽ là nhân chứng sự thực của giác ngộ và công bố kho chứa khuyến đức toàn diện đang bày ra trên mặt đất Ðời . Cẩm Nang Kinh vì mục đích phụng sự Ðạo và lấy tâm lòng hiến dâng khơi trong từng thành ý, nhằm hầu hạ mọi cơ duyên trên những thành tâm nhận thấu sự hiện hữu Ðức Chí Tôn. Sự trình dâng nầy nếu thiếu sót hay sai dị, xin quý cơ duyên chỉ giáo hầu bổ túc cho kỳ tái bản được hoàn bích hơn và chúng đệ cảm động tiếp đón lời giới thiệu châu báu của Ngài Phối Sư Thái Thế Thanh từ Thủ đô quê hướng Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tòa Thánh Tây Ninh gửi đến Paris [ France ] những niềm tin vi diệu . Cẩm Nang Kinh bởi lòng thành hướng về đất Bắc Khuyết cầu nguyện Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu, Chư Thiêng Liêng và quý Ðấng Chức Sắc Ðại Thiên Phong Khai Ðạo, vì tình yêu thương rộng lớn tế độ biển khổ chan rưới hồng ân cho mỗi cơ duyên đạo hạnh đời đời bình an và phúc lạc . |
| " Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát " . Kỹ niệm ngày Thánh Ðản Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc [ Ðức Ngự Mã Thiên Quân ] Nhớ Rừng Hương Tòa Thánh Tây Ninh Ngoại ô Paris 05/05/1997 Huỳnh Tâm |
| Hội Thánh Kính Cáo Từ khi mở Ðạo, Chí Tôn duy giáng cơ truyền cho Phật Giáo Minh Sư, Minh Ðường, Minh Lý dạy dâng kinh cho Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, song Kinh Tận Ðộ vong tinh chưa hề giáng cơ cho nơi nào tất cả . Ðức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt [ Lê Văn Trung ] khi còn tại thế và Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã trót mười năm trường nghĩa là từ ngày mở Ðạo, đã nhiều phen dâng sớ cho Ðại Từ Phụ và các đấng Thiêng Liêng đặng xin kinh Tận Ðộ, nhưng mà Chí Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vẫn chưa định ban ân cho toàn sanh chúng . Mãi đến ngày 23 tháng 7 tới mùng 4 tháng 8 năm Ất Hợi [ 21 au 31 Aout 1955 ], mới giáng cho Tân Kinh. Ấy là một giọt nước Cam Lộ của Ðức Từ Bi rưới chan đặng gội nhuần cho các đẳng linh hồn của toàn cả thế giái . Chúng ta thầm xét thì đủ hiểu rằng: Ðã trải qua mười năm. Chí Tôn mới mở cơ tận độ. Cơ tận độ Nhơn sanh duy kể từ ngày ban Tân Kinh nầy mà thôi . Thương thay cho những kẻ vô phần chịu phận thiệt thòi quy liễu trước ngày Tân Kinh chuyển Pháp. Ấy cũng là quả kiếp của Nhơn sanh do Thiên cơ tiền định. Nếu chúng ta thương tưởng thì duy có một phương độ rỗi là trì tụng Di Lạc Chơn Kinh hầu các đẳng linh hồn đặng siêu thăng Tịnh Ðộ . Ấy vậy, bổn kinh này nguyên của chư Phật, chư Tiên đã giáng cơ truyền thế trong kỳ Trung Nguơn Ất Hợi . Khi tụng phải thành tâm và phải để nơi tinh khiết . Tòa Thánh Tây Ninh 20-10-1937 Tiểu Dẫn Kinh Thiên Ðạo Ðại Ðạo là một hạt giống rất mạnh, quí báu, khó mà chỉ rõ. dầu cho ngàn kinh muôn sách cũng khó bày ra nguyên lý, bởi vậy cho nên Kinh Thánh Tịnh có câu rằng : " Cường danh viết Ðạo ", Nay rất may duyên là nguơn hội tuần huờn . Ðấng Từ Bi giáng linh mở hội Tam Kỳ Phổ Ðộ. Rất nên tỏ rạng trong cõi nhơn hoàn, dìu dắt chúng sanh về nơi cực lạc, việc cần ích là Kinh Tứ Thời Nhựt Tụng mỗi chữ đều lời châu ngọc mà cung kính Ðấng Từ Bi, nên phải để chánh tự chẳng nên sai lầm nghĩa ý, bởi cớ ấy chúng tôi phải giữ bản quyền đặng in cho nguyên bổn, hầu để lưu truyền hậu thế . Tòa Thánh Tây Ninh 15/02/1927 Thượng Ðầu Sư Ngọc Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt Ngọc Lịch Nguyệt Lê Văn Trung Lê Văn Lịch Thiết Lập Thiên Bàn Thờ Phượng Thiết lập Thiên bàn THƯợNG ÐẾ, nơi vị trí tinh khiết nhứt là ở giữa nhà, Thiên Bàn chia thành 3 tầng, treo màn để che khuất và phân biệt nơi thờ phượng, Thiên bàn còn gọi là Tam đẳng, thiết lập Thiên bàn Ðức Chí Tôn theo nguyên lý Thần học Ðạo Cao Ðài . Riêng Tín đồ Cao Ðài ở hải ngoại thì tùy sự thiết lập Thiên bàn to hay nhỏ bởi lòng thành, miễn sao cho phù hợp với hoàn cảnh và cuộc sống hiện tại, nhưng vẫn giữ được thể tính chơn truyền Ðại Ðạo, bởi đó là cánh cửa hướng về Ðấng Chí Tôn và người Tín đồ luôn luôn mang hoài bão thực hiện tinh thần Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ . Ðức Thượng Ðế hướng dẫn thiết trí Thiên Bàn 1 3 2 4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 - Thánh Tượng THIÊN NHÃN [ Ðấng Tạo Hóa ] là hình ảnh của mắt Trái biểu tượng cho mọi hóa sinh hoàn thành vạn vật đến muôn loài đều sống dưới ánh sáng huyền diệu của DƯƠNG . Thiên Nhãn chân dung quyền năng của Ðấng Chủ Tể Càn Khôn, nay Ðấng là Giáo chủ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ . Bí Pháp trong nền Ðạo Cao Ðài khi thiết lập Thiên Bàn Thượng Ðế phải hướng về Phương Bắc, bởi bên Trái là Dương của mặt Nhựt cho mọi sự Mọc, và bên Phải là Âm của mặt Nguyệt và Tinh Tú cho mọi sự Lặn . Ðó là nguyên lý vũ trụ, hóa sinh vạn vật muôn loài bởi phép gốc Dương cộng Âm mà thành, Thánh tượng Thiên Nhãn còn biểu hiện mọi hồng ân cho sự lành và sự sống, như Ðấng Thượng Ðế dạy rằng : " Nhãn thị chủ tâm . Lưỡng quan chủ tể . Quang thị thần . Thần Thị Thiên . Thiên Giả Ngả Giả " . Nghĩa là : Mắt, là chủ của tâm . Hai lằng yến ở trong Mắt, là chủ tể . Yến sáng là Thần . Thần là Trời . Trời là Ta vậy . Thánh Ngôn : " Khi chưa có Trời đất, khí Hư Vô sanh có một Thầy và Ngôi Thầy là Thái Cực, Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng biến ra Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng mà lập Càn Khôn sanh vạn vật " . 2 - Ngôi Thái Cực [ Ngôi của Ðức Chí Tôn ] . Thượng Ðế dạy rằng : " Ngôi Thái Cực là linh hồn của tất cả ". Ngôi Thái Cực được cấu tạo từ thời đại Hồng hoang, còn gọi là Ðèn Trời hay Thái Cực Ðăng chưa bao giờ tắt vì ánh sáng cộng sinh của muôn loài đồng thọ bẩm nơi Ðại Linh Quang [ Thượng Ðế ], đèn Thái Cực là sức mạnh của động năng sinh hóa và dưỡng dục. Ðèn Thái Cực bảo thủ chơn linh, trí tuệ, là ánh sáng của cứu rỗi và phán xét, cũng là Tiểu Linh Quang của vạn vật muôn loài từ đó sinh bất diệt . 3 - Trái Cây. [ Ðặt bên Phải của Thánh Tượng nhìn ra ]. Biểu tượng cho Âm tính thuần khiết của sự kết tụ thành Quả từ Hoa mà có [ Dương cực âm sinh ] . Hoa từ Dương lột xác thành Âm, nhờ thiên nhiên và thời gian cấu tạo, biến hóa hình thù ra Quả đó là Ðạo thành tựu . 4 - Hoa. [ Ðặt bên Trái của Thánh Tượng nhìn ra ] . Hoa biểu tượng biến hóa vì Dương, là tính thuần khiết của vạn vật muôn loài, Hoa từ thảo mọc do môi trường cấu tạo và kết tụ thành Tinh chất, Tinh thể của Hoa là Dương luôn luôn mở cửa tiếp nhận sự gieo giống của Âm và tạo ra chuỗi dài thay đổi hình thù cho đến khi lột xác thành quả. Hoa thể hiện mọi thanh cao, tạo niềm tin cho mọi sắc và Hoa mang thể Tinh chờ ngày ngộ Ðạo . 5 - Ly Nước Trà. [ Ðặt bên Phải ] gọi là Thần của Âm, biểu tượng dòng nước sinh đời đời, Trà nuôi dưỡng nguồn sinh của Thần chảy trong sự sống và cấu tạo thể chất bền vững [ 1 ] . [ 1 ] Sau khi thắp ngũ hương mới rót nước Trà . 6 - 7 và 8. Ba Ly Rượu. [ Ðặt trung tâm Thiên Bàn ] gọi là Khí mang đặc tính Hư Vô, biểu tượng cho mọi sự ngưng tụ của vạn vật muôn loài. Khí chuyển động từ ngộ của Hoa vào Ðạo của Quả để kết thành trung tâm của Tam Giáo gọi là Ðại Ðạo . 9 - Ly Nước Trắng. [ Ðặt bên Trái ] gọi là Tinh của Dương, biểu tượng dòng bạch thủy thuần khiết chảy miên trường. Bạch thủy bên Trái và Trà bên phải là phép nguyên lý Ðạo hài hòa trên mọi sinh hóa, nước Âm Dương là thủy triều nội ngoại thể của Ðại Linh Quang và Tiểu Linh Quang . Dòng bạch thủy của Tinh vì Dương khởi nguồn từ mọi biến hóa của vũ trụ, vạn vật muôn loài đồng sống dưới cứu rỗi hay hủy diệt bởi phán xét [ 2 ] . [ 2 ] Nước trắng còn gọi là Bạch thủy . Hoa, Quả, Rượu, Trà và Bạch Thủy biểu tượng cho Tinh, Khí, Thần là nguyên pháp của Tam Bửu, mà quý Ðấng Phật, Tiên, Thánh, Thần hằng tu luyện đắc Pháp. Ngày nay Ðức Cao Ðài ban truyền Tam Bửu diệu dụng, làm phương tiện cho nhơn loại tiếp nhận tha lực để tiến hóa và đắc thành toàn diện. Tinh, Khí, Thần là nội ngoại sinh hóa, thành tố của tự lực đắc Pháp . Tập tục dâng lễ bốn thời : - Thời Tý và Thời Ngọ dâng Rượu gọi là Khí hưng của Trời, bởi thế Tín hữu dâng lễ tưởng nhớ Ðức Chí Tôn . - Thời Mẹo và Thời Dậu dâng nước Âm Dương gọi là Tinh và Thần của Ðất, bởi thế Tín hữu dâng lễ tưởng nhớ Ðức Phật Mẫu . Thánh ngôn : " Xác thân thiêng liêng vốn ở trong xác phàm mà ra, có thể trông thấy đặng, mã cũng có khi không, do Tinh Khí Thần luyện thành, nhẹ nhàng hơn không khí. Khi ở trong xác phàm ra, nó lấy hình ảnh xác phàm như khuôn in rập, Kẻ luyện Ðạo, nếu có Tinh Khí mà chẳng có Thần, hoặc có Thần mà chẳng có Tinh Khí, ba món báu nếu thiếu một, thì Nhị xác thân chẳng huờn thành, bởi vậy nên tam bửu phải hiệp nhứt, thì Ðạo mới kết quả " . 10 và 12. Hai cây Nến . [ Ðèn sáp hay cầy ]. Biểu tượng Thái Cực phân Âm và Dương, đèn Trái là Thái Dương thắp trước, đèn Phải là Thái Âm thắp sau, còn gọi là Lưỡng nghi [ đôi mắt ] . Pháp Ðạo biến hóa từ vũ trụ sinh lưỡng nghi là mặt Trời và mặt Trăng [ Nhựt Nguyệt ]. Loài người cũng có lưỡng Nghi là cặp mắt của sự sáng . 11 - Lư Hương. Biểu tượng hằng sống của vũ trụ, trong lư hương còn đặt một đỉnh trầm nhỏ biểu tượng tánh mạng nhập thế và xuất thế . Thời khắc bình thường thắp 3 cây hương biểu tượng Tam Giáo qui nguyên. Tứ thời, Tiểu lễ và Ðại lễ thắp 5 cây hương biểu tượng Tam Giáo qui nguyên Ngũ Chi hiệp nhứt, cũng là 5 cấp thăng hoa của vạn vật muôn loài . 3 1 2 5 4 1 - Giới Hương : Thanh lọc, trang nghiêm . 2 - Ðịnh Hương : Ðịnh tâm, hướng thượng . 3 - Huệ Hương : Bát nhã, tu, tư và văn . 4 - Trí Kiến Hương : Trí lực, chân lý . 5 - Giải Thoát Hương : Ra ngoài vòng sanh tử . 5 Cây hương trên được phân thành hai hàng như sau : - Hàng thứ nhứt thắp 3 cây hương theo sơ đồ trên [ 3, 1, 2 ] gọi là Tam Giáo hay Án Tam Tài [ Thiên, Ðịa, Nhơn ] . - Hàng thứ nhì thắp 2 cây hương [ 5, 4 ]. gọi là Tượng Ngũ Khí hay Ngũ Chi, biểu hiện cho Giới hương, Ðịnh hương, Huệ hương, Trí hương, Giải thoát hương . 5 cây hương còn gọi là [ Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhứt thành Ðại Ðạo ] . Ba thời kỳ Ðại Ðạo đều theo Pháp Tam Giáo gui nguyên Ngũ Chi hiệp nhứt : Nhứt Kỳ Phổ Ðộ [ Chân lý Từ Bi ] - Phật giáo có Nhiên Ðăng Cổ Phật . - Ðạo giáo có Thái Thượng . - Khổng giáo có Ðạo Quân . - Thiên Chúa giáo có Phục Huy . - Hồi giáo có Moise Nhị Kỳ Phổ Ðộ [ Chân lý Bác Ái ] - Phật giáo có Thích Ca Mưu Ni . - Ðạo giáo có Lão Tử . - Khổng giáo có Khổng Tử . - Thiên Chúa giáo có Jesus . - Hồi giáo có Mohammed . Tam Kỳ Phổ Ðộ [ Chân lý Từ Bi, Bác Ái, Công Bình ] . 24/12/1925 Ðức Thượng Ðế công bố hồng danh Cao Ðài, khai mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Công đồng qui nguyên Tam Giáo hiệp nhứt Ngũ Chi thành Ðại Ðạo, Ðấng làm Giáo Chủ cầm Hồn Ðạo cùng cả Giáo Pháp và có Tam Trấn thay quyền cho Tam Giáo . Qui Nguyên Tam Giáo : 1 - Thích Giáo, Ðức Thích Ca Mưu Ni . 2 - Ðạo Giáo, Ðức Thái Thượng Lão Quân . 3 - Nho Giáo, Ðức Khổng Phu Tử . Hiệp Nhứt Ngũ Chi Ðạo : 1 - Phật Ðạo. Ðức Thích Ca Mưu Ni . 2 - Tiên Ðạo. Ðức Lý Thái Bạch . 3 - Thánh Ðạo. Ðức Jesus . 4 - Thần Ðạo. Ðức Khổng Tử . 5 - Nhơn Ðạo. Ngôi Giáo Tông . Tam Trấn thay quyền Tam Giáo : 1 - Tiên Giáo. Nhứt Trấn Ðức Lý Thái Bạch . 2 - Phật Giáo. Nhị Trấn Ðức Quan Âm Bồ Tát . 3 - Thánh Giáo. Tam Trấn Ðức Quan Thánh Ðế Quân . Ðức Chí Tôn hài lòng. Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Tòa Thánh tại tỉnh Tây Ninh, Thánh Vức 40 Km, miền Nam, Việt Nam, Phương Ðông Á . [ Chiếu Sắc Luật ngày 12/07/65, nhìn nhận Pháp Nhân số 003/65 của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Tòa Thánh Tây Ninh, theo Hiến Chương ngày 21/01/1965 đã ấn định Thánh Ðịa 40 Km ] . Thiên Bàn Hộ Pháp 1 2 3 4 5 6 7 8 10 9 11 1 - Thánh Tượng phép chữ [ KHÍ ] biểu tượng Khí Hư Vô . Ðức Thượng Ðế chọn phép KHÍ làm linh hồn Ðạo, thay phần hồn của NGƯỜI tại Thế để gìn giữ chánh giáo Ðạo Trời và dìu dẫn con cái của NGƯỜI đồng cộng hưởng Thiên ân công bình . Nguyên gốc của Khí Hư Vô, hồng danh của Ðức Bát Phật, Ngự Mã Thiên Quân, giáng thế xác phàm là Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc . Ðức Thượng Ðế phán trước 12 Tông đồ và công bố lập Ðạo Trời tại thế rằng : " Tắc, THẦY lấy tánh đức con mà lập Ðạo được chăng ? " . Ðức Chí Tôn [ Thượng Ðế ] yêu cầu 11 vị Tông đồ cùng có tên trong bài Thơ dưới đây, đồng hành lễ trước phù chữ Khí và Ðức Ngự Mã Thiên Quân [ Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ] : Chiêu, Kỳ, Trung độ dẫn Hoài sanh , Bản đạo khai Sang, Qúi, Giảng thành . Hậu, ÐỨức, Tắc, Cư thiên địa cảnh . 12 vị Tông đồ trên đồng Cầu Ðạo đặt lòng thành vào lời Hồng Thệ trước Ðức Chí Tôn và Chư Thiêng Liêng chứng giám : Thề rằng : " Từ đây biết một Ðạo Cao Ðài Ngọc Ðế, chẳng đổi dạ thay lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Ðài, như sau có lòng hai, thì Thiên tru Ðịa lục " . Lời Hồng Thệ vi diệu nầy trở thành phép gốc của Ðạo, cũng là nguyên tắc nhập môn cầu Ðạo và thôi thúc Tín Ðồ lập cộng bồi Ðức . Ðức Chí Tôn còn nhấn mạnh phù chữ KHÍ là uy dũng phần hồn của Ðạo tại thế, phù chữ Khí trấn giữ phía sau lưng của Nhơn sanh hầu bảo vệ phần hồn và phần xác . Trước kia Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ không trấn gữi phần hồn phía sau, bởi thế nhơn sanh tu nhiều thành Ðạo ít, ngày nay tại Ðền thánh hay Thánh Thất, Tín đồ đều thấy rõ trước mặt có Thầy ngự và sau cũng có Thầy trấn giữ an ninh, tạo thành cõi thanh thoát trang nghiêm và vững niềm tin trong khi hành lễ . 11 Tông đồ trên đã tuân mệnh và tuyên hứa hết lòng trợ lực Ðức Hộ Pháp lập Ðạo trên Ngôi vị Hiệp Thiên Ðài và Ðức Chí Tôn dạy bảo rằng : " Hiệp Thiên là nơi Thầy ngự, cầm quyền Thiêng Liêng mối Ðạo, Ðạo còn thì Hiệp Thiên Ðài còn. Thầy đã nói: Ngũ chi Ðại Ðạo bị qui phàm, là vì khi trước Thầy giao Thánh giáo vào tay phàm, lâu ngày sai lạc ra phàm giáo. Nay Thầy nhứt định đến độ rỗi các con thôi " . " Lại nữa Hiệp Thiên Ðài là nơi Giáo Tông đến tiếp xúc với Tam thập lục Thiên, Tam thiên thế giới, Lục thập bát địa cầu, Thập điện Diêm cung, đặng cầu siêu cho cả nhơn loại " . Ngày 18/10/1926 Ðức Thượng Ðế chính thức công bố hồng danh Cao Ðài và lập Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Ðại Ðạo chân lý bao quát là Từ Bi, Bác Ái và Công Bình nhằm thực hiện Ðức tin toàn năng phụng sự tha nhân, cho nên mới có câu : " Cao thượng Chí Tôn Ðại Ðạo hòa bình Dân chủ mục ", " Ðài tiền sùng bái Tam Kỳ cộng hưởng Tự do quyền " . Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc dẫn giải Hồng Danh Ðức Cao Ðài rằng : " - Hồng danh Cao Ðài theo nghĩa phương Ðông: Ðền thờ cao, Ðức tin lớn " . " - Hồng danh Cao Ðài theo nghĩa phương Tây là: Ngai vàng tối thượng " . CAO ÐÀI nghĩa rộng : CAO vô đối ra ngoài Càn Khôn, sức mạnh háo sinh từ Hư vô, Trời Ðất cao dày vi diệu hồng danh Tam Giáo vô cùng, tiếng nói đồng sống thanh cao của vạn vật muôn loài vì mục đích chân lý toàn thiện, Thượng Ðế thương yêu và chăn nuôi 92 ức nguyên nhân xem như đồng đẳng cao đệ tử, cao đường nhân nghĩa hạnh đức mọi sự đồng sanh, ban bố loài người mở rộng cao kiến, cao minh để giải thoát, đất cao Tổ [ Thượng Ðế ] an lành sinh thiện cư xử công bình bởi tấm lòng quí . ÐÀI vũ trụ đỡ đầu cuống sống cho mọi hóa sinh, nền đắp cao trông xa mở rộng, lời hứa và bảo đảm sẽ thành, chở che cứu rỗi, gánh mọi sự khổ cho đời, truyền loan chánh truyền, gương soi rọi sạch trong trắng ngoài, CAO ÐÀI nền tảng dung hòa mọi đức tin vì duy MộT . 2 - Trái Cây : Biểu tượng sự tinh khiết của Âm, đặt bên Phải phép chữ KHÍ . 3 - Hoa : Biểu tượng sự tinh khiết vì Dương, đặt bên Trái phép chữ KHÍ . 4 - Nước Trà : Biểu tượng tinh khiết vì Thần, đặt bên Phải gọi là Âm . 5 - 6 và 7. Ba ly Rượu : Biểu tượng Khí sinh hóa linh hồn vạn vật và muôn loài, đặt trung tâm Thiên Bàn gọi là Khí . 8 - Nước Trắng : Biểu tượng tinh khiết vì Tinh, đặt bên trái gọi là Dương . 