Giản-lược Chân-Dung Phạm Hộ-Pháp

CHƯƠNG IX

Giản-lược Chân-Dung Phạm Hộ-Pháp

(1890 - 1959)

      Ngươn-linh của Phạm Hộ-Pháp Văn thi Ái-Dân Lược-sử chân dung Hộ-Pháp Phạm Công Tắc

1.- Ngươn-Linh của Phạm Hộ-Pháp

* Ngự Mã Thiên-Quân

Vị Thiên-Quân đánh xe ngựa cho Thượng-Đế đi tuần du bốn phương trong Vũ-Trụ, nên tôn Ngài là Chuyển Luân Vương (Tchakravartin), dùng Pháp Chánh mà trị-an nhơn-sanh. Khi tức vị, Ngài có đủ 7 bửu bối, về thể pháp tượng trưng Thất Tình: Hỉ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc, Cụ; về bí-pháp tượng trưng Thất Bảo:

    1. Luân bảo (xe báu), 2. Tượng bảo (voi báu), 3. Mã bảo (ngựa báu), 4. Ma-ni châu (châu báu), 5. Nữ bảo (Ngọc-Nữ), 6. Chủ Tàng Thần (vị Thần giữ kho tàng), 7. Chủ Binh Thần (vị Thần coi binh).

Ngai rắn bảy đầu bao hàm cả hai mặt đó.

    1. Ngài ngự trên bánh xe vàng, thì thống trị cả bốn Đại Châu. 2. Ngài ngự trên bánh xe bạc, thì cai-trị ba Châu: Đông, Tây, Nam. 3. Ngài ngự trên bánh xe đồng, thì cai trị hai Châu: Đông, Nam. 4. Ngài ngự trên bánh xe sắt, thì cai trị châu phương Nam.

Bánh xe Pháp (Luân Bảo) lăn đến đâu, thì nơi đó dứt lầm lạc, người người ngộ đạo, nên Đức Phạm Hộ-Pháp giáng trần thức-tỉnh tâm mê muội của nhơn-sanh.

      Mừng Ngự-Mã Thiên-Quân

      Đào nguyên lại trổ trái hai lần, Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân. Cung Đẩu vít xa gươm xích quỷ, Thiềm Cung mở rộng cửa Hà-Ngân. Xuân Thu định vững ngôi Lương-tể, Phất Chủ quét tan lũ nịnh thần. Thổi khí vĩnh-sanh lau xã tắc, Mỡ đường quốc thể định phong vân. Bát Nương (1946)

* Nam-Bình Vương Phật

Nam-Bình Vương Phật hay đọc tắt là Nam Phật (Ratna Sambhava), một Đức Phật trong bốn vị Phật cai trị ở phương Nam tức Châu Thiệm-Bộ hay Nam Thiệm-Bộ Châu (Jambudvipa), một Châu trong biển ở về Phía Nam núi Tu-Di, tức là Châu mà nhân loại đang ở.

Đức Phạm Hộ-Pháp dạy rằng khi nào đền thờ Phật-Mẫu xây dựng thì đối diện với ngôi Phật-Mẫu và Cửu-vị Nữ Phật là tượng của Nam-Bình Vương Phật (Nam Phật) tức tượng Đức Hộ-Pháp mặc tiểu phục, trong Kỳ Ba Phổ-Độ này.

* Shiva cưỡi rắn bảy đầu

Trên chót vót Bát-Quái-Đài của Đền-Thánh, Tòa-Thánh Tây-Ninh có tạc hình Tam Thế Phật, biểu tượng cho ba thời kỳ khai Đạo.

Phật BRAHMA day mặt về phía tây, giáng trần vào ngươn Thánh đức, cưỡi chim Huyền Nga bay khắp Càn Khôn.

Phật SHIVA hay CIVA giáng trần trong Ngươn Tranh-đấu, cưỡi rắn bảy đầu diệt thất tình. Phật Civa day mặt về phương bắc để cầu khẩn Đức Chí-Tôn đại xá tội cho toàn nhơn-loại.

Chính vị Phật nầy là ngươn-linh khởi thủy của Đức Phạm Hộ-Pháp. Thần Civa còn giữ vai trò của Dharmapala tức là Hộ-Pháp giữ các đền thờ. (Nghiêm Thẩm, Tôn giáo của người Chàm tại Việt nam. Sài gòn, Đại học Văn Khoa 1972, trang 18 )

Phật CHRISTNA hay KRISHNA là hóa thân thứ tám của vị Thần tối cao Vichnou hay Vishnou (Bình Luận văn Học, NXB Khánh Hòa 1991, trang 38 ) giáng trần vào Hạ-ngươn tức Nguơn Bảo-tồn. Phật Krisna day mặt về phương Nam, cưởi con Giao-Long.