9 - Lư Hương : Biểu tượng tính nhập thế, xuất thế và phổ độ cứu rỗi, đặt trung tâm Thiên Bàn . 1 2 3 Khi hành lễ thắp 3 cây hương theo thứ tự, 1 biểu tượng Tý bởi Trời, 2 Sửu bởi Ðất và 3 Dần bởi Khí sinh vạn vật muôn loài, cũng là năm khai mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ [ 18/10/1926 ] . 10 và 11 . Hai cây Ðèn : Biểu tượng Thái Cực phân thành Âm Dương, đèn Trái gọi là Thái Dương bởi thế được thắp trước, đèn Phải gọi là Thái Âm thắp sau . Thiên Bàn Hộ Pháp duy thờ nơi Thánh Thất, tại tư gia chỉ treo Thánh Tượng chữ Khí Ðức Hộ Pháp nơi cao và tinh khiết . Phương Cách Lạy Chắp hai tay lạy như cách dưới đây : Tay trái bắt Ấn Tý rồi nắm lại. Kế đó bàn tay mặt áp ngoài, rồi ngón cái [ Tay mặt ] xỏ vào giữa ngón cái và ngón trỏ bên tay trái . Ðể hai tay như vậy mà đưa lên trán, xá sâu ba xá, rồi quì xuống . Ðưa hai tay Ấn Tý lên trán niệm : " Nam mô Phật " biểu tượng Ðấng Cao Cả là Trời . Thánh ngôn : " THẦY là PHậT chủ cả PHÁP và TĂNG, lập thành Ðại Ðạo thu hồi các con hiệp một cùng Thầy " . Ðưa qua bên trái niệm : " Nam mô Pháp " biểu tượng Ðấng Thiêng Liêng là Ðất . Thánh ngôn : " THẦY khai Bát Quái mà tác thành Càn khôn Thế giái nên gọi là PHÁP " . Ðưa qua bên mặt niệm : " Nam mô Tăng " biểu tượng ba ngàn thế giái và mọi chơn linh là muôn loài vạn vật . Thánh ngôn : " Có Pháp mới sanh ra Càn khôn Thế giái vạn vật rồi mới có loài người nên gọi là TĂNG " . Ðức Ngự Mã Thiên Quân truyền Bí Pháp dạy rằng : " Nắm quyền trị thế là Hạo nhiên Pháp thiên chính quyền năng Chí Tôn định, địa cầu nầy không định khác, chỉ có một mặt Trời nầy không có mặt Trời khác, trong hai mươi bốn giờ có một ngày, Ðấng làm chủ cầm quyền trong Pháp giới là Hư vô Cao thiên vâng mạng lịnh Hạo nhiên Pháp thiên làm cho vũ trụ khỏi tương tàn với nhau. Ðịa cầu nầy nếu không mặt luật đạo đức thì sanh ra bậy bạ con người không chắc sống " . " Trước khi nguyện lấy dấu và niệm Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng, dám chắc thật đích xác ba ngôi ấy chưa ai biết rõ . Ngày nay Bần Ðạo giảng: Phật là gì ?, Phật là một Ðấng toàn tri toàn năng, người ta lầm lạc tưởng không thấy hình dạng là không có người, thế gian lầm lạc nhiều lắm. Họ quả nhiên là người sống hiện tại chỉ khác hơn chúng ta là không có thi hài mà thôi. Ðấng toàn tri toàn năng ấy là Ðấng đầu tiên hiệp lại với Chí Tôn . Bần Ðạo đã giải nơi Phật có ba cảnh đặc biệt : 1 ] - Hạo Nhiên Pháp Thiên. Tương liên hiệp một cùng Phật [ Ðức Chí Tôn ] . 2 ] - Hư Vô Cao Thiên. Thuộc về Pháp giới cầm cả luật thiên điều . 3 ] - Hỗn Nguơn Thượng Thiên. Thuộc tạo hóa, thuộc Tăng . Phật vị có ba đẳng cấp ấy đặng nắm cả quyền năng càn khôn thế giái . Phi Tưởng Diệu Thiên. Nắm quyền hành tạo đoan loài người thuộc Phật, đồng thể với Phật . Tạo Hóa Huyền Thiên. Thuộc Pháp và có ba quyền tạo đoan thế giái hữu hình nầy vô cùng tận. Tạo hóa cầm sinh khí để tạo sanh vạn vật . Phi Tưởng Diệu Thiên. Tạo hóa Huyền thiên. Bấy giờ Phi tưởng Diệu thiên lãnh phận sự với Ðức Chí Tôn cầm nguơn khí của con người giữ sanh mạng vạn vật kêu là vạn linh . Tới Tạo Hóa Huyền Thiên. Phật Mẫu cầm Pháp chuyển cơ sanh hóa không cùng tận, cả loài người, cây cỏ, sắt đá cũng tấn lên phẩm người nữa, là nhờ tay Ðức Phật Mẫu nắm Pháp biến xuất. Cả thi hài chơn linh trí não pháp thân luân chuyển sanh sanh, tử tử. Nợ sanh tử ấy là bài học của Tạo Hóa trong các cơ thể ấy, loài người học làm đặng biết đặng chi ?. Ðặng tạo Pháp thân huyền diệu được hoàn thiện, toàn mỹ, toàn tri, toàn năng như Phật Mẫu đã làm, ta làm đặng học hỏi tạo Pháp thân do quyền lực thuộc Pháp, hình hài xác thịt thuộc Tăng, thây chúng ta thay đổi lăn lóc trên đường sanh sanh, tử tử cũng như Phật ở tối cao tối trọng, gần Chí Tôn là Hạo Nhiên Pháp Thiên. Các Ðấng ấy hữu sanh hữu tử, tri khổ nghiệp chướng vạn linh năng du ta bà thế giái độ tận vạn linh đắc qui Phật vị . Các Ðấng ấy đã chịu như chúng ta ngày nay đặng đi đến toàn thiện, đặng toàn tri, toàn năng, họ đi trước mình đi sau, họ cao mình thấp thoải, con đường họ đi mình cũng sẽ tới. Một điều ta nên để ý hơn hết là chúng ta phải hiểu rằng : Mặt thế nầy chưa biết ai cao ai thấp. Nơi Hạo Nhiên Pháp Thiên một vị Phật cao trọng toàn tri toàn năng gần như Ðức Chí Tôn nữa mà xuống tại thế nầy đặng học bài học khổ, dám làm kẻ ngu dốt lắm . Chúng ta thấy hình thể một vị Phật Mahâgarouth là một vị Chí Phật như Ðức Gakya Mouni đến thế gian bưng bình bát du để xin cơm đặng nuôi kẻ khổ. Một người ăn mày ở thế gian như vậy mà nơi cửa Hư không lại là quyền năng vô tận vô đối, đến Ðức Chúa Jésus Christ là một vị Chrisna Vichnou đệ nhị kiếp Chí Tôn giáng linh xuống làm một vị bần hèn khổ não để đi xin từ chén cơm, từ miếng bánh mì đặng nuôi kẻ đói khó, Ðó là bài học trước mắt phàm chúng ta đã thấy . Ðấng Tạo đoan đưa tay xin cho loài người ăn đó là người cầm quyền năng nuôi khắp toàn vạn vật càn khôn võ trụ. Thế gian chưa hề thấy và chưa hề biết " . Ðể tay ấn Tý ngay trước ngực tạ ơn và niệm 5 câu chú như sau : 1 Niệm : " Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát ". Cúi đầu biểu hiện vinh danh Ðức Thượng Ðế, Giáo chủ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ . 2 Niệm : " Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát ". Cúi đầu biểu hiện vinh danh Ðấng Nhị Trấn Oai Nghiêm Ðại Ðạo . 3 Niệm : " Nam mô Lý Ðại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Ð.Ð.T.K.P.Ð ". Cúi đầu biểu hiện vinh danh Ðấng Nhứt Trấn Oai Nghiêm Ðại Ðạo . 4 Niệm : " Nam mô Hiệp Thiên Ðại Ðế Quan Thánh Ðế Quân ". Cúi đầu biểu hiện vinh danh Ðấng Tam Trấn Oai Nghiêm Ðại Ðạo . 5 Niệm : " Nam mô Chư Phật, Tiên, Thánh, Thần ". Cúi đầu biểu hiện vinh danh quý Ðấng Thiêng Liêng Ð.Ð.T.K.P.Ð . - Mỗi lúc lạy Trời, thì 3 lạy, mỗi lạy gật đầu 4 lần, như vậy tổng cộng là 12 gật . Nhớ mỗi lạy phải niệm : " Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát " . - Còn lạy Phật, Tiên, Thánh, Thần thì 3 lạy, mỗi lạy gật đầu 3 lần, như vậy tổng cộng là 9 gật và nhớ niệm danh của mỗi vị . Thánh Ngôn : " Lạy là gì ?. " Lạy là tỏ ra ngoài lễ kỉnh trong lòng, chấp tay lạy tại sao ?, Tả là nhựt, hữu là nguyệt, vị chi Âm Dương, Âm Dương hiệp nhứt phát khởi Càn Khôn, sanh sanh hóa ấy là Ðạo . Lạy kẻ sống hai lạy là tại sao ?. Là nguồn gốc của nhơn sanh lưỡng hiệp mà ra . Vong phàm bốn lạy là tại sao ?. Hai lạy phần người, một lạy Trời một lạy Ðất . Lạy Thần Thánh ba lạy là tại Sao ?. Là lạy đấng vào hàng thứ ba của Trời và cũng chỉ về Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt, ấy là Ðạo . Lạy Tiên Phật. Ba lạy, Chín gật là tại sao ?. Là chín Ðấng Cửu Thiên Khai Hóa . Còn lạy Thầy. Ba lạy, mười hai gật là tại sao ?. Các con không hiểu đâu ! Thập Nhị Khai Thiên là Thầy, Chúa Tề Càn Khôn Thế Giái, nắm trọn Thập Nhị Thời Thần vào tay. Số mười hai là số riêng của Thầy. Tại sao phải dùng Hoa, Rượu, Trà làm lễ tế phẩm ? . Hoa tượng trưng Tinh Rượu tượng trưng Khí Trà tượng trưng Thần " Ý Nghĩa Ấn Tý Ấn Tý nghĩa là bấm đầu ngón tay cái vào gốc ngón áp út biểu hiện sự thành quả chân lý Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ . Ấn Tý biểu hiện vi diệu siêu nhiên, trải rộng phổ độ, cứu rỗi và truyền gieo tin mừng đến với nhân loại, đón tiếp này sẽ mang lại phúc lạc cho nhân loại và thấu suốt những luân lý mầu nhiệm phát nguyên từ Ðức Cao Ðài . Lý Pháp và Giới Ðạo khởi điểm từ ngón tay áp út, bởi ba đốt xương chia thành ba cung tạo lập sự hiện hữu vi diệu, cung Tý chỉ về Hồng hoang của Trời, cung Sửu chỉ về lập Ðất cõi trần tục, cung Dần chỉ về hóa sinh nhân loại và muôn loài, cũng là năm Thượng Ðế chính thức công bố khai mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ gọi tắc là Ðạo Cao Ðài, tại Gò Kén tỉnh Tây Ninh [ 18/10/1926 ] . Ấn Tý biểu tượng Trời, Ðất và Người thành khối sống qui nhứt, là một thành tố của hợp thể, được cấu trúc trên mọi vận hành của vũ trụ. Bởi thế người Tín đồ Ðạo Cao Ðài khi lạy trải rộng đôi bàn tay ra theo hình thể gieo giống vào đất và 8 ngón tay còn lại như rồng chuyển lượng nước vào đồng nội, với nắng ấm sương mai tưới hạt giống hóa sinh nẩy mầm, kết nụ thành quả và thể hiện thành một liên đài bát giác lưu trữ chuyển sinh gieo giống đời đời và giống vốn từ nguồn cội háo sinh của Thượng Ðế . Khi lạy, hai ngón tay cái Âm Dương luôn luôn ở vị trí gác tréo vào nhau thành dấu nhân [ x ] biểu hiện cho sứ mạng gieo giống và ước vọng mọi hóa sinh thành tựu bền vững . Tám ngón tay còn biểu tượng bát hồn hiện hữu trong mọi đời sống và gần gủi muôn loài, khi nhắc tay lên để tiếp tục lạy đôi bàn tay tự hóa thành hình cây lọng dù che mưa chở nắng cho mần non và cầu nguyện cho mọi nâng niu trên môi trường hợp sinh vì tất cả, cuối cùng đôi bàn tay bao bọc vào nhau như thành quả của Ðại Ðạo và từ ấy lưu truyền miên trường . Ấn Tý đưa lên đỉnh trán biểu tượng trên cao có Trời, xá Ấn Tý xuống biểu tượng dưới chân loài người có Ðất và đưa Ấn Tý lên trước ngực [ Chơn Thủy ] biểu tượng giữa Trời Ðất có vạn vật chúng sanh đồng sống . Lạy Ðức Chí Tôn : Mỗi lạy 4 gật x 3 lạy = 12 gật . Biểu tượng Ðấng Toàn Năng Giáo Chủ Ðại Ðạo . Lạy Phật, Tiên, Thành, Thần : Mỗi lạy 3 gật x 3 lạy = 9 gật . Biểu tượng Cửu Thiên Khai Hóa và Ngũ chi Ðại Ðạo . Lạy vong 4 lạy : 2 lạy nhớ ơn Ðấng Trời hóa sinh vạn vật muôn loài và Ðấng Ðất cấy sinh mọi sự sống. 2 lạy nhớ ơn Ðấng dưỡng dục sinh thành và cảm ơn mọi liên hệ đồng sinh hiện hữu . Hành lễ. Biểu hiện phép gốc Âm Dương, cũng là phương luyện định tịnh của Ðạo Cao Ðài . Mọi di động hành lễ trong Ðền Thánh hay Thánh Thất : Ðều lấy diệu dụng Dương làm căn bản cho khởi chuyển. Chân Trái vì Dương qùi gối trước và sau khi hành lễ viên mãn chân Phải đứng lên trước . - Khi vào Ðền Thánh hành lễ chân Trái bước trước và lúc bãi đàn chân Phải bước ra trước, bởi đây là phép vi diệu của Âm Dương . - Hành Lễ. Là lấy lòng thành đặt vào diệu pháp để xiển dương sứ mạng Ðại Ðạo, biểu lộ tính thanh cao của Ðạo, bày rộng Ðạo cứu rỗi và phổ độ, thể hiện Ðạo siêu việt vô tận, Ðạo thành tựu do hành lễ của Tín đồ . - Cầu Kinh. Phát nguyện Ðức tin, giác ngộ chân lý và tự hướng cứu rỗi, phổ độ . - Truyền Giảng. Công bố tin mừng Ðại Ðạo đến khắp mọi nơi bằng hành động. Từ bi, Bác ái, Công bình, nhân nghĩa, lập Ðức, lập Công, lập Ngôn và cộng sinh . Thiên Ðạo Tiểu Ðàn Nghi Tiết Nơi Thánh Thất, nhằm kỳ vía lớn hay Sóc Vọng [ 01 và 15 Âm lịch ] mới cúng Ðại đàn, còn kỳ dư thì thiết Tiểu đàn, dầu cho có làm tuần tự chi cũng vậy . Ðại đàn, đổ 3 hiệp Lôi Âm Cổ, mỗi hiệp 12 hồi, mỗi hồi 12 vùi và đổ Ngọc Hoàng Sấm có nhạc lễ . Tiểu đàn, không đổ Ngọc Hoàng Sấm và Lôi Âm Cổ, duy kệ chuông mà thôi, trước khi chuẩn bị hành lễ đổ chuông Nhứt 3 tiếng và kệ như sau : 1 - " Văn chung khẩu hướng huệ trưởng Càn Khôn " . Ðổ một tiếng chuông . 2 - " Pháp giái chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn " . Ðổ một tiếng chuông . 3 - " Án dà ra đế dạ ta bà ha ". Ðổ một tiếng chuông . Khi dứt 3 câu kệ lần thứ Nhứt, Tín đồ chú ý chuẩn bị nhập đàn hành lễ . Tín đồ nhập đàn đổ chuông Nhì 3 tiếng và kệ như sau : 1 - " Nhứt vi u ám tất dai văn ". Ðổ một tiếng chuông . 2 - " Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giáo ". Ðổ một tiếng chuông . 3 - " Án dà ra đế dạ ta bà ha ". Ðổ một tiếng chuông . Khi dứt ba câu kệ lần thứ Nhì, thì Tín đồ đồng xá và chân bước vào Bửu Ðiện, theo quy luật Âm Dương như sau : Chân Trái là phép của Dương. Lúc vào Bửu Ðiện để gùy xuống lạy, nhớ di động chân Trái trước và chân Phải tiếp theo . Chân Phải là phép của Âm : đến khi hành lễ chấm dứt thì đứng dậy bởi chân Phải trước và khi di chuyển ra khỏi Bửu Ðiện cũng nơi chân Phải . Sau khi hành lễ viên mãn kệ 3 câu : 1 - " Ðàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên vĩnh mộc từ ân phong điền võ thuận ". Ðổ một tiếng chuông . 2 - " Thiên phong mãi chúng quốc thới dân an hồi hướng đàn đường tận thâu pháp giái ". Ðổ một tiếng chuông . 3 - " Án dà ra đế dạ ta bà ha ". Ðổ một tiếng chuông . Khi dứt ba câu kệ trên, tất cả Tín đồ chuẩn bị xá trước Thiên Bàn Ðức Chí Tôn hay Thiên Bàn Ðức Phật Mẫu 3 xá, cùng lúc chuyển mình về hướng trái sau lưng để xá 1 xá Thiên bàn Hộ Pháp rồi toàn Ðạo bái ban bãi đàn . Khi bái ban toàn Ðạo, Nam vị trí Tả, Nữ vị trí Hữu, để nghe truyền giảng giáo lý tại Chánh Ðiện, bởi truyền giảng ở đây là lời giáo lý chính ngôn, vì tại Bửu Ðiện có quý Ðấng Thiêng Liêng chứng minh và phán xét . Toàn Ðạo đặt mọi nguyện vọng và thực hiện đức hạnh đều được quý Ðấng chứng kiến, bởi thế không lời nói nào và hành động nào đi ngược dưới ánh sáng Từ Bi, Bác Ái, Công Bình của Thiêng Liêng và Tín Ðồ đặt trên niền tin vì Ðạo . Trước khi nhập đàn Tín đồ đồng xá bái hạ, mừng vui tình Huynh, Ðệ, Tỷ, Muội hiện hữu đời nầy, chung đồng về đây cầu nguyện vinh danh Ðức Chí Tôn cứu rỗi vạn vật và muôn loài . Sau khi bãi đàn Tín đồ đồng xá bái biệt, cảm tạ sự thành tựu và nhận lãnh mọi hài lòng nơi Ðức Chi Tôn ân tứ . Nơi nhà Ðạo hữu, trước khi chuẩn bị hành lễ Tứ thời thì đổ ba tiếng chuông, lúc hành lễ viên mãn cũng đổ ba tiếng chuông là đủ, không kệ như tại Tòa Thánh hay Thánh Thất . [ Ðể hiểu thêm xin đọc chương Ðại Ðàn Nghi Tiết ] Trai Giới Nhập môn rồi phải tập trai giới, ban đầu phải giữ lục trai, lần đến thập trai, nếu như trường trai càng tốt . Lục trai : Ăn chay ngày mồng 1,8,14,15,23 và 30. [ tháng thiếu ăn thêm ngày 29 ] . Thập trai : Ăn chay ngày mồng 1,8,14,15,18,23,24,28,29 và 30 [ tháng thiếu ăn thêm ngày 27 ] . Vị nào giữ được thập trai đỗ lên thì sau khi qui liễu, được Hội Thánh đến làm phép xác, y như lời Ðức Chí Tôn đã tiên tri : " Ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sấp lên, được thọ truyền bửu pháp " . Trai giới [ ăn chay ] dùng hoắc lê và ngũ cốc, mục đích tạo ra môi trường tinh anh cho nhục thể, để kết hợp phương tu luyện tánh, cho Chơn thần nhẹ nhàng thấm nhuần cảnh trí thiên nhiên và trí tuệ sáng suốt tiếp nhận mọi thâm viễn trên đường học Ðạo . Tác dụng ăn chay là để cho cơ thể tinh khiết, tiếp nhận mọi nguyên tố cần thiết nuôi dưỡng và tăng trưởng bình thường, cơ thể bài tiết thông suốt và nhẹ nhàng, không sinh ra bệnh hoạn nhiều như cơ thể ăn mặn từng tồn trữ sinh khí động vật . Ảnh hưởng ăn mặn sẽ tồn trữ sinh khí động vật trong cơ thể và không bảo đảm vệ sinh hoàn toàn, từ ấy sự nuôi dưỡng và tăng trưởng của tế bào bằng những chất tố có nhiều khí trược, như vậy điển quang của con người trở nên bực bội và khó chịu . Về ý niệm ăn chay và mặn cùng đồng sự sống, nhưng khác tính thể bởi một tĩnh và một động không dung hòa, đến khi gặp phải ngày chung cuộc rất khó cho sự xuất Chơn Thần vì lẽ ấy mà người tu luyện tánh chọn ăn chay làm căn bản và họ chia ra làm hai thực đơn : 1 - Vật chất thực là hoắc lê, ngũ cốc tạo cho vị can tiêu hóa nhẹ nhàng, khi ăn vị giác những món ấy được cảm nhận tinh khiết . 