* Hộ-Pháp - Dharmapala

Hộ-Pháp Đàm-ma-pa-la là một vị Bồ-Tát ở Thế-Kỷ thứ VI giáng trần ở Ấn-Độ, viên tịch năm 560. Ngài soạn bộ "Thành duy thức luận", truyền đạo cho Giái-Hiền. Giái-Hiền truyền lại cho sư Huyền-Trang, cao tăng nhà Đường. Khi Ngài lâm chung, trên không có tiếng nói: "Đó là Đức Phật trong một ngàn đức Phật ở hiện kiếp nầy". (Đoàn Trung Cồn, Phật Học Tự Điển (tập II). Sài gòn 1967, trang 44 )

* Vi-Đà Hộ-Pháp

Ở cửa bên trong các Chùa có vị Hộ-Pháp mặc đồ nhà tướng cầm cây Kim Cang. Đó là Ngài Vi Đà (tức Vi-Hộ), một vị Thiên Đại Tướng-Quân trong Tứ Thiên-Vương, hộ-trì Tam-Bảo: Phật, Pháp, Tăng.

Đàn đêm 22 rạng 23.04.1926, Đức Chí-Tôn dạy lập bàn Vi Hộ-Pháp như sau:

    "Cư, nghe dặn: con biểu Tắc tắm rửa sạch-sẽ (xông-hương cho nó), biểu nó lựa một bộ quần áo tây cho sạch sẽ, ăn mặc như thường, đội nón ...

    "Cười ... "Đáng lẽ nó phải sắm khôi, giáp như hát bội, mà mắc nó nghèo, Thầy không biểu. "Bắt nó lên đứng trên, ngó mặt vô ngay Giáo-Tông, lấy chín tấc vải điều đắp mặt nó lại.

    "Lịch, con viết một lá phù "Giáng Ma Xử" đưa cho nó cầm.

    ... "Cả thảy Môn đệ phân làm ba ban, đều quì xuống, biểu Tắc leo lên bàn, con chấp bút bằng nhang, đến bàn Ngũ Lôi đặng Thầy triệu nó đến, rồi mới tới trước mặt Tắc, đặng Thầy trục xuất chơn-thần nó ra. Nhớ biểu Hậu, Đức xông hương tay của chúng nó, như em có giựt mình té thì đỡ."

Đức Chí-Tôn đã dạy rõ: trục-xuất chơn-thần phàm nhơn của ông Phạm Công Tắc ra để chơn-thần Vi-Đà nhập vào. Điều đó cho ta biết Ngài là ngươn-linh của Phật Vi-Đà.

Trong Kinh Đại Tường có câu:

    Giáng-linh Hộ-Pháp Vi-Đà, Chuyển cây Ma-Xử đuổi tà trục tinh.

Câu trên chỉnh lại chính tả, Đức Chí-Tôn viết "Vi-Hộ-Pháp" mà ta nhầm lẫn viết Di-Đà, tiếng gọi tắt A-Di-Đà Phật, là vị Phật Chưởng-Quản cõi Cực-Lạc. Vi Đà như trên đã giải là một trong Tứ Thiên-Vương, viết bằng chữ V (chữ Việt đầu thế-kỷ 20 chưa chuẩn).

Đức Phạm Hộ-Pháp cũng dạy: Cây Giáng Ma Xử để trấn giữ Thiên-Môn. Bửu-bối Đức Ngài cầm là cây Kim Tiên để nhặc giữ Đạo-Pháp.

"Kim Tiên là gì? Là biểu tượng của điển-lực điều khiển Càn-Khôn Vũ-Trụ mà chính đó là sanh-lực của Vạn-vật. Nhờ nó mới có thể mở Đệ bát Khiếu và còn có một khiếu vô hình là Huệ Quang Khiếu. Con người có ngũ quan hữu tướng và lục quan vô tướng, đều phải nhờ cây Kim Tiên ấy mới có đủ quyền lực mở lục quan của mình đặng". (Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp đêm 14-12 Canh Dần , 1950 )

Câu liễn ở Hộ-Pháp Đường khởi đầu bằng hai chữ Phạm Môn (cửa Phật), rất khác câu liễn ở Giáo-Tông Đường, khởi đầu bằng hai chữ Giáo Tông.

    PHAÏM giáo tùy Ngươn, cứu thế độ nhơn hành chánh pháp, MÔN quyền định hội, trừ tà diệt mị hộ chơn truyền.

Qua câu liễn trên ở Hộ-Pháp Đường, các Đấng đã xác nhận Đức Ngài là một vị Phật, nên nơi Ngài ở gọi là cửa Phật (Phạm Môn).

Câu 1: Phật dạy tùy ngươn mà giáng trần cứu đời, độ người hành Đạo đúng theo Pháp Chánh Truyền.

Câu 2: Cửa quyền định hội mà trừ tà, diệt mê, bảo hộ đúng chơn truyền đạo pháp.

Câu liễn trên phản ảnh đúng theo Pháp-Chánh Truyền: "Hộ-Pháp là người nắm cơ mầu-nhiệm của Đạo, nắm luật của Đời, xử đoán chư Chức-sắc Thiên-phong và cả tín-đồ, cùng xin ban thưởng: công thưởng tội trừng nơi thế nầy ... Người dùng hình-phạt phàm cho giảm tội thiêng-liêng, nắm cơ mầu-nhiệm công-bình mà đưa các chơn-hồn vào Bát-Quái-Đài, hiệp cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. (Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Paris, Gasnier 1952, trang 91)

Top of