2 - Huyền vi thực là thanh khí của không gian Trời đất, dùng thanh khí tạo cho đường hô hấp trong sạch . Nuôi nhục thể bằng hai thực đơn Vật Chất Thực và Huyền Vi Thực đồng nhau liều lượng, nhưng đến lúc nào đó người tu luyện tánh chỉ còn dùng Huyền Vi Thực mà có thể sống được, đó là mục đích cứu cánh của người tu hành . Hành Lễ Thế Ðạo Nghi tiết cầu hồn khi hấp hối và sau khi quy liễu Dầu nhằm giờ hành lễ [ Tứ Thời ] hay không cũng phải thiết lễ THẦY trước. sau khi mãn lễ Ðạo hữu tịnh tâm khấn vái Thầy đặng tụng Kinh Cầu Hồn cho Ðạo hữu trong khi hấp hối hay đã vừa quy liễu . Vị chứng đàn đến đứng trước đầu bịnh nhơn, nếu có Ðồng nhi thì sắp thành hàng hai Nam tả, Nữ hữu, từ trên sắp xuống . Vị chứng Ðàn đứng giữa tịnh thần nghiêm trang và kêu người bịnh hấp hối, dầu dứt hơi rồi cũng vậy, mà nói rằng : " Tôi vâng lịnh Ðức Chí Tôn đến tụng kinh cho linh hồn Ðạo hữu nhẹ nhàng siêu thăng tịnh độ, vậy Ðạo hữu phải tịnh Thần mà nghe và phải cầu nguyện nơi Ðức Chí Tôn ban ơn lành cho " . Kế tụng Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối [ 3 lần ], khi dứt phải cúi đầu và niệm câu chú của Thầy [ 3 lần ] . Còn như bịnh nhơn vừa dứt hơi thì tụng Kinh Ðã Chết Rồi [ 3 lần ] . Tẩn Liệm Cách thể nghi tiết làm cũng như cầu hồn vậy, nghĩa là phải cúng THẦY trước, rồi đến chỗ người chết nằm, tụng kinh tẩn liệm [ 3 lần ], Tụng rồi thì tang chủ lạy Vong linh nghĩa là lạy xác rồi mới tẩn liệm . Cầu Siêu Ðương lúc làm phép xác phải tụng bài kinh nầy . " Ðầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ " " A Di Ðà Phật độ chúng dân v.v... " Kế đến tụng tiếp bài Kinh Khi Ðã Chết Rồi . " Ba mươi sáu cõi Thiên Tào " " Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc Hư " . Tụng như vậy ba lần, mỗi lần dứt phải cúi đầu. Sau cùng phải niệm câu chú của Thầy [ 3 lần ] . Tụng tiếp : Di Lạc Chơn Kinh . " Khai kinh kệ, Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp " . Những nhà ở xa Thánh Thất, không thể đến làm phép xác được, thì sau khi tẩn liệm, lập một bàn thờ Vong trước linh cửu, rồi vị chứng Ðàn cầu nguyện Thầy [3], đặng thỉnh Vong đến trước Ðiện tiền [4] và cũng tụng như trên . [3] Lên nhan đèn nhưng không đọc kinh Tứ Thời. Vị chứng Ðàn phải là Chức sắc Thiên phong, hay là Chức việc Chánh, Phó Trị Sự hoặc Thông Sự, phải có hai vị Chức sắc hay là Chức việc nhỏ hơn vị chứng Ðàn cầm 2 cây đèn cầy đứng hai bên, để soi sáng cho vong linh . [4] Nơi Ðiện tiền, sau vị chứng Ðàn phải để 1 khoản trống cho Vong linh quì cúng Thầy và nghe tụng kinh . Thành Phục [5] Cúng Thầy trước có thượng sớ, rồi cúng Thành phục làm theo lễ Nho, cúng Triêu Tịch cũng làm lễ [ Nho ] . [5] Gia quyến phân phối tang phục ] . Ðưa Linh Cữu Cúng THẦY trước, rồi làm lễ cáo Từ Tổ, sau khi làm lễ cáo Từ Tổ thì tụng tiếp Kinh Cầu Tổ Phụ [ 3 lần ] và tụng Kinh Cứu Khổ [ 3 lần ], khi dứt Kinh thì niệm câu chú của THẦY [ 3 lần ]. Rồi hành lễ Khiển Ðiện theo Nho Giáo . Ðến lúc cho Ðạo tỳ nhập bái quan [6]. Chuẩn bị khởi hành Ðồng nhi tụng liên tục Kinh Ðưa Linh Cữu ra tới huyệt . Khi di chuyển Linh Cữu ra ngoài đàng thì sắp đặt theo hàng dọc thẳng như sau : 1 . Vong linh từ Tín đồ đến Lễ sanh thì cây phướn của Thượng Sanh đi trước . Vong linh từ Chức sắc Giáo hữu trở lên thì cây phướn của Thượng Phẩm đi trước . [ Hai cây phướn Thượng Sanh và Thượng Phẩm, thế cho tấm triệu ] . 2 - Bàn thờ Vong . 3 - Ðồng nhi đi hai hàng [ Nam tả, Nữ hữu ] . 4 - Linh cữu . 5 - Tang chủ đi sau linh cữu . 6 - Nữ phái 7 - Nam phái chót hết . [6] Giảm bớt cách tập đi đảo hàng và lộng vòng móc mối, mà chỉ sắp hàng đôi ở ngoài đi vô cho có hàng ngũ. Khi vào bái quan rồi, lạy bốn lạy như thường là đủ . Hạ Huyệt Khi đến tới huyệt thì vị chứng đàn và đồng nhi đứng trước đầu huyệt tụng kinh Hạ huyệt [ 3 hiệp ], mỗi hiệp cúi đầu, mãn hiệp thứ 3 tụng tiếp ba biến Vãng Sanh Thần Chú. Khi dứt thì niệm câu chú của THẦY [ 3 lần ] . Làm Tuần Cửu Từ Nhứt Cửu tới Cửu Cửu, đều phải hành lễ THẦY trước [ cúng Tiểu Ðàn ] có dâng Tam Bửu và thượng sớ, nhưng không có lễ nhạc . Khi cúng Thầy rồi, thỉnh linh vị đến trước Ðiện tiền, tụng bài kinh Khai Cửu, rồi tiếp tụng kinh Nhứt Cửu hoặc Nhị Cửu [ tụng như vậy cho đủ 3 hiệp ] . Ðến khi dứt thì niệm câu chú của Thầy [ 3 lạy. Mỗi lạy 4 gật x 3 = 12 ] . Mỗi tuần cửu phải tụng Di Lạc Chơn Kinh nơi trước Bửu Ðiện. Khi dứt hiệp thì niệm danh mỗi vị Phật và lạy một lạy . Cuối cùng niệm câu chú của THẦY : Nam Mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát . [ 3 lạy. Mỗi lạy 4 gật x 3 lạy = 12 gật ] . Tụng nhiều chừng nào tốt chừng ấy, mỗi hiệp tụng từ 3 Tín đồ đến 6 Tín đồ cho đồng nhịp . Tiểu Tường [ 200 ngày ] Ðếm đủ 200 ngày, kể từ ngày làm tuần Cữu Cữu rồi mới đến làm lễ Tiểu Tường . Cách thể nghi tiết thì cũng làm y như tuần Cửu Cửu vậy nghĩa là cúng Tiểu Ðàn có dâng Tam Bửu và Thượng sớ, rồi thỉnh linh vị đến trước Ðiện tiền tụng kinh Khai Tiểu Tường kế tiếp tụng kinh Tiểu Tường [ tụng như vậy cho đủ 3 hiệp ] . Ðến khi dứt thì niệm câu chú của Thầy [ 3 lạy, mỗi lạy 4 gật = 12 gật ] . Cúng thờ vong thì nơi nhà tiền vãng, làm lễ lớn hay nhỏ tùy sức tang chủ và phải hội ý trước với Lễ Viện . Ðại Tường [ 300 ngày ] Ðếm đủ 300 ngày, kể từ ngày làm Tiểu Tường rồi mới đến làm lễ Ðại Tường . Phương thức nghi lễ cũng như Tiểu Tường, nhưng trước hết phải tụng kinh Khai Ðại Tường rồi tiếp tụng Kinh Ðại Tường [ tụng như vậy cho đủ 3 hiệp ], đến khi dứt thì niệm câu chú của Thầy. [ 3 lạy, mỗi lạy 4 gật = 12 gật ] . Tiếp theo tụng Di Lạc Chơn Kinh . Ðại Tường mãn tang lễ Trừ phục [7], cúng vong theo lễ Nho . [7] Hủy tang phục . Cầu Hồn & Cầu Siêu [ Cho Người Chưa Nhập Môn Cầu Ðạo ] Những người chưa nhập môn cầu Ðạo, chẳng luận giàu sang hay nghèo hèn, già, trẻ hay bé. Ðã nhập môn rồi nhưng bị sa ngã bỏ Ðạo, mà đến giờ chót của người, biết hồi tâm tin tưởng Ðức Chí Tôn. Hay là người chết rồi mà thân tộc người tin tưởng Ðức Chí Tôn, đến rước Cầu hồn và cầu siêu thì Ðạo Hữu nên thi ân giúp đỡ linh hồn ấy siêu thoát . Ấy là một điều làm phước đức độ linh hồn con cái của Ðức Chí Tôn y theo Chơn truyền Tận Ðộ . Về phương cách thể hành Ðạo thì Chức sắc và Chức việc phải làm y như vầy : 1 - Cầu siêu, nếu gần Thánh Thất thì cầu siêu nơi Thánh Thất . 2 - Nếu ở xa Thánh Thất thì thiết lễ cầu siêu nơi nhà Chức sắc hoặc Chức việc gần nơi cư ngụ . 3 - Nếu người trong thân Tộc chịu nhập môn cầu Ðạo thì thuận tiện cho Chức việc, đến Thượng Tượng và thiết lễ tang sự cùng lúc . 4 - Về việc cầu hồn làm tại nhà tang chủ, duy tụng bài Kinh Cầu Hồn . " Ðầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ " " A Di Ðà Phật độ chúng dân .v.v... " Tối lại cả Ðạo hữu và gia quyến của người lâm chung phải thành tâm tụng Di Lạc Chơn Kinh cho tới ngày di Linh cữu . Ðiều trọng yếu hơn hết là tất cả Tang môn phải giữ trai giới trong mấy ngày khi Linh cữu còn tại tiền, thì mới làm bạt tiến cho linh hồn giải thoát đặng . KINH THIÊN ÐO Nhựt Tụng & Tứ Thời NIM HƯƠNG [8] [ Giọng Nam Ai ] [9] Ðạo gốc bởi lòng thành tín hiệp , [10] Lòng nương nhan khói tiếp truyền ra . Mùi hương lư ngọc bay xa, Kỉnh thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng .[11] Xin Thần Thánh ruỗi giong cỡi hạc , Xuống phàm trần vội gác xe Tiên . Ngày nay Ðệ Tử khẩn nguyền , Chín từng Trời Ðất thông truyền chứng tri . Lòng sở vọng gắng ghi đảo cáo , Nhờ ơn trên bố báo phước lành . Niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát . - 3 lạy : [ Mỗi lạy 4 gật X 3 lạy = 12 gật, mỗi lạy niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát ] . [8] Bài Kinh Nhiệm Hương do Ðức Nam Cực Chưởng Giáo Giáng cơ ban truyền . [9] Cầu nguyện giọng buồn . [10] Kinh thức để nhịp Phách khi hành lễ : Khởi đầu cho một nhịp tiết phách và theo giọng từng khúc âm song thất lục bát của bài kinh [ Nam Ai, Nam Xuân ], mỗi nhịp tiết phách cách nhau một chữ như sau : Kinh thức : [Ðạo] nhịp, [Gốc] không nhịp, [Bởi] nhịp, [Lòng] không nhịp, [Thành] nhịp, [Tín] không nhịp, [Hiệp] nhịp . [11] Những hàng chữ nét đậm và xiên, là để điểm nhịp chuông cho Toàn Ðạo biết hành lễ đồng lúc, như lạy và gật đầu . Chú Niệm 1 : " Ðạo gốc bởi lòng thành tín hiệp " . Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Có hiệp đem đường nẻo mới thông , Phân chia cội Ðạo uổng vun trồng . Quanh đường chớ cậy chơn kỳ ký , Ngược gió tài chi sức Hộc Hồng . Bể khổ mênh mông lo giải khổ , Nền công nghiêng ngửa gắn nên công . Phong ba dầu được dìu ra khỏi , Nhớ bởi chung nhau kết dải đồng " . Dẫn Giải : Ðạo gốc là nguồn cội lớn, Thượng Ðế hữu sinh thời hồng hoang và Ðạo hình thành ở điểm vô vi tuyệt đối, từ đó vạn vật muôn loài đồng hóa sinh do duy thể . Ðạo khởi mọi sự sống cho muôn loài đồng hiệp và phát sinh thương yêu. Nay quý Ðấng trao cho loài người một sứ mạng " Lòng thành tín hiệp " để Ðạo gốc phát triển tự hữu và Ðức Chí Tôn : " Mừng vui cho nhơn sanh nay gặp Ðạo Cao Ðài ". NGƯỜI khuyến nhân loại hãy năng cứu Thế để lập Thánh Thể Ðạo . Trang kinh Thiên Ðạo khởi đầu ngôn ngữ " Ðạo gốc bởi lòng thành Tín hiệp ", là vấn đề được đặt ra rất tối quan trọng cho loài người, bởi câu kinh trong vắt và thanh cao. Ðồng ngụ ý người Tín đồ khi đã hiểu được ngôn ngữ nầy như tự giải thoát và đã nắm lấy được nền tảng vững chắt trên đường tu học Ðạo . Ðã bao kỳ khai đạo, chưa có kinh kệ nào mở đầu bởi câu " Ðạo gốc ", duy chỉ có Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ xác định vị trí Ðại Ðạo . Tôn giáo nào cũng có nhiều phương pháp tu luyện, riêng Ðạo Cao ài chỉ về điểm tụ của nguồn cội Ðạo gốc và trực tiếp hướng dẫn nhơn sanh thực hiện những yếu tố thành Ðạo, để tận hưởng thiện mỹ như : - Kiến Ðắc : Chân lý, siêu nhiên . - Tiếng Ðạo : Nhận diện, Chứng nghiệm . - Tâm Ðức : Trí tuệ, Luân lý . - Tìm Pháp : Tri thức, Môi trường . - Công Phu : Thiên lực, Tự lực. Thế lực, Tha lực . Những yếu tố trên cho sự giác ngộ, để vẫy chào khoảnh khắc ngắn ngủi cuộc đời, như một kiếp tu độ nhứt thời, từ đó lòng tin cảm thấy hiển nhiên sự gần gũi ngày mai phúc lạc . Từ trước đến nay trong Phật giáo có tất cả là 55 vị Ðại Bồ Tát đều giảng về chữ Tín, lời giảng ấy nay còn ghi lại trong bộ Hoa Nghiêm Kinh, như chương thứ nhứt có câu : " Tín vi đạo nguyên công đức mẫu " [ Tín là nguyên uyên của Ðạo Mẹ, của tất cả mọi công đức ] . Thiên Chúa Giáo cũng có trên 50 vị Thánh truyền giảng về mục đích chữ Tín và ngày nay Tín của Ðạo Cao Ðài do Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc giảng rằng : " Ta hãy thư thái đặt Tín vào lòng, bởi Tín đến từ đệ nhứt tằng, siêu việt, không như ta nghĩ là mê tín, Tín phải là sự tin của xác thực, chân chính đối với Thiêng Liêng và nhân loại, bởi nên tu nhiều đạt ít nguyên do tại lòng không Tín " . Tín ở nhân sinh vốn từ Ðấng Tối Thượng bao dung, đã ân tứ và hằng truyền thương yêu đến khắp cùng tận mặt sống, ba kỳ nhập thế đều hóa độ nhơn sanh trên căn bản Tín, Tín là một yếu mục được Ðại Ðạo tổng hợp thành nguyên lý cứu rỗi, Tín vi diệu vô tận khi mọi đồng thuận hóa thành Chân Pháp, như ta đã tiếp nhận một lần Từ Bi vô lượng và Bác Ái vô hạn . Chú Niệm 2 : " Lòng nương nhan khói tiếp truyền ra , Mùi hương lư ngọc bay xa ". Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Trau tria nét Ðạo nực mùi hương , Rừng Thiền ngàn dậm Trời soi bước ". Dẫn giải : Người tu về nguồn cội Ðạo gốc, bởi đã trải qua những căn mình phụng sự Ðạo vì tha nhân, thì Tâm hương tự mở thăng hóa diệu vợi, bởi thế người tu cần đem lòng hương để thi hành nguyện vọng và đổi lấy thân hầu ra khỏi trầm luân . Người tu lấy Bát Nhã để gạn đục khơi trong cho chính mình và đem hết Tâm hương gửi vào lư ngọc, những miền vui an lành được truyền đến mọi nơi, đó là sự tự đạt thành phương cứu rỗi . Người Ðạo nực mùi hương ra tay tế độ đồng sinh và cùng nhau chia tay trầm luân bể khổ, để đến " Rừng Thiền nô nức loán mùi hương " do Trời soi bước, là tu một kiếp được độ nhứt thời thành Lư Ngọc [ Linh Quang ]. Mùi hương nhan tự hóa tính thiền trong ấy và tùy theo sự tiếp nhận của từng người, mùi hương dẫn đến rừng thiền khôn xa lắm, dù cho xa ngàn dậm cũng có Trời soi bước, Trời không bỏ ai nhưng phải sửa mình để đón Ðạo, nơi Thánh Ðịa có nhiều người thành Ðạo và chuẩn bị thành Ðạo, mới gọi là Rừng thiền . Cửa thiền trong Ðạo gốc là một vấn đề công phu hằng cửu, thường chú ý đến bao kiếp sống và theo năm tháng tu hành cực khổ . Không vì một khái niệm đơn sơ về thiền như nhiều chi phái thường lầm lẫn mà hành sai đáng thương cho một kiếp người . Chi phái cứ tưởng rằng ngồi xếp bằng không nói và lấy sự trầm ngâm tư tưởng gọi là thiền, lại có người thích lấy danh Ðạo để giảng sai về thiền như " minh tâm kiến tánh " là thiền, cái vốn ấy là một sự kiện thành quả tệ hại nhứt, trở thành nghiêm trọng cho bản thân do thiền ma thôi thúc, Trung Hoa đời Tống có Ðức Ðại Huệ thiền sư gọi đó là " Mặc chiếu Tà thiền " . Luận cho cùng, đi vào thiền là phải có Tam lập [ Lập Ðức, Lập ngôn và Lập công ] ngoài ra còn phải thông Kinh, Giáo lý và hành đạo, cùng lúc phối hợp môi trường sức khẻo và có trình độ hiểu thấu mật ngữ trong kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo . Một điểm thứ hai trong nền Ðạo Cao Ðài nói đến [ Tịnh ] là sự khiêm tốn, khi Tịnh theo nguyên lý Âm Dương rất phù hợp với tiến hóa và khoa học . Chú Niệm 3 : " Kỉnh thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng , Xin Thần, Thánh ruỗi giong cỡi hạc ". Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Mở rộng đường mây rước khách trần , Bao nhiêu tình gợi nhắn nguyên nhân . Biển mê cầu ngọc liên phàm tục, Cõi thọ sông ngân tiếp đảnh tần . Chuyển nổi Càn Khôn xây Vũ trụ , Nhẹ nâng Nhựt Nguyệt chiếu Ðài vân . Cầm gươm huệ chặt tiêu oan trái , Dìu độ quần sanh diệt qủa nhân " . Dẫn giải : Cõi siêu thoát ở đời nầy đều trên thành tố ngôi sinh của mọi vật thể mà ra và được phơi bày hoàn chỉnh bởi sự thật . Ðức tin làm nên mọi việc thiện như: Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Ðức, Dũng, bởi thế người tu cần phải có chân tâm và tư duy tốt để chuyển vận thành ý hợp với lời cầu nguyện. Thánh Thần tiếp nhận được vì lòng thành cao quý mới cỡi hạc đến với ta rất nhanh và đường mây rộng mở để rước khách trần về căn nhà Ðại Ðạo . Chú Niệm 4 : " Xuống phàm trần vội gác xe Tiên , Ngày nay Ðệ Tử khẩn nguyền " . Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Cõi thế tìm nơi đạo đức vào , Lòng thành Thần Thánh chứng công lao . Nhân sanh thấy khổ đưa tay cứu , Chẳng mất phần sau địa vị cao " . Dẫn giải : Quý Ðấng Thiêng Liêng mỗi khi hạ giới bằng phương tiện xe Tiên [ Hạc kéo xe ] để di chuyển nhanh, khi Ðệ tử cầu nguyện xin hồng ân thì có quý Ðấng đến để vỗ về và giúp đở khi cần kíp . Ðối với Ðệ tử mới khởi đầu niềm tin cần đến tha lực của quý Ðấng, những lúc nầy chỉ có xe Tiên mới di chuyển nhanh chóng . Khi Ðệ tử đã thăng hoa đủ niềm tin và có khả năng để bước vào môi trường tự lực, quý Ðấng mới an lòng, chim Hạc cũng vui mừng bởi sức mình được trưng dụng vào mọi sự hữu ích cho nhơn sanh . Tha lực và Tự lực là hai pháp môn tu như nhau, nhưng tùy nguyên căn của mỗi nhơn sanh . Quý Ðấng xuống phàm trần không bỏ một nguyên nhân nào, thấy cõi thế khốn cùng thì cứu rỗi, địa vị của mỗi Ðệ tử cao quí hay thấp hèn là do nơi bồi đắp công nghiệp Ðạo đức mà thành . Chú Niệm 5 : " Chín từng Trời đất thông truyền chứng tri , Lòng sở vọng gắng ghi đảo cáo ". Thánh Giáo Dạy Ðạo : " Gìn giữ về sau mối Ðạo mầu , Nương theo bước trước gắng tìm châu . Thuyền chờ bến tục buồm trương sẵn , Ðưa đến nguồn trong rửa bợn sầu . Dẫn giải : Cửu Thiên Khai Hóa. Trời cao có chín tầng, được gọi là Cửu trùng, Cửu thiên, Cửu tiêu hay Cửu giai . Chín tầng Trời được phối hợp điều hòa như sau : - 3 tầng Thánh cho 3 phẩm, [ Thiên Thánh, Ðịa Thánh và Nhơn Thánh ] . - 3 tầng Thần cho 3 phẩm, [ Thiên Thần, Ðịa Thần và Nhơn Thần ] . - 3 tầng Tiên cho 3 phẩm, [ Thiên Tiên, Ðịa Tiên và Nhơn Tiên ] . Ngoài ra còn có tầng thứ 10 và 11 là của quý Chư Phật, nên có sách viết " Chín phương Trời, mười phương Phật " . Riêng tầng thứ 12 là Ngôi Thượng Ðế . Ðức Chí Tôn dạy rằng : " Thập Nhị Khai Thiên là Thầy, Chúa Càn Khôn Thế Giái " . Ðức Chí Tôn là Giáo chủ của Thập Nhị Khai Thiên, con số 12 là số riêng của Thầy . " Thông truyền chiếu tri ". Chiếu chỉ của Trời đã loan truyền khắp cùng và nhân loại thấu suốt sự soi rọi vi diệu của Trời, khi lời khẩn nguyện điều lành thì trên chín tầng Trời có quý Ðấng Thiêng Liêng đồng chứng giám .Siêu việt nào bằng Trời và Nhân loại cùng cảm nhận bởi mối liên quan thân thương, mật thiết qua giá trị từ thông công mặc khải . " Lòng sở vọng " là lời thành kính phát khởi từ trạng thái thanh tịnh, như thể ra ngoài siêu ngã để đến với " Thiên Nhơn hiệp Nhứt ", sự chứng chiếu nầy rất trọng đại bởi do chính mình tạo thành " Lòng sở vọng " . Chú Niệm 6 : " Nhờ ơn trên phổ báo phước lành " Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Gắng sức trau giồi một chữ tâm , Ðạo đời muôn việc khỏi sai lầm . Tâm thành ắt đạt đường tu vững , Tâm chánh mới mong mối Ðạo cầm . Tâm ái nhơn sanh an bốn biển , Tâm hòa thiên hạ trị muôn năm . Ðường tâm cửa Thánh dầu chưa vẹn , Có buổi hoài công bước Ðạo tầm " . Dẫn giải : Gieo giống lành thì hái qủa lành, hay ngược lại. Như thuyết [ Nhân quả ] của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Phật Giáo, Thiên Chúa và Hồi Giáo v.v... Nghiệp họa, phước duyên không cửa bởi duy người tạo ra và luật vay trả thiện ác rất công bình . Người Ðạo nhờ Thiêng Liêng phổ biến từng khắc phước lành, để nhắc nhở và kiềm chế những sa ngã, bởi người trọn lành thấu suốt luật và sợ luật Nhân quả, Cảm ứng, Báo ứng và Luân hồi . [ Tác dụng Niệm Hương, để lòng thành thanh tịnh, hướng về Ðấng vi diệu và chuẩn bị tiếp nhận Pháp Ðạo ] . KHAI KINH [ Giọng Nam Ai ] [12] Biển Trần khổ vơi vơi Trời nước , Ánh Thái Dương giọi trước Phương Ðông . Tổ Sư Thái Thượng Ðức Ông , Ra tay dẫn độ dày công giúp Ðời . Trong Tam Giáo có lời khuyên dạy , Gốc bởi lòng làm phải làm lành . Trung Dung Khổng Thánh chỉ rành , Từ Bi Phật dặn: lòng thành lòng nhơn . Phép Tiên Ðạo tu chơn dưỡng tánh , Một cội sanh ba nhánh in nhau . Làm người rõ thấu lý sâu , Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh . [ Gật đầu ] [12] Bài Khai Kinh do Ðức Lữ Tổ giáng cơ ban truyền . Chú niệm 1 : " Biển trần khổ vơi vơi Trời nước , Ánh Thái Dương giọi trước Phương Ðông " . Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Biển khổ muốn chia khách lạc đường , Gặp được nẻo ngay đời có mấy ? . Thìn lòng khối ngọc tạo nên gương ". Dẫn giải : Biển trần khổ bởi cuộc sống như thủy triều tiếp nối dồn dập, tạo ra mọi biến động khổ ải cho muôn loài, bởi thế quý Ðấng từ ngôi cao Thiêng Liêng thấu hiểu cảnh thống khổ của nhân loại, nên đến cùng nhơn sanh mà gánh khổ cho thiên hạ, đồng tìm phương thức cứu rỗi trên mọi mặt sống. Quý Ðấng lấy sự đời để thắng khổ và làm phương sách hủy diệt mê muội hầu cho Ðời vơi nhẹ nổi trầm thống . Nhân loại đã trải qua muôn kiếp, nhưng vẫn đứng trước biển trần mù mịt, để rồi rơi vào không gian bất định hướng vì bàn môn tả đạo đánh cắp niềm tin, không còn ý chí để tự mình tìm phương cứu cánh và họ lười biếng không chịu tiếp nhận hồn linh, bởi họ ưa bối cảnh nay vay mốt trả. Dầu quý Ðấng đã nhiều lần đổ hồi chuông, giục thúc trống gọi mời nhân loại và báo động thức tĩnh phá mê . Người ngộ Ðạo chỉ cần thắng khổ, cho tâm hồn lắng động và nhận diện biển trần qua trí tuệ, mượn pháp đức của Ðấng Thiêng L iêng mà soi rọi cho chính mình, lấy tín ngưỡng rung động cảm ứng và thể hiện học hạnh như người tu cằm đèn chân lý vào cõi Ðạo hoằng khai . Chú niệm 2 : " Tổ Sư Thái Thượng Ðức Ông , Ra tay dẫn độ, dày công giúp Ðời " . Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Màn Trời đã vẹt ngút mây trương , Bước tới Ðài hoa thấy tỏ tường . Ngọc sáng non Côn đà gặp nẻo , Lối mòn động Bích chớ lầm đường . Chánh tà đôi nẻo tua tầm chước , Hư thiệt muôn phần gắng định phương . Mê tĩnh chuông khua phân biệt tiếng , Rừng Thiền nô nức loán mùi hương " . Dẫn giải : Ðấng " Tổ Sư Thái Thượng Ðức Ông " là căn nguyên thủy của loài người, khi NGƯỜI sinh ra tay chỉ Trời gọi là Cha, tay chỉ Ðất gọi là Mẹ và tay chỉ Người gọi là thiên hạ, NGƯỜI sáng lập trần gian, bởi thế chúng sanh có tính [ Nhất Âm và Nhất Dương ] hòa hợp tạo thành tế bào nhỏ của Trời Ðất . Loài người sinh hóa luôn tồn bởi Trời sắc thái Huyền là Dương, Ðất sắc thái Hồng là Âm, Âm Dương phối hợp muôn loài sinh hóa. Ðức Thái Thượng là giáo chủ của muôn loài vì Ngài sinh ra trước nhứt rồi mới đến vạn vật muôn loài và chúng sanh . Ðức Thái Thượng chính là hóa thân của Ðức Thượng Ðế mới có đủ quyền năng lập thế gian, NGƯỜI là Ðấng cao cả huyền diệu sinh hóa vô tận, vô lượng, Ðấng phụng sự và cai quản tất cả muôn loài không mệt mỏi, Người mở ra pháp luân phổ độ Nhứt Khí Hóa Thanh Thanh như : 1 - Tiên Thiên Khai Hóa [ Ðấng hóa sinh ] . 2 - Tiên Thiên Chánh Nhứt [ Ðấng duy thể ] . 3 - Khai Nguyên Ðại Ðạo [ Ðấng khai Ðạo ] . 4 - Chưởng Giáo Thiên Tôn [ Ðấng quyền năng ] . 5 - Bàn Cổ Thuần Dương Lập Thế [ Ðấng lập thế ] . 6 - Chân Kim Tinh Khai Nguyên [ Ðấng sự sống ] . Từ đó luật tắc Ðạo Trời mở ra đến nay là kỳ ba, Ðạo Trời đón nhận tất cả không bỏ một muôn loài nào, Ðại Ðạo là cửa Trời thênh thang có đèn Ngọc soi sáng, dù ở nẻo nhỏ lối mòn chật hẹp cũng có đèn Bích dẫn đường chân lý độ rỗi. Tà được xá tội, Nhân loại được ân tứ cùng đua nhau chen bước vào cội vị. Ngày nay nhân loại đạt vị nhiều và hơn nhau do sự định tĩnh bát nhã để hướng tới rừng thiền [ Ðền Thánh ], và nay Ðại Ðạo tỏa khắp như hương, nhân loại tiếp nhận tin mừng cứu rỗi nhiều hơn trước . Chú niệm 3 : " Trong Tam Giáo có lời khuyên dạy , Gốc bởi lòng làm phải làm lành " . Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Phải giữ chơn linh đặng trọn lành , Ngọc Hư toàn ngự đấng tinh anh . Luật điều Cổ Phật không chừa tội , Hình phạt Chí Tôn chẳng vị tình . Chánh trực khinh oai loài giả dối , Công bình vừa sức kẻ chơn thành . Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn , Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình " . Dẫn giải : Ở trần gian nầy có ba Tôn giáo lớn đồng khuyến tu cùng một mục đích độ rỗi vì chúng sanh như Nho, Thích và Ðạo, nhưng khác nhau trên hình thể xây dựng Ðức tin, ba Tôn giáo trên được xuất phát từ Ðạo Gốc, truyền giáo theo thời gian và đặc thù sinh hóa của nhân loại, lấy cấu trúc nguyên thủy sinh hóa đặt vào lòng người và lẽ Ðạo để đạt đến mục tiêu cứu cánh và giải thoát . Người Ðạo phải nắm vững luật tắc Thiên Ðạo và Tâm pháp để định hướng thấu triệt chân lý Ðại Ðạo cho chính mình như : Thiên Ðạo . - Nho giáo : Chấp trung quán nhứt . - Thích giáo : Báo trung qui nhứt . - Ðạo giáo : Thủ trung đắc nhứt . Tâm Pháp . - Nho giáo : Tồn tâm dưỡng tánh . - Thích giáo : Minh tâm kiến tánh . - Ðạo giáo : Tu tâm luyện tánh . Người tu phải cưu mang sửa tánh đeo đuổi việc lành, lẽ Ðạo hằng ngày. Ta hãy xem phương tiện cuộc đời để tăng tốc trí tuệ kiếp sinh thanh cao và biết thương yêu tha nhân cùng tôn kính mọi mặt sống đồng qui . Ðức Chí Tôn luôn luôn nhắc nhở chúng sanh phải giữ Chơn linh trọn lành, bởi nơi đó có Ngọc Hư Linh ngự trị nên phải trong sáng tinh anh. Quý Ðấng đã hướng dẫn nẻo Chánh đức hạnh và chỉ rõ đường Tà nên tránh, nhưng con người cứ mãi để ý lầm lỗi, bởi thế luật Trời cứ mãi phán xét, cho nên Ðức Chí Tôn dạy rằng : " Biết sợ xin nguyện cẩn thận mình " . Chú niệm 4 : " Trung Dung Khổng Thánh chỉ rành , Từ Bi Phật dặn: lòng thành lòng nhơn " . Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Cần lo học Ðạo chí đừng lơi , Phú quí sương tan lố bóng Trời . Lợi lộc xôn xao rồi một kiếp , Nghĩa nhơn tích trữ để muôn đời . Làm lành sau cũng lành vay trả , Chác dữ âu hay dữ vốn lời . Mấy kẻ xét mình tâm tự cải , Thân danh bể khổ mặc buông trôi ". Dẫn giải : Nho giáo của Ðức Khổng Tử có hai thiên kinh sách : 1 - Tứ Thư : Trung Dung, Ðại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử . 2 - Ngũ Kinh : Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu . Riêng bộ Kinh Nhạc bị nhà Tần đốt và thất lạc, sau đó sưu tầm được nhưng chỉ còn một chương Nhạc Ký, bởi thế chương Nhạc Ký trở thành phụ bản trong bộ Kinh Lễ . Sách Trung Dung do ngài Tử Tư viết ra từ tư tưởng Ðức Khổng Tử, Ngài Tử Tư nguyên là cháu nội của Ðức Khổng Tử . Sách Trung Thu xây dựng nền tảng Tâm pháp theo hình thể linh động, giữ vững mối liên quan con người và liên hợp mọi chiều sống thứ tự, Sách Trung Dung dạy phụng sự tha nhân và biết mình biết người . Ðạo Nho còn gọi là Ðạo Trung Thứ, tại lòng phát xuất lẽ phải, như túi lương tâm chính đại và quang minh ấy là Thánh tánh . Ðạo Phật mục đích Từ Bi hỉ xả, phụng sự tứ nghiệp [ Sinh, Lão, Bệnh, Tử ] . Ðạo Nho mục đích Tam Cang và Tứ Tâm : Hảo Tâm, Hiếu Tâm, Thiên Tâm và Ðạo Tâm . Ðạo Thiên Chúa mục đích Bác Ái, yêu thương và phụng sự tha nhân . Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Qui nguyên Tam Giáo mục đích Từ Bi hỉ xả, Bác Ái tha nhân và Công Bình hạnh phúc . Ðại Ðạo khuyến tu, con người lấy tâm đón tiếp thương yêu, xoa dịu những bất hạnh thống khổ và chú trọng Tam Bửu [ Tinh, Khí, Thần ] để làm sinh lực nuôi nấng cuộc đời . Chú niệm 5 : " Phép Tiên Ðạo tu chơn dưỡng tánh , Một cội sanh ba nhánh in nhau " . Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Thiền quang nhặt thúc khuất màu xuân , Trở bước quanh co rán liệu chừng . Hứng giọt Ma Ha lau tục lụy , Ngừa Thuyền Bát Nhã thoát mê tân . Trau tâm hiệp sức vun nền Thánh , Dưỡng tánh chờ khi sạch bợn trần . Phước gặp Tam Kỳ Trời cứu độ , Gắng tu kịp buổi lướt Ðài Vân " . Dẫn giải : Ðạo Tiên khuyến tu chơn dưỡng tánh và bồi bổ vào mạch sống cho tánh được tinh khiết, để đạt đến thuần Tiên tu luyện Tinh, Khí, Thần . Như Thiên Chúa dùng diệu pháp dâng lễ mỗi ngày lên Ðấng CHA lành . Người dưỡng tánh do biết dự trữ và đổ đầy việc tốt vào kho, những phương tu dưỡng tánh và luyện thân đều phát xuất từ một cội Ðạo mà ra, Tôn giáo lớn nhỏ tín đồ nhiều hay ít là do thời gian phù hợp cho xã hội nhằm giáo hóa điều thiện thắng ác và cứu rỗi kẻ bần cùng khốn khổ thiếu khải minh, nhân ái và sẽ đến ngày Tôn Giáo của Nhân loại đồng tôn vinh vì một Ðấng . Chú niệm 6 : " Làm người rõ thấu lý sâu , Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh " . Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Cửa Trời kịp mở vớt quần sinh , Nâng đời khá gắng trau nhơn đức . Học Ðạo tua năng luyện tánh tình , Khổ hạnh chí mong qui nẻo chánh . Ngoài tai chớ chác miếng hư vinh " . Dẫn giải : Con người có Ðạo có Tôn, Như cây có cội, như sông có nguồn, làm người phải nhận biết rõ nguyên lý để tiếp nhận hệ thống tổ chức vũ trụ và cõi sống của muôn loài từ không ra có, vạn vật muôn loài đã trở thành mối liên hệ mật thiết mà không thể nào từ chối hay hủy diệt sự liên hệ ấy, vũ trụ và sự sống đã là thành tố của lý sinh tồn . Riêng loài người lại hưởng được nhiều đặc quyền của vũ trụ mà sinh ra lắm kiêu hãnh, nên Thượng Ðế khuyến sửa lòng bằng phương pháp công phu qua diệu dụng của Thánh Kinh Cửa Trời mở đón quần linh, nâng đời thăng hoa thành nhơn đức, luyện Ðạo sửa tánh thắng khổ hạnh chí ấy là của thánh nhân, hy vọng quần linh lấy tính lành xem nhẹ miếng ăn tật sấu, hãy lấy nhục trần hóa vinh để vào cửa Thiêng Liêng, tự mình vứt bỏ mê trần, thắp sáng đèn Trời cho hồn linh tươi mát . Khi Tín đồ nhận được Thiên ý Ðại Ðạo " Tam giáo đồng nguyên, vạn giáo nhứt Lý ", là không còn cửa dị biệt tín ngưỡng, chỉ duy còn một suy tôn Ðại Ðạo . [ Tác dụng Khai Kinh, như cánh cửa Pháp Ðạo đã mở ra, luật tắc Ðạo Trời còn nguyên, nhắc nhở đừng quên lối về ngôi cũ ] . NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ [ Giọng Nam Xuân ] [13] Ðại La Thiên Ðế , Thái Cực Thánh Hoàng . Hóa dục quần sanh , Thống ngự vạn vật . Diệu diệu " Huỳnh Kim Khuyết ", Nguy nguy " Bạch Ngọc Kinh " . Nhược thiệt nhược hư , Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa . Thị không, thị sắc , Vô vi nhi dịch sử quần linh . Thời thừa lục long , Du hành bất tức . Khí phân tứ tượng , Hoát triền vô biên . Càn kiện cao minh , Vạn loại thiện ác tất kiến . Huyền phạm quảng đại , Nhứt toán họa phước lập phân . Thượng chưởng tam thập lục Thiên , Tam thiên Thế giái . Hạ ốc thất thập nhị Ðịa , Tứ đại bộ châu . Tiên Thiên Hậu Thiên , Tịnh dục Ðại Từ Phụ . Kim ngưỡng cổ ngưỡng , Phổ Tế Tổng Pháp Tông . Nãi Nhựt Nguyệt Tinh Thần chi quang , Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ . Trạm tịch chơn Ðạo , Khôi mịch tôn nghiêm . Biến hóa vô cùng , Lữ truyền Bữu Kinh dĩ giác thế . Linh oai mạc trắc , Thường thi thần giáo dĩ lợi sanh . Hồng oai, Hồng từ , Vô cực, vô thượng . Ðại Thánh, Ðại nguyện, Ðại tạo, Ðại bi , Huyền Khung Cao Thượng Ðế . Ngọc Hoàng tích phước hựu tội , Ðại Thiên Tôn . Niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát . [13] Bài kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế do Ðức Chí Tôn ban hồng ân, sau 10 năm Ðức Quyền Giáo Tông và Ðức Hộ Pháp cầu xin . Giọng Nam Xuân: lời vinh ca vui mừng ] . Chú niệm 1 : " Ðại La Thiên Ðế , Thái Cực Thánh Hoàng " . Thánh ca [ 14 ]: " Vua Trời trên cõi Ðại la , Vốn ngôi Thái cực ngự tòa Tiên Thiên ". Dẫn giải : Hồng danh Thượng Ðế đức cao rộng lớn minh mông như giềng lưới lớn bao trùm cả Vũ trụ, là Ðấng Thánh Hoàng hữu thỉ Thái Cực từ lúc Trời đất chưa phân tánh chia ngôi, đến khi Trời đất an ngôi rồi mới hóa sinh vạn vật muôn loài. Ðấng là vị Thiên Ðế hóa sinh quần linh, Ngài lại phú cho mỗi hóa sinh có tánh hư linh và bất muội như: Thiên, thiện, nhơn, tồn, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, sinh . Thiên Ðế là vì Vua ở cõi Trời cầm quyền diệu hóa, điều động Phật, Thần, Thánh, Tiên, Nhựt, Nguyệt, Tinh tú trong không gian đồng vận hành hòa nhịp bởi Ðấng Tạo Hóa, Người là Thái Cực Thánh Hoàng một trong những Hồng danh Thượng Ðế hữu thể . Ðức Lão Tử nói rằng : " Ta suy diễn: thì cảm thấy Ðạo, lúc nào cũng có một thể, không đầu đuôi manh mối, thế mà nơi nào cũng có Ðạo đến. Ta trông lên phía trên, không thấy phản chiếu ánh sáng, xem xuống phía dưới, không thấy ấn khuất bóng tối. Thật Ðạo lâng lâng trong sạch, hồn nhiên giản dị, mà chính Ðạo sanh Ðấng Tạo Hóa và ngôi của Ngài là Thái Cực. Ðó là chỗ Ðơn Kinh nói rằng: Vô cực sanh Thái Cực " . " Ðại La " Thiên Ðiều minh mông nhưng phán xét công bình như người làm lành hưởng phước duyên, kẻ ác dữ nhận tai họa v.v... Tuy lưới Trời cao và thưa nhưng không mảy nào chạy lọt qua khỏi phán xét. Luật thưởng phạt của Trời trên nguyên tắc đơn giản, không luật sư biện hộ hay cải án, không tòa án, không tra tấn, không lao tù, thế mà kết quả rất kỳ diệu, bởi người biết lưu tồn tinh anh của lành và từ chối được cái ác dữ . Người Ðạo học, tu luyện sửa tánh có ý niệm Ðại La như Luật Ðạo Trời, vì họ đã thành đạt tất cả mọi cội sinh của linh hồn và họ hằng tiếp nhận quyền năng phán định của Ðấng cầm cân cứu rỗi [ Thượng Ðế ] . [ 14 ] Thánh Thơ thi tập của Ðức Lý Ðại Tiên, Giáo Tông Thiêng Liêng Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ . Chú niệm 2 : " Hóa dục quần sanh , Thống ngự vạn vật " . Thánh ca : " Sanh thành người vật vô biên , Thống trị muôn loài mọi việc cầm tay " . Dẫn giải : Ðây là thời kỳ sơ khai Âm và Dương biến hóa ngũ sanh vạn vật muôn loài và cho sự sống như : - Thai sanh : Bào thai người và hạ thú . - Noãn sanh : Trứng nở thượng cầm, công trùng . - Thấp sanh : Môi trường và ẩm ướt . - Hóa sanh : Biến hình thay giống . - Thảo sanh : Hạt giống nẩy mầm . Mọi sự sống từ ấy thành hình cho nên Kinh Dịch nói rằng: " Thiên địa nhơn luân, vạn vật hóa thuần nam nữ giao cấu vạn vật hóa sanh " . Như trước đây Trời có một thì trong sáng, Ðất có một thì nền vững, Thần có một thì linh thiêng, muôn loài có một thì phát triển và nối nhau tấn hóa, tất cả đều ở trong một thống ngự bởi đức Thượng Ðế mà thành . Từ khi Hóa Dục Quần Sanh, đồng cùng trong một thể phân thành ba yếu tố sống để tạo thành một nhơn hình như : Linh Hồn : Có điểm tánh linh do Trời phú cho, bởi thế kinh sách Ðạo Nho có câu : " Thiên mạng chi vị tánh linh hồn " như một nguyên thể năng lực thiêng liêng ở trong nhơn thể, có hình dáng hư hư thiệt thiệt là giềng mối của tánh mạng trung tâm của sự sống, mang tính thuộc về Thần . Ðại Ðạo gọi là Linh Hồn . Phật Ðạo gọi là Chơn Như Diệu Tánh . Thánh Ðạo gọi là Bổn Tánh . Tiên Ðạo gọi là Ðiểm Linh Quang . Nhục Thể : Là lớp võ cứng bên ngoài linh hồn, ngày nào linh hồn xa lìa thì võ cứng ấy sẽ bị hư hỏng và tan nát không dùng vào đâu được nữa. Nhục thể luôn luôn thay đổi theo Khoa học Vật lý chứng minh : Nhục thể đôi ba năm thay một lần nhưng vẫn giữ dạng tổng quát, chúng ta hãy xem vài tấp ảnh [ photo ] từ khi còn thơ ấu đến lúc trưởng thành và khi tuổi già nua thì rõ sự biến hóa của nhục thể, tuy nhục thể biến dịch nhưng linh hồn vẫn uyên nguyên và tồn tại không thay đổi, mang tính thuộc về Tinh . Nhị Xác Thân : Là một giao điểm của Linh hồn và Xác phàm để tạo ra xác thân thứ hai gọi là Thể Phách, đây là như trạm trung gian kết hợp hồn xác thành một thể, mục đích truyền ý chí linh hồn cho nhục thể thực hiện và thông đạt tri giác của ngũ quan vào linh hồn, mang tính thuộc về Khí . Những thí nghiệm khoa học về tiền kiếp đều do Thể Phách xác chứng nhờ vậy mới có " Sanh nhi tri chí " . Chú niệm 3 : " Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết , Nguy nguy Bạch Ngọc Kinh " . Thánh Ngôn Dạy Ðạo : " Một tòa Thiên Các ngọc lầu lầu , Liền bắt cầu qua nhấp nhóa sao . Vạn trượng then gài ngăn Bắc Ðẩu , Muôn trùng nhíp khảm hiệp Nam Tào . Chư Thần chóa mắt màu thướng đổi , Liệt Thánh Kinh tâm pháp vẫn cao . Dời đổi chớp ngăng, đoan đở nổi , Vững bền muôn kiếp chẳng hề sao . Thánh ca : " Cửa Huỳnh Kim chạm vàng lộng lẫy , Thành Bạch Ngọc cẩn ngọc nguy nga ". Dẫn giải : Trên Thiên Ðế có cửa Huỳnh Kim Khuyết sơn phết những rồng vàng, đền đài cao vút, diệu vợi mênh mông, sáng rực rỡ tráng lệ và Kinh thành Thánh Hoàng cẩn những ngọc trắng trong, nguy nga vòi vọi, hai cõi ấy là trung tâm Càn Khôn, Vũ trụ bởi Thượng Ðế ngự trị. Nơi mà Ðấng háo sinh dưỡng dục đầy lòng từ ái, bao dung nhưng cương kỷ . Chú niệm 4 : " Nhược thiệt nhược hư , Bất ngôn nhi mặc, tuyên đại hóa " . Thánh ca : " Có đầy như thế : trống không , Mặc dầu không động nhưng mà đức cao " . Dẫn giải : Hình Trời xem như dày đặc thì lại như trống không, không gian im lìm phẳng lặng chẳn ai lên tiếng bảo vâng mà tuần tự hóa sinh bày rộng khắp cùng Sách luận ngữ có câu : " Thiên hà ngôn tại, tứ thì hành yên, vạn vật sanh yên ". Trời không nói mà có bốn mùa : Xuân, Hạ, Thu, Ðông vẫn xoay xuống cùng, muôn vật đều hóa sinh, Trời không nói âm thầm thực hiện kỷ năng phụng sự hữu ích cho muôn loài . Mọi vật ở Vũ trụ nầy có thừa không thiếu do cái trống không của tĩnh tạo thành hóa sinh không ngừng . Chú niệm 5 : " Thị không thị sắc, Vô vi nhi dịch sử quần linh " . Thánh ca : " Không như có, có như không , Không thấy bày làm nhưng khiến thần linh ". Dẫn giải : Hình Trời xem thật trống không, mà trong không lại hóa ra có, có lại hóa ra không. Không thấy bày biện mà sai các vị Thần linh phải đến tuân mạng, ấy là Vô vi, trong sách Luận ngữ có câu : " Vô Vi Nhi Trị ". Nhơn sanh thường cằm nhầm sự có để nói Ðạo, nhưng Ðạo lại vì không, nên có nhiều mơ tưởng đạt Ðạo, bởi thế đời mới khổ vì vốn chẳng thấy sắc Ðạo. Ðạo vì có không cao xa, Ðạo vì không nhưng ở gần hai điều nầy là một phối hợp thường hằng, nên Ðức Chí Tôn thường dạy chỉ có tính Bát Nhã mới vượt lên trên " Thị không thị sắc " . Ðại Ðạo khởi động từ Vô vi mà phân tánh gọi là Ðấng kiến tạo vũ trụ, Ðấng là Giáo chủ của quần linh, là nhà kiến trúc, mỹ thuật bày biện cho vũ trụ nầy đẹp, không thấy Ðấng nhưng khiến bảo được thần linh xuất hiện bảo tồn vạn vật muôn loài . Chú niệm 6 : " Thời thừa lục long, Du hành bất tức " . Thánh ca : " Vua Trời ngự cõi sáu rồng , Huyền huyền diệu diệu ngao du không ngừng " . Dẫn giải : Hằng cỡi sáu rồng đi giáp vòng Trời không hề ngừng nghĩ, kinh mới có câu: " Thừa Lục Long dĩ ngự thiên ". Sáu Rồng quẻ Càn thuộc Dương như : 1 - Hào Sơ Cửu [ Tìm Long ] : Rồng ở trần gian lặng lẽ . 2 - Hào Cửu Nhị [ Hiện Long ] : Rồng phụng sự muôn loài . 3 - Hào Cửu Tam [ Tịch Dương Long ] : Rồng vẫy vùng thắng khổ. 4 - Hào Cửu Tứ [ Huyền Long ] : Rồng xua đuổi vực thẩm . 5 - Hào Cửu Ngũ [ Phi Long ] : Rồng bay về Trời . 6 - Hào Thượng Cửu [ Càng Long ] : Rồng thành đạt . Sáu Rồng biến hóa huyền diệu và liên tục vận chuyển giáp vòng Trời . Chú niệm 7 : " Khí phân tứ tượng Hoát truyền vô biên " . Thánh ca : " Ngôi Vô Cực phân chia Tứ Tượng , Lại vận hành nhựt nguyệt vô biên " . Dẫn giải : Ngôi Thái Cực sinh Lưỡng Nghi [ Âm Dương ] mặt Trời Thái Dương, mặt trăng Thái Âm. Lưỡng Nghi sinh tứ tượng, [ hành tinh và tinh tú ] 1 - Thiếu Âm . 2 - Thiếu Dương . 3 - Thái Âm . 4 - Thái Dương . Khí phân Tứ Tượng rộng chuyển không cùng, hóa sinh Bát Quái và phân chia bốn hướng Ðông, Tây, Nam, Bắc . " Hoát truyền " loan truyền sâu rộng giáo lý mầu nhiệm của Ðạo Trời, đã thành tựu như ý tự nhiên vận hành suốt ngày đêm, từ ánh sáng đến bóng tối đều tiếp nối lời truyền loan trong không gian vô tận . Chú niệm 8 : " Càn kiện cao minh Vạn loại, thiện ác tất kiến ". Thánh ca : " Ngôi Càn cứng mạnh sáng cao , Muôn loài lành dữ sáng soi tỏ tường " . Dẫn giải : Ngôi Càn là Trời bền vững chắc hẳn không lây động, sáng suốt soi rõ và che chở cả muôn loài, Thượng Ðế cầm cân phán xét công bình nên mọi việc lành dữ của thế gian NGƯỜI đều thấy rõ . Chú niệm 9 : " Huyền phạm quảng đại , Nhứt toán họa phước lập phân " . Thánh ca : " Phạm vi diệu diệu huyền huyền , Lành dữ định tội phước ban từ tằng " . Dẫn giải : Phép huyền diệu rộng lớn soi khắp cùng thấu hiểu cuộc sống Trần gian lành dữ, luật Ðạo Trời phán xét công bình tội đọa, phước ban không tăng giãm bởi cân chuẩn tắc từ Ðạo Luật Thiêng Liêng, kỳ diệu ở chỗ không Tòa án, không Luật sư biện hộ và cũng không nhà tù cải tạo, thế mà Nhân loại kính trọng Ðức tin làm lành tránh ác, bởi tự lương tâm phán xét như luật Trời hữu sinh . Chú niệm 10 : " Thượng chưởng tam thập lục Thiên, Tam Thiên Thế Giái ". Thánh ca : " Trên soi ba sáu [ 36 ] cung Trời , Ba ngàn thế giới cũng cầm trong tay " . Dẫn giải : Trên thượng giới Chí Tôn chưởng quản ba mươi sáu Thiên Cang [ 36 Cung Trời ] và Tam Thiên Thế Giái [ 3000 ] . Chia thành : Ðại Thiên thế giới, Trung Thiên thế giới và Tiểu Thiên thế giới . Ba mươi sáu Thiên Cang là Ba mươi sáu cõi Thiên tào ấy là căn bản của Thiên Cang, mỗi cõi có một vị Thiên Quân chưởng quản . Ba ngàn Thế giới được chia cho Thiên Tiên một ngàn, Ðịa Tiên một ngàn và Nhơn Tiên một ngàn . 36 Chưởng Quản Thiên Cang : 1 - Thiên Khôi Cao Viển . 2 - Thiên Càn Huỳnh Chơn . 3 - Thiên Cơ Hư Xương . 4 - Thiên Gian Kỷ Xương . 5 - Thiên Vọng Tốc Công Hiến . 6 - Thiên Hùng Thi cối . 7 - Thiên Mảnh Tôn Ất . 8 - Thiên Oai Ly Báo . 9 - Thiên Anh Thâu Nghĩa . 10 - Thiên Thới Trần Khảm . 11 - Thiên Phú Lê Tiên . 12 - Thiên Mảng Phương Bảo . 13 - Thiên Cô Thiền Tú . 14 - Thiên Thương Lý Hồng Nhơn . 15 - Thiên Huyền Vương Long Hậu . 16 - Thiên Thiệp Ðăng Ngọc . 17 - Thiên Ám Sỹ Tân . 18 - Thiên Hản Tà Chánh Ðạo . 19 - Thiên Không Ðiển Thông . 20 - Thiên Tốc Ngô Hốt . 21 - Thiên Vi Sử Tư Thành . 22 - Thiên Sác Nhiêm Lai Sính . 23 - Thiên Vi Hồng Thanh . 24 - Thiên Cựu Ðơn Bá Châu . 25 - Thiên Thôi Cao Khảo . 26 - Thiên Thọ Chúc Thành . 27 - Thiên Kiêm Vương Hổ . 28 - Thiên Bình Bốc Ðông . 29 - Thiên Tội Giao Công . 30 - Thiên Tổ Ðường Thiên Chánh . 31 - Thiên Ðại Thân Lễ . 32 - Thiên Lao Văn Xáng . 33 - Thiên Huệ Trương Trì Hùng . 34 - Thiên Bạch Tất Ðức . 35 - Thiên Khóc Lựu Ðại . 36 - Thiên Xão Trình Tam Ích . Ðức Chí Tôn truyền giảng trong Thánh Ngôn rằng : " Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong vật chất mà ra thảo mọc đến thú cầm, loài người phải chuyển kiếp ngàn ngàn, muôn muôn lần mới đến địa vị Nhơn phẩm. Nhơn phẩm nơi thế nầy còn chia ra nhiều phẩm nữa, như hạng Ðế Vương nơi trái địa cầu 68 nầy chưa đặng vào bực chót của địa cầu 67. Trong địa cầu 67 nhơn loại cũng phân ra nhiều đẳng thứ, được xem như mỗi kiếp sinh đều chuẩn bị luân hồi và thăng hoa còn tùy chúng sanh định đoạt . Sự phúc lạc và quí trọng của mỗi địa cầu càng tăng thêm mãi cho tới Ðệ Nhứt Cầu rồi Tam Thiên Thế Giái. Qua khỏi Tam Thiên Thế Giái thì mới đến Tứ Ðại Bộ Châu. Qua Tứ Ðại Bộ Châu mới vào đặng Tam Thập Lục Thiên . Chú niệm 11 : " Hạ ốc thất thập nhị Ðịa, Tứ đại bộ châu " . Thánh ca : " Dưới cai quản bảy mươi hai [ 72 ] từng đất , Lại xem luôn bốn hướng lớn lao ". Dẫn giải : Ðấng Tạo hóa, nắm bảy mươi hai [ 72 ] Ngôi Ðịa Sác và Tứ Ðại Bộ Châu lớn trong cõi Trần Hoàn Thế Giới . Bảy mươi hai ngôi Ðịa sác ấy mỗi ngôi có một vị Tinh Quân chưởng quản . Bảy mươi hai ngôi Ðịa sác cũng tùng mạng lịnh nơi Bắc Ðẩu mà thi hành theo bổn phận trong Càn khôn Võ trụ và cai quản luôn Tứ Ðại Bộ Châu như : - Ðông Thằng Thần Châu . - Tây Ngưu Hạ Châu . - Nam Thiên Bộ Châu . - Bắc Cú Lư Châu . 72 Chưởng Quản Ngôi Ðịa Sác trong Tứ Ðại Bộ Châu : Ðông Thằng Thần Châu : 1 - Ðịa Khôi Trần Kế Chơn . 2 - Ðịa Sác Huỳnh Kiến Chơn . 3 - Ðịa Vỏng Ðoàn Thành . 4 - Ðịa Kiệt Hồ Bá Nhan . 5 - Ðịa Hùng Lỗ Tụ Ðức . 6 - Ðịa Oai Tu Thành . 7 - Ðịa Anh Tôn Tường . 8 - Ðịa Kỷ Vương Bình . 9 - Ðịa Mảnh Bá Hửu Hoạn . 10 - Ðịa Chi Hoa Cao . 11 - Ðịa Chanh Khảo Cao . 12 - Ðịa Tịch Lý Toại . 13 - Ðịa Hạt Ly Hoành . 14 - Ðịa Cường Hạ Tường . 15 - Ðịa Ám Dư Trung . 16 - Ðịa Phụ Bảo Lương . 17 - Ðịa Hồ Hổ Chi . 18 - Ðịa Tá Huỳnh Bành Khánh . Tây Ngưu Hạ Châu : 19 - Ðịa Hưu Trương Kỳ . 20 - Ðịa Linh Quách Kỷ . 21 - Ðịa Phó Kim Nam Ðạo . 22 - Ðịa Vi Trần Nguơn . 23 - Ðịa Huệ Xá Khôn . 24 - Ðịa Ban Tang Thành Ðạo . 25 - Ðịa Mạc Châu Canh . 26 - Ðịa Xương Tề Công . 27 - Ðịa Cường Hoách Chi Nguơn . 28 - Ðịa Phi Diệp Dung Trung . 29 - Ðịa Cẩu Cố Tông . 30 - Ðịa Xảo Lý Xương . 31 - Ðịa Minh Phong Kiết . 32 - Ðịa Tấn Từ Kiết . 33 - Ðịa Thối Phàm Hoán . 34 - Ðịa Mảnh Trác Công . 35 - Ðịa Thoại Khổng Thành . Nam Thiên Bộ Châu : 36 - Ðịa Châu Giao Kim Tú . 37 - Ðịa Ân Ninh Tam Ích . 38 - Ðịa Di Dự Trí . 39 - Ðịa Lý Ðông Tranh . 40 - Ðịa Tuấn Viên Ðảnh Tường . 41 - Ðịa Lạc Uông Tường . 42 - Ðịa Thiệp Canh Nhân . 43 - Ðịa Tốc Hình Tam Sang . 44 - Ðịa Trần Khương Trung . 45 - Ðịa Kế Khổng Thiên Châu . 46 - Ðịa Ma Lý Dược . 47 - Ðịa Yêu Thiên Cung . 48 - Ðịa U Ðoạn Thanh . 49 - Ðịa Phụ Môn Ðạo Chánh . 50 - Ðịa Tịch Tổ Tâm . 51 - Ðịa Không Tiêu Ðiển . 52 - Ðịa Cô Ngô Tử Ngọc . 53 - Ðịa Kim Khuôn Ngọc . 54 - Ðịa Ðăng Thới Công . Bắc Cú Lư Châu : 55 - Ðịa Giác Long Hổ . 56 - Ðịa Tư Tống Lộc . 57 - Ðịa Tán Quan Bân . 58 - Ðịa Bình Long Thành . 59 - Ðịa Tốn Hùng Ô . 60 - Ðịa Nô Không Ðạo Lảnh . 61 - Ðịa Sác Trương Hoán . 62 - Ðịa Ác Lý Tình . 63 - Ðịa Xú Từ Sơn . 64 - Ðịa Số Các Phương . 65 - Ðịa Âm Tiêu Long Lân . 66 - Ðịa Hình Tấn Tường . 67 - Ðịa Tán Võ Viển Công . 68 - Ðịa Liệt Phan Bông . 69 - Ðịa Kiện Diệp Cảnh Xương . 70 - Ðịa Bao Tất Hóa . 71 - Ðịa Tắc Tôn Kiết . 72 - Ðịa Cẩn Trần Mộng Canh . Chú niệm 12 : " Tiên Thiên, Hậu Thiên, Tịnh dục Ðại Từ Phụ " . Thánh ca : " Chủ Trời Trước, chủ Trời sau , Do luật động tịnh mang ơn cha lành " . Dẫn giải : Ngôi Tiên Thiên có trước đời Hồng hoang, ngôi Hậu Thiên có sau khi Trời đất đã định rồi. Ðại Từ Phụ trên ngôi Thiên Ðế từ thời trước đến thời sau cũng một Ðấng Cha lành trong Càn Khôn Thế giới với sự yên lặng để lấy sức háo sinh nuôi dưỡng và thương yêu vạn vật muôn loài như nhau và [ Tịnh Dục ] trong sách Trung Dung dạy rằng : " Vạn vật tịnh dục, nhi bất tương hại ". Ý nói : Muôn vật đều sanh mà không giết hại lẫn nhau . Chú niệm 13 : " Kim ngưỡng, cổ ngưỡng Phổ Tế, Tổng Pháp Tông " . Thánh ca : " Xưa nay một dạ tín thành , Qui hồi các pháp nhơn sanh về lành " . Dẫn giải : Ðời nay và đời xưa cùng một dòng sinh tín ngưỡng, Ðức tin vẫn trên lưu truyền nhờ có Ðấng Thượng Ðế cầm quyền công lý phân minh, Phổ độ và bảo thủ, truyền bá mọi pháp môn. NGƯỜI đức rộng háo sanh muôn loài và NGƯỜI hiện hóa qua nhiều hình thể lập giáo khác nhau, tất cả mọi sinh thành cùng một Ðấng tối thượng . Luật Ðạo chính truyền vẫn còn đó và nguyên vẹn, trước sau không thay đổi, luật Trời trên mục đích phụng sự nhơn sanh và gợi nhớ qui hồi cựu vị mà Ðấng Chúa Cha hằng mong mỏi . Chú niệm 14 : " Nãi Nhựt Nguyệt Tinh Thần chi quân , Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ " . Thánh ca : " Cha Trời sanh Tam Quang Tam Bửu , Hiệp Ngũ chi thống nhựt Ðạo mầu " . Dẫn giải : Ðức Thượng Ðế điều hành vũ trụ, sai bảo trên không gian như mặt Nhựt, mặt Nguyệt, Tinh tú phân định ngày đêm sáng tối theo từng sát na vận hành, biến đổi tiếp nối không ngừng, NGƯỜI cũng là Chủ Tể của Thánh, Thần, Tiên, Phật và toàn linh, nên Thượng Ðế tuyên bố từ khởi đầu khai Ðạo rằng : " Trên Trời làm chủ một mình Ta , Nhánh nhóc chia Ba cũng một Già . Phải mượn nhiều ngôi mà giáo Ðạo , Xét coi cho kỷ có ai mà ? . Cha Trời sanh hóa vạn vật muôn loài nhờ có Tam Quang [ Ba thứ sáng mặt Trời, Trăng và Tinh Tú, và Tam Bửu: Tinh, Khí, Thần ] . Ðức Chí Tôn là Chủ của Tam giáo, Ngũ chi và nay NGƯỜI công bố thành một Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ vô biên . Chú niệm 15 : " Trạm tịch chơn đạo , Khôi mịch Tôn nghiêm " . Thánh ca : " Ðạo Trời mịt mịt cao sâu , Ngôi Thầy, Cha dạy con về nẻo chơn ". Dẫn giải : Trong lặng lẽ, Hư vô có nền Chơn Ðạo rộng lớn minh mông, do Ðấng Tôn Nghiêm lo toan cứu rỗi toàn linh . Ðạo Trời mịt mịt như trạng thái tĩnh mà lại cao sâu bởi do động biến hóa vô cùng tận, như không thấy ai xây dựng lại thành hình và thay cũ đổi mới, bảo cổ canh tân liên tục cho phù hợp với thời gian . Chú niệm 16 : " Biến hóa vô cùng , Lữ truyền Bửu Kinh dĩ giác thế " . Thánh ca : " Chơn thần Thầy hóa muôn muôn , Ði truyền kinh báu quí nhơn ngọc ngà " . Dẫn giải : Ðạo Trời biến hóa và chuyển đổi theo vận tốc dung hòa để phù hợp từ cũ sang mới, nhưng mọi việc được hoàn thành rất nhanh chóng . Lưu hành Kinh Ngọc quí báu, truyền bá khắp cùng thế giới và công bố Ðạo Trời cho muôn loài biết thấu, trợ đời thức tĩnh và giúp người ngộ Ðạo, những lữ hành Ðạo sĩ lên đường truyền loan tin mừng Bửu Kinh đã đến thế gian, chơn truyền muôn pháp sáng như ngọc ngà, kêu gọi vạn vật muôn loài đến nhận lãnh phương tiện giải thoát ra khỏi mê muội . Chú niệm 17 : " Linh oai mạc trắc, Thường thi thần giáo dĩ lợi sanh " . Thánh ca : " Chuông giác ngộ giọng kêu huyền diệu , Giáo dẫn đời hữu ích quần sanh ". Dẫn giải : Ðức Thượng Ðế uy linh tột cùng, tính đức oai nghiêm chẳng lường, Ðấng dìu dẫn muôn loài qua lời dạy diệu mầu như Thánh Ngôn và Thi văn, nhằm trợ lực chúng sanh hiểu Ðạo biết Ðời mà tu hành đạt vị . Ðấng mượn tiếng chuông huyền linh để gọi mời quần sanh tìm phương độ rỗi hữu ích . Chú niệm 18 : " Hồng oai, Hồng từ , Vô cực, vô thượng " . Thánh ca : " Oai linh từ thiện ơn Trời , Bao la cao rộng không ranh không bờ " . Dẫn giải : Ðức uy linh lớn, Từ bi lớn, Ðức cao không cùng, Tình yêu thương của NGƯỜI lòng lọng vô biên, không bực nào sánh được vì tính cao thượng của thể Pháp . Ðấng hữu thể toàn thiện trải rộng không gian vô bờ bến để hy vọng muôn loài tiếp nhận oai Thiên mà thành như Ðấng . Chú niệm 19 : " Ðại Thánh, Ðại nguyện, Ðại Tạo Ðại Bi " . Thánh ca : " Ðức Thánh rộng thệ nguyền ơn lớn , Ân tạo Trời bí ẩn bí quan " . Dẫn giải : Ðại Thánh mở rộng thênh thang, Ðại nguyện bao la đại ái, Ðại bi hỉ xả vô cùng, Ðức Thánh tạo hóa thế giới đại đồng, phụng sự muôn loài là nghĩa vụ lớn, Ðấng Tạo hóa vẫn trong âm thầm xây dựng và bồi đắp sự hiện hữu . Chú niệm 20 : " Huyền Khung Cao Thượng Ðế , Ngọc Hoàng tích phước hựu tội . Ðại Thiên Tôn " . Thánh ca : " Thượng Thiên trên cái khung đen , Ngọc Hoàng xá tội ban ơi cầm quyền " . Dẫn giải : Vồm Trời cao vòi vọi thâm thẩm có Ðức Ngọc Hoàng cầm quyền cứu rỗi ban phước và xá tội cho cả vạn vật muôn loài . Ðấng là kho tàng Ðức tin rộng lớn chứa phước lành ân ban cho nhơn sanh đồng cộng hưởng và Ðấng lập ra phép Hựu Tội bao dung . Ðấng Ngọc Hoàng là Ðại Thiên Tôn mới có uy linh ân ban tứ phước cho nhơn sanh . Sách Âu học còn luận về Huyền Khung : " Huyền khung bỉ thương tắc xưng Thượng Ðế ". Huyền khung thửa sanh đều xưng là Thượng Ðế. Ðức Ngọc Hoàng ban phước tha tội là vị Ðại Thiên Tôn, ngày thửa sanh ấy Trời che phủ khắp cả thế giới không còn chi trên cả nên mới gọi là [ Cao Thượng Ðế Ðại Thiên Tôn ] . Ngọc Hoàng khai mở dòng Ðạo từ phương đông biến hiện hữu thể hòa nhập Phương Tây ứng dụng phù hợp phong hóa thế gian, nhưng trên thực tế dòng Ðạo vẫn là nguyên thủy. Ngày nay sự giao lưu, suy nghĩ của loài người tuy có gần nhau nhờ lý luận, Khoa học, văn hóa, ngôn ngữ, cách nhìn và cảm nhận, nhưng vẫn trong sự giới hạng vì tính năng của con người chưa vượt qua tầm háo sinh của Ðấng Tối Thượng . Chú niệm : " Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát " [15] . Ðêm 15 tháng 02 Ðinh Hợi [ 1947 ] Ðức Ngự Mã Thiên Quân [ Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ] truyền dạy rằng : " Thánh ý của Ðức Chí Tôn khai mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt là muốn dung hòa tâm lý toàn cả con cái của Người để cứu vãn trọn 92 ức nguyên nhân, vì thể mà bị sa nơi đây. CHÍ TÔN đã đại từ đại bi chỉ rõ căn nguyên và ban ơn cho ta, dạy dỗ cho ta để đoạt ngôi vị là phải trau luyện Tinh hiệp với Khí, Tinh Khí huờn Thần, là cơ huyền bí để mà đắc đạo vậy ..... " . Ðêm 15 tháng 03 năm Ðinh Hợi [ 1947 ] Ðức Hộ Pháp Truyền Bí Pháp dạy rằng : " Chúng ta thấy Ðại Từ Phụ lấy ba Tôn giáo: Nho, Thích, Ðạo làm cơ quan duy nhứt, dầu về phần Thiêng Liêng hay hữu hình cũng vậy để làm bí mật chơn truyền dìu dắt linh hồn và thi hài của chúng ta và là một phương pháp đoạt kiếp giải thoát linh hồn. Nho lấy Nhơn nghĩa làm căn bản, Ðạo lấy công chánh làm căn bản. Thích lấy bác ái từ bi làm căn bản. Ba triết lý ấy hiệp lại vừa lo phần đời và phần Ðạo, xác hồn chúng ta đi đến tận con đường mà Ðức Chí Tôn đúng chờ đợi các con cái hiệp một cùng Người ... " . Dẫn giải : Chí tâm thành kỉnh hướng vọng khấn nguyện trước Ðức Chí Tôn, lòng thành tín ngưỡng Ðấng toàn năng cao cả tuyệt đối, Tiên Ông Giáo chủ Phật, Tiên, Thánh, Thần bởi đức trọng cứu rỗi vạn vật muôn loài đồng chứng quả . Thượng Ðế thương yêu Nhơn loại, lấy thân hạ mình vào bậc thấp hèn như Tiên Ông chứng quả và lấy Hồng danh Cao Ðài lập thành chế độ công bình, Ðạo vị nhân sinh . Theo chú niệm trên : Ðức Cao Ðài Tiên Ông đề ra mục đích và tôn chỉ rất rõ, qui Tam Giáo và hiệp Ngũ Chi thành Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ và đích thân NGƯỜI làm Giáo Chủ Thiêng Liêng . [15] - Ba lạy hướng về Ðức Chí Tôn như sau : [ Mỗi lạy 4 gật X 3 lạy = 12 gật ] nhớ mỗi lạy phải chú niệm : " Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát " . THÍCH GIÁO Nhiên Ðăng Cổ Phật Chí Tâm Qui Mạng Lễ [ Giọng Nam Xuân ] " Hỗn độn Tôn Sư , Càn Khôn Chủ Tể . Qui Thế giái ư nhất khí chi trung , -c trần huờn ư song thủ chi nội . Huệ đăng bất diệt , Chiếu Tam thập lục thiên, chi quang minh . Ðạo pháp trường lưu , Khai cửu thập nhị Tào chi mê muội . Ðạo cao vô cực , Giáo xiển hư linh . Thổ khí thành hồng , Nhi nhứt trụ xang thiên . Hóa kiếm thành xích , Nhi tam phân thác địa . Công tham Thái cực , Phá nhứt khiếu chi huyền quang . Tánh hiệp vô vi , Thống tam tài chi bí chỉ . Ða thi huệ trạch , Vô lượng độ nhơn . Ðại bi Ðại nguyện , Ðại Thánh Ðại Từ . Tiên Thiên chánh Ðạo , Nhiên Ðăng Cổ Phật . Vô vi xiển giáo Thiên Tôn " . Niệm : Nam mô Nhiên Ðăng Cổ Phật Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát . Chú niệm 1 : " Hỗn độn Tôn Sư, Càn Khôn Chủ Tể " . Thánh ca : " Ngôi Tôn sư sanh từ vô thỉ , Chủ Càn khôn nhiếp lý âm dương ". Dẫn giải : Vũ trụ ở vào thời kỳ mù mù mịt mịt, minh minh, mông mông chưa có trật tự. Thì Khí Hư Vô là Ðức Nhiên Ðăng nguyên Tôn sư sanh thời hồng hoang trống rỗng gọi thời hỗn độn, NGƯỜI vâng lịnh Trời làm Chủ tể một cảnh Càn Khôn, Ngài đem bản thể Ðạo Hư Vô, vạch ra mục đích sống cho Ðời biết Ðạo, Ðạo hữu thể từ thời Vô Cực, Hỗn Nguơn . Ngài là một Ðấng Thầy trong đời hỗn độn, Người đến khi Trời Ðất đã phân ngôi, Ðạo thành từ Âm Dương do khí Hư vô biến hóa và Ngài cằm quyền ba ngàn thế giới qui thành một mối khí Hư Vô, bởi vậy Ðấng là Càn Khôn Chủ Tể . Ngôi Tôn Sư là bậc THẦY của muôn loài, NGƯỜI sinh ra từ khi trống không cho đến ngày thành tựu làm Chủ Càn khôn thế giới và vận chuyển Âm Dương hóa sinh, khi mọi loài hóa sinh hoàn chỉnh Ðức Tôn Sư [ Thượng Ðế ] mới lập ra phương cứu độ Từ Bi trước tiên, để dạy sự lành và truyền lưu đời đời, còn gọi là Phật Giáo nguyên thủy . Chú niệm 2 : " Qui thế giái ư nhứt khí chi trung -c trần huờn ư song thủ chi nội " . Thánh ca : Cả thế giới qui vào một mối , Khắp hồng trần nắm chặc trong tay ". Dẫn giải : Ðấng gom thâu tất cả mọi sự sống lập thành ba ngàn thế giới [ 3.000 ] và nắm tất cả cõi trần hoàn, vạn vật, muôn loài vào tay . " -c trần huờn " là trung tâm của thất thập nhị địa cầu [ 72 ], tọa lạc ở cõi hậu thiên, nhờ mạch sống môi sinh của Âm Dương mà được chi phối hợp điều hòa, dưới sự che chở bởi Khí Hư Vô . Chú niệm 3 : " Huệ đăng bất diệt , Chiếu Tam thập lục Thiên, chi quang minh " . Thánh ca : " Ðèn trí tuệ cháy hoài không tắt , Vẫn sáng soi ba sáu [ 36 ] cõi Trời " . Dẫn giải : Ðèn Phật vẫn cháy sáng rực rỡ không tắt, không lu, luôn luôn chiếu rọi hướng vào ba mươi sáu cõi Trời . Khối Ðại Linh Quang là Ðèn Phật được thắp sáng và cháy mãi soi rọi vào miền vô tận, Huệ đăng đã thắp sáng 36 cõi Trời, huyền diệu . Ngày nay chân lý trong nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ bao quát và trải rộng tính ý niệm Thần học của đăng [ đèn ] như đèn Trời hệ trọng . - Thiên đăng thắp lên từ Trời hóa sinh . - Nhiên đăng thắp lên từ Ðại Ðạo linh hồn bất diệt . - Thái cực đăng thắp lên từ Thiên bàn trí não . - Vô cực đăng thắp lên từ Tâm linh Bát Nhã . Chú niệm 4 : " Ðạo pháp trường lưu , Khai cửu thập nhị Tào chi mê muội " Thánh ca : " Ðạo pháp như nước chảy cuộn dòng , Khai khiếu các nguyên nhân hắc ám " . Dẫn giải : Mạch Ðạo pháp thông suốt như dòng nước vẫn chảy liên tục an lành và ẩn hiện tùy hoàn cảnh cứu độ cho chín mươi hai ức [ 92 ] Thiên Tước [ linh căn ] xuống cõi thế nhưng còn đương mê muội chưa tĩnh giấc . Người tu thực hiện Ðạo tánh không khó nhưng đến trình độ kiến tánh nào phải dễ. Kiến tánh thành tựu nhờ thời gian khai thông mọi bế tắc của dòng đời, khi ấy ngộ tính rực sáng, mọi linh hóa sẽ quán triệt tự thành Bát Nhã . Ðến thời kỳ Khải mở Phổ Ðộ. Ðức Diêu Trì Kim Mẫu lập thế hóa sinh trần gian cho 96 ức nguyên nhân [ vạn vật muôn loài ] nhập thế và phân chia thứ cấp hóa linh, học Ðạo tu dưỡng tánh và bảo tồn linh căn để có ngày về quê xưa ngôi cũ [ Thiên Ðàng ] . Khải mở Phổ Ðộ có ba thời kỳ như sau : - Nhứt Kỳ Phổ Ðộ : Có 2 ức nguyên nhân đắc thành Ðạo trở về cõi Thiên Ðàn . - Nhị Kỳ Phổ Ðộ : Có thêm 2 ức nguyên nhân đắc thành chánh quả trở về cội xưa ngôi cũ . - Tam Kỳ Phổ Ðộ : 24/12/1925 đích thân Ðức Chí Tôn ra thân độ rỗi 92 ức nguyên nhân còn lại đang bị đọa lạc nơi sông mê trần khổ . - Từ đây 92 ức nguyên nhân muốn về cội xưa ngôi cũ phải đem hết lòng dưỡng tánh học Ðạo thắng khổ và thật sự muốn chia tay cảnh sông mê, để vào trường thi Ðại Hội Long Hoa do Ðức Phật Di Lặc độ rỗi không bỏ một nguyên nhân nào . Chú niệm 5 : " Ðạo cao vô cực , Giáo xiển hư linh " . Thánh ca : " Ðạo vốn gọi thậm thâm diệu pháp , Giáo lý truyền nhờ cái thông linh " . Dẫn giải : Ðạo cao thâm vô cùng tận, Ngài lập Ðạo Phật dạy chúng sanh Hư Vô [ trống không ] diệu Pháp . Ðại Ðạo từ nguyên thủy của không ra có và hóa sinh vạn vật muôn loài từ thấp nhứt đến tầng cao độ vô lường, truyền dạy cái Hư không chi khí, đến khắp cùng cõi hằng sống và lưu truyền muôn kiếp vẫn một Ðấng Ðức Tin . Ðạo vốn linh diệu Thể Pháp, Bí Pháp là nền tảng vững bền của Ðạo tạo Ðời và nhờ lời truyền giảng quý Ðấng khai khiếu tinh thông Thần học mở ra cho nhân loại những nhận diện vi diệu hiện hữu khắp cùng, không còn trong ẩn diệu như thời hồng hoang . Ðức Chí Tôn truyền giảng trên tám vạn bốn ngàn pháp môn khác nhau nhưng tất cả vẫn một con đường Ðạo thắng khổ, nhiều pháp môn như thể để tạo môi trường cấy sinh cho thích hợp từng căn cơ, nếu nhơn sanh thiếu vắng căn cơ Tâm Phật sẽ bị rơi ngoài khoảng cách quán chiếu pháp môn, tâm hồn trở nên bơ vơ lạc lối vào đường trần khổ và tiếp tục gánh cảnh luân hồi . Chú niệm 6 : " Thổ khí thành hồng , Nhi nhứt trụ xang thiên " . Thánh ca : " Vận tam muội phúng nên hồng , Ly trung hiệp nhứt, điều khôn nên Càn " . Dẫn giải : Nguyên khí đức hồng danh Thượng Ðế bay ra hóa dựng thành nền tảng một cây cột chống vững bầu Trới, và " Nhứt trụ xang thiên " một tiếng ầm vang hoá thành trụ chống đỡ bầu Trời, như vi diệu của đường xương sinh sống là một trong những kiến trúc tạo ra thân thể vạn vật muôn loài . Vận dụng tư tưởng vào chánh Ðạo [ tam muội ] lập pháp thiền định để hoá đổi từ quẻ Càn thành Khảm Ly hiệp nhứt tính mạng sống sau khi luận lý khí hậu thiên thành tựu. Muốn đạt đến thiền định phải bảo trọng Ðạo nguyên căn và hợp nhứt hoán đổi từ Ly nên Càn . Chú niệm 7 : " Hóa kiếm thành xích , Nhi tam phân thác địa " . Thánh ca : " Kim khí luyện tây viên đến mực , Dưới đơn điền chiếc Khảm nên Khôn " . Dẫn giải : Hóa gươm làm nên thước, mà lấy ba phân đở vững giềng đất không rúng động, đó là Ðạo pháp vô biên . Bửu kiếm biến thành cây thước, phâm ba đoạn lập thành địa giới, dù cho kim khí tu luyện đến mức cũng đắc thành, muốn đắc thành phải có Phương Châm Luyện Kỷ [ truyền Pháp của Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ] khởi động đơn điền hoá Khảm nên Khôn [ thuật ngữ ] . Chú niệm 8 : " Công tham Thái Cực , Phá nhứt khiếu chi huyền quang " . Thánh ca : " Công đức Phật sánh ngôi Thái Cực , Phá khiếu linh đặng một mới mầu " . Dẫn giải : Ðức Nhiên Ðăng khi mở Ðạo Phật công đức ấy sánh như Ngôi Thái Cực, Người lập giáo nuôi dưỡng, giáo hóa quần linh và kiến tạo thế giới thăng hoa, Ðức Thái Cực ca ngợi công đức nầy nhứt là đem cái diệu huyền truyền loan và đem ánh sáng quang minh đến cho muôn loài, công đức nầy được trọng như Ðấng háo sanh. Mỗi khi nhơn sanh mở được cửa Thiên Nhãn là đắc thành Ðạo, bởi đây là ánh sáng mầu nhiệm của Pháp Ðáp, như Trời sinh khiếu linh Thái Cực và Ðất sống loài người sinh khiếu linh Huyền Quang . Chú niệm 9 : " Tánh hiệp vô vi , Thống Tam Tài chi bí chỉ " . Thánh ca : " Tánh hòa với Thể Thiêng Liêng , Thiên, Ðịa, Nhơn gồm một mối cao siêu " . Dẫn giải : Thiên tánh hiệp Vô Vi " Thái Cực Hư Vô " tóm hết Trời, Ðất, Người là ý mầu nhiệm của Tam tài, tất thảy đều qui về một mối . Trời ban cho loài người Thiên tánh hiệp vô vi và trong thân sống có Tam tài của phần Trời, Ðất và Người. Khi nhân loại đạt được Thể Pháp và Bí Pháp sẽ làm chủ được linh thể tự tại như Trời . Chú niệm 10 : " Ða thi huệ trạch , Vô lượng độ nhơn " . Thánh ca : " Nhơn sanh nhuần gội ân dày , Hằng hà người đồng vượt khỏi bến mê " . Dẫn giải : Ðức Nhiên Ðăng ban ân lành, như Trời mưa gội nhuần độ rỗi nhân sanh, công đức vô bề bến không biết đâu mà đo lường, ân đức ấy không sử sách nào ghi chép, Người xuất hiện đã nhiều kiếp vẫn một vô lượng cứu nhơn sanh ra khỏi bến mê . Chú niệm 11 : " Ðại bi đại nguyện , Ðại Thánh Ðại Từ " . Thánh ca : " Bi quan, bi mẫn ... thệ nguyền , Ðức Thánh sáng chói, đức Nhơn rộng dày " . Dẫn giải : Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật lấy sự thương yêu vô tận để đãi ngộ ân cần với chúng sanh, thánh đức của NGƯỜI rực rỡ, đức nhơn thì từ bi mênh mông, đại nguyện của NGƯỜI phụng sự chúng sanh về cõi linh diệu . - Sách có câu : " Phật ái chúng sanh, như Mẫu ái từ ". Phật thương chúng sanh như Mẹ thương con . Chú niệm 12 : " Tiên Thiên Chánh Ðạo , Nhiên Ðăng Cổ Phật . Vô Vi Xiển giáo Thiên Tôn " . Thánh ca : " Nên Ðạo vốn từ nơi Nhứt Khí , Cổ Phật Nhiên Ðăng tạo tuyệt mầu . Dạy Ðạo ấn chứng vô vi , Tổ sư Xiển giáo thiệt vì Thiên Tôn " . Dẫn giải : Ðức Nhiên Ðăng lập ra Ðạo Phật truyền bá Tiên Thiên Chánh Ðạo vô vi biến hữu vi, hoá không âm thanh sắc tướng, NGƯỜI là vị Phật tối cổ hồng danh Nhiên Ðăng là ngọn đèn Trời Chân lý và Ðạo hiệu " Xiển giáo Thiên Tôn " là truyền giảng chân lý Ðạo uyên nguyên vô cùng tận . Ðấng là vốn từ Nhứt Khí sinh ra [ Thượng Ðế ], chính là cội nguồn của hoá sinh vạn vật và muôn loài . Chú Niệm : " Nam mô Nhiên Ðăng Cổ Phật Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát " [16] Dẫn giải : Ðức Thượng Ðế tá danh Nhiên Ðăng Cổ Phật [ Ðèn Trời Chân Lý uyên nguyên ] . [16] - Khi lạy hướng về Ðức Chí Tôn. Mỗi lạy 3 gật X 3 lạy = 9 gật và mỗi lạy niệm : " Nam mô Nhiên Ðăng Cổ Phật Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát " . TIÊN GIÁO Thái Thượng Chí Tâm Qui Mạng Lễ [ Giọng Nam Xuân ] Tiên Thiên khí hóa , Thái Thượng Ðạo Quân . Thánh bất khả tri , Công bất khả nghị . Vô vi Thái cực chi tiền , Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng . Ðạo cao nhứt khí , Diệu hóa Tam Thanh . Ðức hoán hư linh , Pháp siêu quần Thánh . Nhị ngoạt thập ngũ , Phân tánh giáng sanh . Nhứt thân ức vạn . Diệu huyền thần biến , Tử khí đông lai . Quảng truyền đạo đức , Lưu sa tây độ . Pháp hóa tướng tông , Sản Tất Viên, Phương Sóc chi bối . Ðơn tích duy mang , Khai Thiên Ðịa nhơn vật chi tiên . Ðạo kinh hạo kiếp , Càn khôn hoát vận . Nhựt nguyệt chi quang , Ðạo pháp bao la . Cửu hoàng tỉ tổ , Ðại Thiên Thế giái . Dương tụng từ ân , Vĩnh kiếp quần sanh . Ngưỡng kỳ huệ đức , Ðại Thần Ðại Thánh . Chí cực chí tôn , Tiên Thiên chánh nhứt . Thái Thượng Ðạo Quân , Chưởng Giáo Thiên Tôn . Niệm : Nam mô Thái Thượng Ðạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn . Chú niệm 1 : " Tiên thiên khí hóa , Thái Thượng Ðạo Quân " . Thánh ca : " Từ vô thỉ đã sinh Thái Thượng , Vốn thật là một khí Thinh thanh " . Dẫn giải : Ngôi Tiên Thiên hóa sinh khí Thái Hư, nguơn tụ ra khối nguyên khí Ðức Thái Thượng Ðạo Quân và khai lập Tiên giáo . Ðấng đã hóa thành nhiều kiếp đeo đuổi sự nghiệp độ rỗi chúng sanh, bởi thế người đời gọi là Ðấng Ngũ Lão . Chú niệm 2 : " Thánh bất khả tri , Công bất khả nghị " . Thánh ca : " Ðức Thánh khó gẫm khó suy , Công cao khó tưởng, tài cao khó bì " . Dẫn giải : Thánh đức của NGƯỜI vô cùng tận, không thể đong lường biết trước được, bởi công đức cao dày ấy chẳng thể nào nghị luận và ghi chép ra đặng, sự nghiệp Ðạo đức của Ðấng cao vòi vọi và quyền năng vượt ra ngoài trí lự của loài người, bởi thế mới có câu " Thánh bất khả tri " . Chú niệm 3 : " Vô vi cư Thái Cực chi tiền , Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng " . Thánh ca : " Từ vô thỉ Ðạo không hình tướng , Ðến Hậu Thiên siêu việt tuyệt mầu " . Dẫn giải : Ðạo nguyên từ Vô vi trước Ngôi Thái Cực, khi Trời đất chưa phân và đến lúc Trời đất mở rộng thì vô vi có trước, gọi là đời Hữu Thỉ [ có trước ] hóa sinh Ðức Thái Thượng là Ðấng bề trên của quý Ðấng Thiêng Liêng Phật, Tiên, Thánh, Thần, Nhơn và tiếp nối Hậu Thiên biến hoá sự sống . Chú niệm 4 : " Ðạo cao nhứt khí , Diệu hóa Tam Thanh " . Thánh ca : " Cao nhờ ngươn khí tinh anh , Chơn Thần trong sạch hóa hình Tam Thanh " . Dẫn giải : Một Khí Ðạo vượt ra ngoài không gian cao rộng, rực rỡ cả bầu Trời Ðầt, Thiêng Liêng công bố phép huyền diệu từ nay biến hóa Tam Thanh, Tam giáo và Tam sắc . - Tam Thanh : Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh . - Tam Giáo : Phật giáo, Tiên Giáo, Nho Giáo . - Tam Sắc : Vàng, Xanh, Ðỏ . Ðạo của Ðức Chí Tôn từ Nhứt Khí biến hóa ra Tam Thanh, Tam Giáo và Tam sắc trong hệ thống hành chánh Cửu Trùng Ðài, Chức sắc ba phái tương ứng đồng quyền, đồng phẩm trên một cấp và Họ Thánh đời nay được lưu truyền mãi mãi cho đến khi có Giáo Tông tiếp nối mới thay đổi Họ Thánh mới, riêng về Phái Nữ chỉ có một Họ Thánh là Hương [ Thánh Ngôn ] . Ví du : Một gia tộc đời có Họ là Gustave, tên là Meillon lập gia thất sinh con có cháu, đương nhiên lập tờ khai sinh lấy Họ gia tộc là Gustave để lưu truyền Họ gia tộc đời đời, còn đặt tên riêng cho mỗi cá nhân thì tùy theo ý nghĩa đẹp của nó . Sau đó ông Gustave Meillon theo Ðạo Cao Ðài, có đủ công phu đạo đức và công nghiệp Ðạo phi thường, được ân phong phẩm Lễ sanh phái Thượng như vậy từ đây mang Họ Thánh là Thượng Meillon Thanh và được lưu truyền trong gia tộc đời đời. Nếu ngày sau trong gia tộc nầy có người cầu phong đương nhiên được truyền lưu Họ Thánh là Thượng. Bởi thế trong nền Ðạo Cao Ðài mới có ba Họ Thánh [ Thái, Thượng và Ngọc ] là vậy . Chú niệm 5 : " Ðức hoán hư linh , Pháp siêu quần thánh " . Thánh ca : " Ðức trọng bởi Hư vô linh nghiệm , Ðạo cao vời trên các nhánh chi " . Dẫn giải : Ðạo đức của Ðấng sáng hơn cả Thần linh, Ðạo pháp vô tận hơn cả Tiên Thánh, Ðạo gốc Pháp cao siêu vời vợi trên mọi nhánh Chi. Có tất cả năm [ 5 ] Nhánh chi là : Phật Ðạo, Tiên Ðạo, Thánh Ðạo, Thần Ðạo, Nhơn Ðạo. Ðấng đức trọng bởi hư vô linh nghiệm tức là Chúa của Thánh thiện, Bồ tát Giác ngộ, Cứu rỗi và Giải thoát . Chú niệm 6 : " Nhị ngoạt thập ngũ , Phân tánh giáng sanh " . Thánh ca : " Tháng hai ngày vọng nhà Thương , Vô Cực Chơn Thánh phân thân giáng trần " . Dẫn giải : Năm thứ năm mươi hai, đời nhà Thương, nhằm ngày rằm tháng hai [ Nhị ngoạt thập ngũ ], Ðấng phân tánh giáng sanh thân phàm là Ðức Thái Thượng để phổ độ chúng sanh bởi thời nầy thường loạn lạc, nhơn sanh khốn khó vô cùng, NGƯỜI hướng dẫn Vua trị vì và dạy Dân biết Ðạo . Chú niệm 7 : " Nhứt thân ức vạn , Diệu huyền thần biến " . Thánh ca : " Một thân biến thiên hình vạn trạng , Một Chơn linh diệu hóa Thần Tiên " . Dẫn giải : Một mình mà hóa sinh muôn ức vạn linh, NGƯỜI lấy phép huyền diệu như Thần biến hóa khôn thiên . - Sách sử Ðạo chép rằng : " Ðời nào cũng có Ðức Thái Thượng giáng sanh như : Ðời vua Huỳnh Ðế có hiệu là Quảng Thánh Từ, đời vua Văn Ðế có hiệu là Nhiếp Ấp Tử làm quan Trụ Hạ Sử, đời vua Khương Vương có hiệu là Quách Thúc Tử và đầu đời Hớn có hiệu là Huỳnh Thạch Công, vì Ðấng sinh do phép biến hóa vô cùng " . Chú niệm 8 : " Tử khí đông lai, Quảng truyền Ðạo Ðức " . Thánh ca : " Tường vân bổng hiện phiá Ðông , Truyền kinh đạo đức giốc lòng độ nhân " . Dẫn giải : Lằng khí đỏ từ hướng Ðông bay ra loan truyền Kinh Ðạo đức . - Sách sử Ðạo chép rằng : " Ông Doãn Hi làm quan Lịnh Doãn bên ải Hàm Cốc biết xem mây gióng khí. Ngày kia trông thấy một vòng ngút đỏ tía từ hướng Ðông bay đến biết rằng có vì Thánh nhơn đến Ải, liền nghiêm chỉnh áo mão ra cửa mà tiếp rước. Chẳng bao lâu có Ðức Lão Tử cỡi Thanh ngưu bay đến, Ông liền vội vàng tiếp rước vào Ải đàm luận phép huyền diệu và được Ðức Lão Tử truyền giảng Ðạo Ðức Kinh hơn năm ngàn lời dư " . Chú niệm 9 : " Lưu sa tây độ , Pháp hóa tướng tông " . Thánh ca : " Thoạt qua tới phía Tây miền cát , Pháp Vô vi bỗng hóa Tướng tông " . Dẫn giải : Ðấng ở phía Tây độ rỗi nhơn sanh Trung Hoa rồi đi đến miền đất Lưu sa [ Cát chạy miền sa mạc Tây Á ], Ðấng cũng lấy phép huyền diệu hóa ra Tướng tông ông Huyền Nguyên, đến đâu Ngài cũng lấy Kinh Sám trong tâm giảng Ðạo độ đời, Ðấng còn để lại cho muôn đời dấu ấn Lão Tử Ðông Phương Giáo Chủ . Chú niệm 10 : " Sản Tất Viên, Phương sóc chi bối , Ðơn tích duy mang " . Thánh ca : " Trang Châu Phương Sóc sanh ra , Cũng đồng quan niệm với thời Lạc Quân " . Dẫn giải : Ngài Trang Tử sinh tại Trang Châu 298 qui tiên 369 trước Tây lịch. Người làm quan ở vườn Tất Viên nên người đời gọi là ông Tất Viên. Người truyền giảng giáo lý căn bản " Chí nhơn vô kỷ, Thần nhơn vô công, Thánh nhơn vô danh ". Ngài Trang Tử hoá thân Ðông Phương Sóc cùng thời bởi phép kim đơn huyền diệu, sinh thời Ngài Ðông Phương Sóc rất thông minh tu tại gia chứng quả nhờ phép thần thông [ Lá Ðào Ẩn Thân ] . Chú niệm 11 : " Khai Thiên Ðịa nhơn vật chi tiên , Ðạo kinh hạo kiếp " . Thánh ca : " Luyện đơn chỉ máy trường sinh , Ðạo trước Trời đất Nhơn sanh mới mầu " . Dẫn giải : Ðạo mở trước Trời đất, hoá sinh người rồi đến muôn loài, Ðạo trải rộng lưu truyền mãi mãi để hóa độ vạn linh . Ðạo trường sinh nhờ có phép Kim đơn cao trọng như là vị tổ của máy hóa sinh vạn vật muôn loài, [ Kim đơn là sự bền bỉ, sáng suốt ] . Chú niệm 12 : " Càn Khôn hoát vận , Nhựt nguyệt chi quang " . Thánh ca : " Càn Khôn chốt máy cao sâu , Âm Dương Nhựt Nguyệt thạnh suy tuần huờn " . Dẫn giải : Ðạo Trời xây vần lập thế vô tận, dụng mặt Nhựt mặt Nguyệt đem ánh sáng soi rọi hóa sinh dưỡng dục khắp cùng, một máy Trời vận hành chuyển động không phát âm thanh và cũng không ngừng nghĩ . Quý Ðấng đắc quả thành Ðạo nhờ dụng thuật ngữ " Nhựt nguyệt chi quang " luyện Ðạo trên căn bản của Thể Pháp và Bí Pháp, bởi đây là một biệt truyền bất lập thành văn . Chú niệm 13 : " Ðạo pháp bao la , Cửu hoàng tỉ tổ " . Thánh ca : " Ðạo pháp bao gồm Cửu tổ " . Dẫn giải : Ðạo pháp trên vồm Trời bao la và truyền ra mãi mãi không ngừng, ở miền Tỉ tổ vô tận có Ðấng Cửu Hoàng đang ngự triều điều khiển Ðại Ðạo của Càn khôn vũ trụ và NGƯỜI dạy bảo, sai khiến cả Cửu tổ của vạn vật muôn loài . Sách Dương Tử có nói : " Con người khi ở trong bụng mẹ, lúc Khí tượng hình thì có tỉ là nơi chuẩn bị để hấp thụ bên ngoài thiên nhiên trước nhứt, cho nên gọi là ông tỉ tổ ". Tỉ là mũi . Chú niệm 14 : " Ðại Thiên thế giái , Dương tụng từ ân " . Thánh ca : " Cõi Ðại Thiên ca tụng ân lành " . Dẫn giải : Vũ trụ nầy còn gọi là Ðại Thiên Thế giới, gồm có Tam Thiên : Thượng thiên, Trung thiên và Ðịa thiên. Ngoài ra còn có ba cõi Thượng giới, Trung giới và Hạ giới . Khi Ðức Thái Thượng Ðạo Quân hữu thể vào thời dương thì lời ca tụng ân lành được trỗi lên khắp cõi Ðại Thiên . Chú niệm 15 : " Vĩnh kiếp quần sanh , Ngưỡng kỳ huệ đức " . Thánh ca : " Hồng trần cứu vớt độ người, chúng sanh " . Dẫn giải : Trời cao thấu suốt Nhơn sanh muôn kiếp, nhơn sanh cũng đồng ngưỡng vọng cầu xin Ðấng bao dung ban truyền huệ đức để khởi đầu ra bể khổ và dứt chung cuộc hồng trần về ngôi cũ bình an. Quần sanh nhờ ân đức lớn vì Ðấng quyền năng cứu rỗi muôn loài . Chú niệm 16 : " Ðại thần đại thánh , Chí cực Chí tôn " . Thánh ca : " Thấu then Chí cực, Thần thành Kim Thân " . Dẫn giải : Ðại chơn linh tối thượng, Ðại Thánh mầu nhiệm và toàn thiện. Ðấng là Thượng Ðế hóa thân, cho nên Ðức Thái Thượng Ðạo Quân tôn vinh Thái Cực Chí Tôn. Ðấng truyền giảng giáo lý Ðại đức, Ðại tri, Ðại ái, Ðại lượng và Ðại hùng. Ðề cao tinh thần phổ độ và giáo hóa chúng sanh . Chú niệm 17 : " Tiên Thiên chánh nhứt , Thái Thượng Ðạo Quân . Chưởng Giáo Thiên Tôn " . Thánh ca : " Nền Ðạo mở từ khi Nhứt Khí , Chức Thiên Tôn chấp chưởng Thần Tiên " . Dẫn giải : Ðấng là Vương Tôn hiệu Tiên Thiên Chánh Nhứt . Ðạo Giáo gọi là Thủ Nhứt, Thích giáo goị là Qui Nhứt, Nho giáo gọi là Oai Nhứt. Cho nên Ðức Thái Thượng Ðạo Quân chưởng quản Ðạo giáo Thiên Tôn và Ðấng là sự hiện thể của vạn loại muôn đời, Ðấng Thái Thượng Ðạo Quân là Vua Trời quyền năng thâm thẩm, nắm tất cả nguyên lý tạo lập vũ trụ và hóa sinh vạn vật muôn loài . Ðức Chí Tôn dạy rằng : " Nhiên Ðăng Cổ Phật thị Ngã , Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã . Thích Ca Mâu Ni thị Ngã , Kiêm viết Cao Ðài " . Thiên thơ truyền rằng : " Duy tinh Duy nhứt ", Vũ trụ nầy chỉ có một Tôn giáo mà thôi, bởi thế Thượng Ðế đã truyền rằng : " Thiên đắc nhứt dĩ Thanh , Ðịa đắc nhứt dĩ Ninh . Nhơn đắc nhứt dĩ Thành " . Ðến lúc Trời, Ðất và Nhơn loại phải là một thì sự minh tịnh mới thành . Niệm : " Nam mô Thái Thượng Ðạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn " . - 3 lạy. Mỗi lạy 3 gật X 3 lạy = 9 gật, mỗi lạy niệm : Nam mô Thái Thượng Ðạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn " . NHO GIÁO Khổng Thánh Chí Tâm Qui Mạng Lễ [ Giọng Nam Xuân ] Quế hương nội điện , Văn thỉ thượng cung . Cửu thập ngũ hồi , Chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố . Bá thiên vạn hóa , Bồi quế thọ ư âm chất chi điền . Tự lôi trữ bính linh ư phụng lãnh , Chí như ý từ, tường ư ngao trụ . Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi hiếu , Thọ quốc mạch tất tiên ư trí chúa chi trung . Ứng mộng bảo sanh, Thùy từ mẫn khổ , Ðại Nhơn, Ðại Thánh, Ðại Hiếu, Ðại Từ . Thần văn, Thánh võ, Hiếu đức trung nhơn , Vương tân sách phụ . Nho Tông khai hóa , Văn Tuyên Tư Lộc . Hoằng nhơn Ðế Quân , Trừng chơn chánh quang . Bửu Quang từ tế Thiên Tôn . Niệm : Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn . Chú niệm 1 : " Quế hương nội điện , Văn thỉ thượng cung " . Thánh ca : " Ðầu Quê hương mùi bay thơm ngát , Gốc vốn là trên cõi thượng Thiên " . Dẫn giải : Thượng Cung có nội điện là nơi Ðức Văn Xương đang ở, có mùi quế hương thơm phức thoát ra, từ án thư và lam bào nhả ra mùi quế hương thanh cao để báo hiệu khởi truyền văn chương kinh sử. Mùi quế hương cao khiết ấy với những trang văn chương lời Thánh của Ðức Khổng Tử . Thượng cung có rất nhiều Tinh tú chỉ bổn mạng Thiêng Liêng và Quần linh, riêng ở vồm trời ấy có ngôi sao Thiên Trụ chính là nơi Ðức Văn Xương ngự, chốn ấy là Thượng cung rực rỡ ban truyền lời Thánh . Chú niệm 2 : " Cửu thập ngũ hồi , Chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố " . Thánh ca : " Chín lăm lần xuống xuống lên lên . Gieo trái Ðức, Văn chương, Nhơn nghĩa " . Dẫn giải : Ðức Văn Xương xuất Thượng Cung để nhận luân hồi độ chúng, Người xuống trần đến chín mươi lăm [ 95 ] kiếp sinh, để phụng sự trần bằng phương tiện gieo trái lành và lập đức Thánh nơi vườn văn thơ . Trong kinh điển Ðạo Thánh ghi chép toàn lời thiện. Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, bởi thế Ðạo Thánh lấy Kinh điển làm vườn gieo trái đức hạnh và lấy sự việc phúc lạc làm giống cấy sinh trái ngọt ngon, Người trồng tỉa và nâng niu đức hạnh như vật quí bấu để mai sau lưu truyền cho đời, bởi thế mới có Tâm điền, biết vun bồi cột quế thơm tho, để phụng sự quần linh đồng hưởng cái ân đức ấy . Ðức Khổng Tử lập trung tâm hạnh đường làm cơ sở giáo dục lấy Văn hóa làm căn bản khai phóng dân trí . Chú niệm 3 : " Bá thiên vạn hóa , Bồi quế thọ ư âm chất chi điền " . Thánh ca : " Trăm lần phải sanh sanh hóa hóa , Vun quế hòe, âm đức, tâm điền " . Dẫn giải : Trăm ngàn lần hóa thân cũng lấy đức âm chất để gieo vào ruộng [ Tâm Ðiền ], vun bồi cội quế nẫy sinh đời đời và gìn giữ sự đồng hưởng cái không cùng của ruộng đất quế thơm tho ấy . Người hiền nhân Ðạo đức vun bồi cây quế như công quả gieo âm chất hay âm đức là làm việc lành trong âm thầm không cần ai biết, cây quế ấy tiêu biểu cho sự cao quý và nhân đức của con người . Chú niệm 4 : " Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh " . Thánh ca : " Văn tự linh hơn sấm lôi , Linh hơn Linh Ðiểu mở thông Ðạo người " . Dẫn giải : Tự tiếng sấm phát ra ánh sáng tạo cho môi trường tìm hiểu và lưu lại như : Văn tự lần thứ nhứt. Ðời Thượng cổ văn tự được đặt ra và khởi đầu lối viết chữ bằng hình dung thắc gút nhớ việc trước sau . Văn thự lần thứ hai. Ðời Vua Phục Hi có Long Mã phụ đồ, vua Phục Hi vạch ra Bát Quái Ðồ chế ra văn tự . Văn thự lần thứ ba. Hoàng Ðế Huỳnh Ðức và Ðức Thương Kiết trí tuệ thông minh, xem được bầu Trời và hiểu biết mọi vận hành của Thinh tú, dưới đất thì khảo sát tìm dấu chim, chế thành văn tự chữ Nho. Khi văn tự hoàn chỉnh từ đó thiên hạ được mở mang cùng tấn hóa . Theo truyền sử viết : Văn tự chữ Nho hoàn chỉnh. Quỷ khóc bởi sợ ghi chép lời truyền giảng Ðạo đức của Thiêng Liêng, loài người theo Chơn Ðạo mà bỏ Tà Ðạo và Tà Ðạo rất sệ bị tận diệt . Ðến khi Ðức Khổng Phu Tử viết Kinh Xuân Thu và Hiếu Kinh thành tựu, Người hướng về ngôi Bắc Khuyết để quì lạy tỏ bày ý nghĩa thành tâm của mình. Trời liền mưa liên tiếp ba ngày hiện hóa thành một vòng cung rực rỡ từ Trời cao sa xuống 3 màu Vàng, Xanh, Ðỏ viết thành chữ " Xuất Sách Cổ Tự " . Chú niệm 5 : " Chí như ý từ, tường ư ngao trụ " . Thánh ca : " Chí lành hiệp với ý lành , Cự Ngao chở nổi núi non đức dày " . Dẫn giải : Ðạo uyên thâm, lời chánh ý, tâm nguyện điều lành, hiền nhân là cột trụ của đất núi Ngao trụ ở biển Bội Hải nhờ loài rùa học đạo uyên thâm mà chống đỡ được bền vững quanh năm . Chí lành làm việc vì lành thì dù núi Ngao trụ muốn trôi cũng không được, bởi đức công dày hóa băng sơn đóng chốt nêm trụ . Theo truyền sử viết : " Ở phía Ðông biển Bội hải có năm núi : Ðại Dư, Viên Kiều, Phượng Hổ, Dinh Châu và Bồng Lai . Năm hòn núi nầy là nơi các vị Thánh hiền thường trú ngụ, núi không chân thường trôi theo dòng nước ròng, các vì Tiên Thánh thấy thế tâu lên Ngọc Ðế và Người sai mười lăm con Cự Ngao [ Rùa thần ] đội năm hòn núi ấy để vững lại không cho trôi nữa và phân làm ba phiên, mỗi phiên sáu muôn năm đổi một lần " . Chú niệm 6 : " Khai nhơn tâm tất bổn , Ư đốc thân chi hiếu " . Thánh ca : " Trau tâm gốc cội con người , Hiếu thảo cha mẹ mới nên đạo người " . Dẫn giải : Mục đích Ðạo nho khai mở rộng tình người và coi việc giáo hóa nhơn tâm làm trọng, dạy con người biết hướng thượng, thờ cha kính mẹ lấy hiếu làm gốc, sống vì chân thật đối sử với nhau, muôn người đều hiếu thảo với cha mẹ và lấy mực thước đó làm trọn đạo người . Chú niệm 7 : " Thọ quốc mạch tất tiên , Ư trí chúa chi trung " . Thánh ca : " Ơn nhà nợ nước trước xong , Công ơn bảo hộ Vua lành Tôi ngay " . Dẫn giải : Người Nhơn đức tâm rất vững bền như mạch nước luôn chảy luân trong, không vì đem tài riêng lấp đức người hiền. Người trung vì mọi người mà hy sinh cho tất cả đồng sống đồng hưởng, dù cho muôn lần vào sanh ra tử không thối chí ngã lòng. Như các Ðấng đã từng dày công dạy bảo cho ta nẻo chánh đường ngay thì ta phải giữ trọn lành và không phụ lòng của các Ðấng . Làm thân con dân phải hướng niệm và phụng sự mạch sống quốc gia trên nhiều lãnh vực, được sinh ra và lớn lên trên mãnh đất do muôn họ và ông cha xây thành, công ơn ấy đời đời ta nhớ mãi, khi đất nước cần bảo vệ quốc mạch thì ta lấy thân để đền ơn không nên chối từ, nếu trên dưới thiên hạ đều lành đều trung thì xã tắc ắt thái bình . Chú niệm 8 : " Ứng mộng bảo sanh, Thùy từ mẫn khổ " . Thánh ca : " Ðiềm lành báo mộng lợi nhơn , Dù cho khổ cực nhưng mà chí cao " . Dẫn giải : Còn phận làm Vua thì phải có lòng đạo đức, nhân từ, bảo hộ, thương yêu dân và lo cho dân giàu nước mạnh . Vua Ðạo đức sản sinh tư tưởng nhân ái, hướng dẫn con dân thoát khỏi cảnh bần cùng nghèo khó, thường khi vào đêm khuya được báo mộng lành tìm kế sách điều hay và lẽ sống để phụng sự quốc dân. Nhân từ lòng thiện, thương người, hòa hợp lòng người, nhân từ ấy sẽ là nhân hòa mới đến địa lợi. Bảo hộ giữ gìn tổ quốc giống nòi, che chở lương dân, binh vực kẻ yếu và cô thế, tạo mọi sự sống công bình và thương yêu gần gũi vua dân . Sách chép rằng : " Vua Châu Võ Vương nhân từ đạo đức có tư tưởng bảo sanh dưỡng dục quốc dân, cho nên nhận được chiêm bao thấy ông Châu Công ứng mộng bảo làm lành. Vua Võ Vương không ban bố hiệu lịnh, chỉ âm thầm làm việc lành và Ðạo đức bảo hộ sanh linh hết khổ, lòng nhân từ vô tận của Võ Vương được lưu truyền đời đời " . Chú niệm 9 : " Ðại nhơn, Ðại hiếu, Ðại Thánh, Ðại từ " . Thi ca : Nhơn, hiếu rộng tâm lành sáng chói . Dẫn giải : Ðại nhơn ơn lớn lòng rộng mênh mông phụng sự muôn loài như một. Người đôn hậu Ðại hiếu với đấng sinh thành và yêu thương đại chúng, sử thế muôn loài vạn vật có trước có sau đều như một. Ðại thánh đức lớn trí tuệ Bát Nhã thông suốt thấy rộng hơn muôn loài. Ðại Từ bi hỉ xả giải thoát đồng sinh, Ðại bác ái tha nhân cộng hưởng công bình và bao dung rộng lớn phụng sự muôn loài thắng khổ, bởi Ðức Khổng Tử là gương của lòng Trời soi sáng cho muôn loài tín ngưỡng . Chú niệm 10 : " Thần văn, Thánh võ, Hiếu đức trung nhơn " . Thánh ca : " Văn có Thần gốc Hiếu, Nghĩa, Nhơn , Võ nơi thông rõ Âm Dương . Hiếu cha thảo mẹ đứng đầu Ðạo nho , Ðức ấy thiệt tâm làm âm chất . Ðạo thờ vua một mực thẳng ngay , Chữ nhơn gồm bộc Ðạo nho " . Dẫn giải : Tư tưởng của Ðức Khổng Tử đã thành văn pháp niệm linh diệu không sai như chiêu số Âm Dương của Ðấng Thánh võ tinh thông, dụng võ để xây cột Trời che chở nhân loại nhằm bền chí tu học hầu đạt Thánh nhân, Hiếu đức đôn hậu của Ðấng hóa thành diệu phép Nhân, Nghĩa, Lễ, Tín là những phép khiêm cung kính trọng nhứt của Ðạo Nho . Ðêm 15 tháng 03 năm Ðinh Hợi [ 1947 ] Ðức Ngự Mã Thiên Quân [ Bát Phật ] hiện thân Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc truyền dạy về phép hiếu, nghĩa, nhơn rằng : " Nhơn nghĩa là gì ?, Người có nhơn thì không oán, nghĩa thì không bạc. Công chánh là gì ?, có công thì không phụ, có chánh thì không tà, không chối cái điều chơn thật được, còn có Từ Bi thì có khoan hồng dung thứ có bác ái mới có thế bảo thủ và thân mến toàn thiện hạ, nếu chiếu theo Chơn Truyền của Ðức Chí Tôn khuyên bảo chúng ta thế nào, thì chúng ta phải tuân theo thế ấy, chúng ta phải khoan hồng, tha thứ, biết yêu ái, phải có công bình, chánh lý, chúng ta giữ được cả chơn truyền ấy thì không ghét ai oán ai. Trái lại Ðại Từ Phụ buộc chúng ta phải thương yêu kẻ nghịch, kẻ thù của chúng ta nữa " . Chú niệm 11 : " Vương Tân sách phụ , Nho Tông khai hóa " . Thánh ca : " Ngôi vua không nước dạy rành nhơn luân , Dựng Nho giáo khai minh bổn thiện " . Dẫn giải : Ðức Khổng Thánh đi chu du các nước đều nghinh tiếp Ngài, mới gọi là vì Vương Tân [ khách của Vua ], bởi Ngài hay giúp vua làm điều nhơn đạo, đàm luận chính giáo. Quốc gia nào phải Ðạo Ngài viếng thăm còn chẳng phải Ðạo Ngài lui gót, đến và đi thong thả nên người đời gọi Ngài là Vương Tân, Ngài mở mang giáo hóa nhơn sanh và đắc thành Giáo chủ Ðạo nho . Chú niệm 12 : " Văn Tuyên Tư Lộc , Hoằng nhơn Ðế quân ". Thánh ca : Tố Vương rày tặng Văn Tuyên , Ðế Quân đức cả sáng rày thinh thinh " . Dẫn giải : Sau khi Ðấng qui Thiên, Ðức Thượng Ðế triệu hồi linh hồn Ðấng về Bạch Ngọc Cung sắc phong Thiên chức " Văn Truyên Tư Lộc " bởi công nghiệp phước lộc của Ðấng tại thế gian rộng lớn mới xứng đáng phẩm tước ấy. Phẩm tước của Ðấng đứng vào bậc cõi Trời là Ðế Quân, hiệu Hoằng Nhơn lòng thương mênh mông . Kinh Vương Tôn ghi rắng : " Vua Văn Tuyên lấy việc thi cử và khoa mục để tuyển nhân đức, mở rộng tánh chất thiệt ngay làm nền tảng cho chánh Ðạo, muôn dân trong suốt và hiền đức, chân lý của Ðấng đạt đến mục đích tế độ rộng bao la ". Chú niệm 13 : " Trừng chơn chánh quang , Bửu Quang từ tế Thiên Tôn " . Thánh ca : " Thiên Tôn chấp chưởng cầm quyền Ðạo nho " . Dẫn giải : Trí tuệ trong sáng, chơn thật, ngay thẳng, thương yêu, làm lành mới có " Trường Chơn Chánh Quang ", bởi Ðấng dày công tu luyện mới được thành tựu thuần chơn vô ngã . " Bửu Quang Tư Tế Thiên Tôn " Ðấng của mầu nhiệm, ánh sáng quang minh, Ðức Khổng Tử truyền giáo cho quần linh, phép quí trọng Vũ trụ vì Ðấng là Thiên Tôn cao cả trên Bạch Ngọc Kinh . - 3 lạy. Mỗi lạy 3 gật X 3 lạy = 9 gật, mỗi lạy niệm : Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn . LỄ DÂNG HOA [ Thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung ] Từ Bi giá ngự rạng môn thiền , Ðệ Tử mừng nay hữu huệ duyên . Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ , Cúi mong Thượng Ðế rưới ân Thiên . Niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tất Ma Ha Tát . [ Ðức Bảo Văn Pháp Quân ] [ Một lạy 4 gật và niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tác Ma Ha Tát ] . Thời Tý đêm 01 tháng 12 năm Ðinh Hợi [ 1947 ] Ðức Ngự Mã Thiên Quân [ Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ] truyền dạy dâng hiến Tinh Thể rằng : " - Khi dâng lễ Tam Bửu. Hễ đưa Bông lên là dâng cái thể hình của chúng ta, tức là tượng hình xác thịt của chúng ta đó, ta cuối đầu cầu nguyện Chí Tôn " Con xin dâng mảnh hình hài của con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng " . Dẫn giải : Ðức Thượng Ðế và quý Ðấng Thiêng Liêng xuống phàm trần hào quang sáng rực rỡ tại Ðền Thánh và Thánh Thất, Ðệ tử mừng vui gặp hội cứu rỗi và hạnh hưởng ân đức nầy, nay Ðệ tử kỉnh lễ thành tâm dâng năm sắc hoa tinh khiết, xin Ðức Thượng Ðế ban ân đức, rưới chan khắp mọi nơi cho muôn sanh đồng hưởng Hành lễ dâng Hoa biểu hiện lòng thành của thể xác nầy nay đã kết tụ Tinh khiết con dâng lên Ðại Từ Phụ cùng hòa vào Vũ trụ và vạn vật muôn loài . Ngoài ra trong Thần học Ðạo Cao Ðài còn có bộ ngũ Thể Pháp được phân chia như sau : - Ngũ sắc : Ðen, Trắng, Xanh, Vàng, Ðỏ . - Ngũ hành : Kim, Mọc, Thủy, Hỏa, Thổ . - Ngũ Phương : Bắc, Trung, Nam, Ðông, Tây . - Ngũ khí: Dương, Vũ, Thủy, Hỏa, Phong . LỄ DÂNG RƯỢU Thiên ân huệ chiếu giáng thiền minh , Thành kỉnh trường xuân chước tửu quỳnh . Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ , Thoát tai bá tánh ngưỡng ân sinh . Niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát . [ Ðức Bảo Văn Pháp Quân ] [ Một lạy 4 gật và niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát ] . Ðức Ngự Mã Thiên Quân truyền dạy dâng hiến Khí Não rằng : " - Khi dâng lễ Rượu cầu nguyện : " Con xin dâng cả trí đức tinh thần của con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng " . Dẫn giải : Ðức Chí Tôn ban huệ đức minh triết cứu rỗi chiếu xuống Ðền Thánh và Thánh Thất, nhờ ân thiên nầy đệ tử xin dâng hiến lòng thành thần khí trí não chúc Ðức Chí Tôn miên trường, nay mừng khấn nguyện lời nầy xin Ðại Từ Phụ bao dung và tùy nghi sử dụng phương nào cũng đặng, cùng xá tội thiên hạ bá tánh ân hưởng nhân ái, háo sanh . [ Dâng Rượu biểu hiện chất [ Khí ] về thời Tý và Ngọ . 12 giờ đêm và 12 giờ trưa ] . LỄ DÂNG TRÀ Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương , Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương . Ngưỡng vọng Từ Bi gia tế phước , Khai minh Ðại Ðạo hộ thanh bường . Niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát . [ Ðức Bảo Văn Pháp Quân ] [ Một lạy 4 gật và niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát ] . Ðức Ngự Mã Thiên Quân truyền dạy dâng hiến Thần Hồn rằng : " - Khi dâng lễ Trà cầu nguyện : " Con xin dâng cả linh hồn con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng " . Dẫn giải : Ðệ tử kỉnh lễ dâng hiến lòng thành Thần Hồn nầy lên Ðại Từ Phụ tùy nghi sử dụng phương nào cũng đặng, Thần Hồn nay như đã nhuần thấm hương thơm hoa Mai xuân, Nguyệt cúc vàng quý báu, thành tâm ngưỡng vọng xin Ðức Chí Tôn gia tăng độ rỗi, tế phước, mở rộng minh triết truyền lưu Ðại Ðạo cho chúng sanh hiểu thấu và đồng hưởng hạnh đức thanh bình . [ Dâng Trà biểu hiện cho [ Thần ] về thời Mẹo và Dậu . 6 giờ sáng và 6 giờ chiều ] . Ðức Ngự Mã Thiên Quân nhắc nhở, sau khi dâng lễ Tam Bửu thành đạt rằng : " - Câu chót nếu chúng ta khôn ngoan nguyện như vầy : " Cả linh hồn, cả trí não, cả hình hài con Thầy đào tạo đó là của Thầy thì do nơi quyền hành độc đoán của Thầy định " . Thần học Ðạo Cao Ðài và ý niệm dâng lễ Tam Bửu . Ðại Ðạo có Tam Bửu : - Trời có Tam bửu : Nhựt, Nguyệt và Tinh tú . - Ðất có Tam bửu : Thủy, Hỏa và Phong . - Người có Tam bửu : Tinh, Khí và Thần . Tam Giáo có Tam Thanh : - Ðạo Phật : Thái Thanh nguyên thủy Thiên Tôn [ Bi ] - Ðạo Nho : Thượng Thanh nguyên thủy Thiên Tôn [ Dũng ] - Ðạo Tiên : Ngọc Thanh nguyên thủy Thiên Tôn [ Trí ] Ðức Ngự Mã Thiên Quân truyền dạy Tam Bửu rằng : " Chí Tôn lấy Bông tượng trưng hình hài, Ngài muốn nhìn con cái của Ngài bằng cái giá trị tốt đẹp như con mắt ngó thấy cái Bông " . " Ngài lấy Rượu là muốn tinh thần của loài người cường liệt như rượu mạnh " . " Ngài lấy Trà là muốn chơn linh ta điều hòa như trà " . Ngài lựa ba món đó cốt yếu là vậy " . NGŨ NGUYN [ Giọng Nam Xuân ] Khi đọc kinh cúng tứ thời rồi, phải nhớ đọc năm câu nguyện như sau : Nam mô Nhứt nguyện : Ðại Ðạo hoằng khai . Nhì nguyện : Phổ Ðộ chúng sanh . Tam nguyện : Xá tội Ðệ Tử . Tứ nguyện : Thiên hạ thái bình . Ngũ nguyện : Thánh Thất an ninh . Niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát . - 3 lạy. Mỗi lạy 4 gật X 3 lạy = 12 gật, mỗi lạy niệm : Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát . Lời Ước Nguyện Cuối Cùng [ Niệm sau khi đọc Ngũ Nguyện ] Niệm tại lòng : " Con xin Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu cùng quý Ðấng Thiêng Liêng Thần, Thánh, Tiên, Phật Chan rưới hồng ân cho tất cả chúng sanh minh mẫn tinh thần, hồi tâm hướng thiện, cùng nhau hiệp trí hòa tâm, phục hồi Thánh Ðức " . Dẫn giải : Ngũ nguyện là 5 lời thành ý của Tín đồ Ðạo Cao Ðài, cầu nguyện xin Ðức Thượng Ðế ban bố hồng ân và trải rộng cứu rỗi cho vạn vật muôn loài đồng cộng hưởng, lời cầu nguyện không ngoài mục đích và tôn chỉ của Ðại Ðạo như Thánh Kinh, Tân luật, Pháp Chánh Truyền, Ðạo Luật và Thánh Ngôn truyền dạy . -Nam mô Nhứt Nguyện : " Ðại Ðạo hoằng khai " . -Ðại Ðạo cội nguồn của Vũ trụ, Ðạo hoằng khai từ nguyên thủy của mọi linh diệu, hóa sinh, dưỡng dục và cứu rỗi muôn loài . Ðại Ðạo uyên nguyên hằng hữu, nay hướng về miền Trần để hoằng khai ban ân phúc đức cho vạn đại muôn -sinh cùng khải minh kiến đắc cho tâm linh thăng hoa và Ðệ tử thực hiện lời hứa phụng sự Ðại Ðạo thiên thu . - Nhị Nguyện : " Phổ độ chúng sanh " . Ðức Chí Tôn lập Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ thu hồi mọi đẳng cấp chúng sanh về cựu vị, Ðức Chí Tôn trao cho nhân loại quyền pháp Cơ bút và Tinh, Khí, Thần hầu tu luyện đắc thành Phật, Tiên, Thánh, Thần và Nhơn đạo . Phổ Ðộ chúng sanh chiếu theo phép Thiên Ðạo, Tân kinh, Tân luật, Pháp Chánh Truyền và Ðạo luật từ ngày Ðức Thượng Ðế lập luật cứu rỗi và giải thoát . Pháp Ðạo giáo hóa chiếu theo Ðạo luật, Ngũ Giới Cắm, Tứ Ðại Ðiều Qui nhằm qui định tự mình thắng khổ từ khi Nhơn sanh lập luật có Ðức Chí Tôn phê chuẩn, và Ðệ tử từ đây xin hứa lấy đức năng hạnh lực cùng sống phổ độ đồng sinh . - Tam Nguyện : " Xá tội đệ tử " . Cứu rỗi: Nhân loại tìm học đến với chân thiện mỹ của Ðức tin vì mục đích cứu cánh và thấu hiểu nguyên lý cứu rỗi Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ . Tín đồ Cao Ðài nhập môn cầu Ðạo lập lời minh thệ trước Thiên Bàn Ðức Chí Tôn trong buổi hệ trọng Thiêng Liêng đồng chứng minh . Lời minh thệ như văn bản tâm lực nhằm hóa hiện tâm linh và hành động Công phu Ðạo Ðức . Mọi tội lỗi muôn kiếp từ trước đến nay hoàn toàn hủy bỏ và Nuội Ngoại Cửu Huyền Thất Tổ cũng được hạnh hưởng công đức nầy . Về phán xét : Tín đồ Cao Ðài nhận mọi phán xét xem như trường thi thắng khổ sửa mình, ý thức lời minh thệ từ buổi ban đầu như một hiệp ước trước Ðức Chí Tôn, nếu như mai nầy lòng dạ đổi thay, chiếu theo hình luật Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ phán xét . Về xá tội : Tín đồ Cao Ðài tự ý thức nhận phán xét lầm lỗi trước Thiên Bàn Ðức Chí Tôn, Phật Mẫu, chư Phật, Tiên, Thánh, Thần . Tín đồ trực tiếp cầu nguyện Ðức Chí Tôn xin ân xá, bởi Người là Giáo Chủ Ðại Ðạo, sự hối cải sẽ được trọn vẹn bình an, tâm hồn đón nhận phúc lạc, Thiêng Liêng sẽ ngự trị vào cõi duy thức của Ðệ tử và Ðức Cao Ðài đến bởi diệu dụng linh tâm toàn thiện, Ðệ tử nay hoàn thiện xin hứa lấy bao dung, nhân đức hòa sống cùng đồng sinh . - Tứ Nguyện : " Thiên hạ thái bình " . Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ bao quát chân lý, phụng sự thiên hạ thái bình trên nhiều mặc sống . Dìu dẫn mọi hạnh hưởng công bình và công phu như : Ðức hạnh, kiến thức tham khảo giáo lý rộng rãi, tri thức xã hội đời sống con người, tiếp nhận Ðạo vào Ðời, văn hóa thực dụng tạo môi trường thăng hoa cho cộng đồng nhân loại tiếp nhận Ðạo đức vào lòng, mỗi Tín đồ là một uyên nguyên Bát Nhã, mọi khả năng uyên bác tăng tốc cho tiến bộ, mọi trình độ làm nền tảng Ðức tin khoa học, mọi giai tằng xã hội phát triển sinh hóa công bình, mọi thế hệ tiếp nối lưu truyền canh tân bảo cổ Ðạo đức . Ðã là người đồng quyền sống trên phần không gian dành cho mình và một chỗ dụng trong sự nghiệp phụng sự tha nhân. Ðức tin không chủ trương vô danh quyền sống và không thụ hưởng trên vô số quyền sống. Mọi trang chấp sẽ tự diệt hoàn toàn trên đất nước Ðại Ðạo, Thiên hạ thái bình trên mọi đồng thuận cuộc sống và giải thoát, từ ấy Ðạo cất cao vào cung quản và hồn linh Nhân loại khơi sáng . Tín đồ Cao Ðài thực hiện lời nguyện căn bản nầy như những thành tố hệ trọng nhứt trong cuộc đời . Thực hiện Tứ nguyện, chặm trể một ngày lỗi ấy trách nhiệm nầy không phải nhỏ, đạt đến mục đích của Tứ nguyện người Tín đồ phải đặt cả tâm hồn và chân lý vào Tứ Nguyện, để làm chuẩn kim chỉ nam thực hiện tốc độ cương quyết, lời cầu Tứ nguyện sẽ chứng minh sự thành tựu trọng đại . Thiên Hạ Thái Bình 92 ức nguyên nhân sẽ thành Ðạo, từ cõi đời trần tục hóa thành cõi Thiên Hạ hiện hữu, lời nguyện phải đặt trên niền tin tuyệt đối, không nên dối lòng, lời nguyện suông là gạt gẩm Thiêng Liêng và nhân loại . Ðệ tử xin hứa Tứ Nguyện, từ nay cùng nhơn sanh mưu cầu trần thế Thái bình . - Ngũ Nguyện : " Thánh thất an ninh " . Tòa Thánh, Thánh Thất hay Thánh tịnh biểu tượng cho Thánh Thể Quyền Linh tại Thế, bởi nơi đây thờ phụng Ðức Chí Tôn, Phật Mẫu, Phật, Tiên, Thánh và Thần cũng là nơi để Tín đồ hằng ngày dâng lễ và tu luyện sửa tánh . Thiên ý muốn ở nơi Thánh đường cũng như mỗi cá thể Tín đồ cần phải an ninh [ Thanh tịnh ] . Ý niệm an ninh là gìn giữ trật tự trong và ngoài Thánh đường không được rối loạn, vì đây là nơi trang nghiêm tối hậu của Quyền Linh hiện trụ tại Thế, rối loạn và mất trật tự sẽ ảnh hưởng đến Ðức tin và khi dâng lễ cầu nguyện, nó sẽ đem đến hậu quả là không đạt được nhiều linh diệu như ý muốn . Tín đồ hãy đồng hướng thượng Ðức Chí Tôn để tiếp nhận Tân Kinh, Tân luật, Pháp Chánh Truyền và Thánh ngôn, nhằm tường tận mà nương theo tổ chức an ninh của Thiêng Liêng như thế nào thì Tín Ðồ thực hiện cho đất trần như thế ấy sẽ không bao giờ sai . Nhu cầu thiết yếu cho nguyên thể Thánh Thất an ninh toàn diện để cho môi trường diệu pháp ban bố hồng ân và Tín đồ tiếp nhận quyền năng trược tiếp trong trạng thái an lạc, trí tuệ thanh tịnh, thân thể tinh khiết và cuộc đời bình an, nhằm thực hiện Thiên chức trọn vẹn do sự ủy thác của Thiêng Liêng . Ðệ tử xin hứa nhận sứ mạng bảo vệ Thánh Thất an ninh, phụng sự Ðại Ðạo và truyền loan tin mừng cứu rỗi đến những đồng sinh xa gần đồng biết . Ngoài ra trong bộ kinh Thiên Ðạo còn hướng dẫn nhơn loại tu luyện theo tám qui luật căn bản của Pháp và đã được bày ra ánh sáng như Bát Chánh Ðạo là con đường thẳng tắp mà nhơn loại phải đi đến điểm tột cùng : 1 - Chánh kiến. Chân tâm nhận biết tin Ðạo . 2 - Chánh niệm. Chân tâm ghi nhớ sự lành . 3 - Chánh Ðịnh. Chân tâm tư tưởng định tịnh . 4 - Chánh tinh tấn. Chân tâm sáng suốt chánh nghĩa . 5 - Chánh tư duy. Chân tâm xét nghiệm suy luận Ðạo Ðời . 6 - Chánh ngữ. Chân tâm lời nói . 7 - Chánh nghiệp. Chân tâm mưu sinh . 8 - Chánh mạng. Chân tâm sinh sống . Trong Bát Chánh Ðạo nầy duy có Chánh Ðịnh là đệ nhứt công phu cần phải chân thành và đặt hết tâm lực mới vượt qua bốn chặn định [ Thiền ] : Nhứt tịnh, Nhị tịnh, Tam tịnh và Tứ tịnh . Công phu đến Tứ tịnh là thành tựu, Tâm Hồn toàn thiện mỹ, Nhị Xác Thân vân du thiên ngoại, Tử Hậu siêu thoát ngoài càn khôn, [ Phật giáo gọi là Niết Bàn, Thiên Chúa giáo gọi là Ðất Chúa ] . Ðức Chí Tôn hằng dạy con cái của Người nhứt là thời Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, hãy phá nghiệp vô minh đặng vào cõi toàn giác như Phật, Thánh, Thần, Tiên từng hành, nay môn đệ của Ðức Cao Ðài theo đó mà tu luyện sửa tánh, đến lúc bổn phận làm người đã trọn vẹn thì Ðức Chí Tôn ban phép hồng ân hiệp thành Tinh, Khí, Thần . |
| |
Từ khóa » Ngự Mã Thiên Quân
-
Đức Ngự Mã Thiên Quân Đức Vi Đà Thiên... - Tam Giới Toàn Thư
-
Tam Giới Toàn Thư - Đức Ngự Mã Thiên Quân Đức Vi Đà Thiên Tôn ...
-
Đức Ngự Mã Thiên Quân - Đức Vi Đà Thiên Tôn - Đạo Cao Đài
-
Thiên Quân | Wiki Tam Giới Toàn Thư | Fandom
-
Giản-lược Chân-Dung Phạm Hộ-Pháp
-
ĐẠI ĐẠO BÍ SỬ - Caodaifrance
-
10 Nhân Vật Từng đại Náo Thiên Cung: Tôn Ngộ Không Là Kẻ Xui Xẻo ...
-
Đức Hộ Pháp PHẠM CÔNG TẮC (1890-1959) - CaoDai-Online
-
Bài Cơ Cao đức Trọng ( Cao Tiếp đạo ) - ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
-
Ngọc Hoàng Thượng đế – Wikipedia Tiếng Việt
-
Hộ Pháp Vi Đà - Tiêu Diện Đại Sĩ - TGTT - Ô-Hay.Vn
-
Con đường Tu Chơn Trong đạo Cao Đài. - Caodaiyeuluan
-
KINH ĐẠI TƯỜNG – Tính Tuần Cửu – Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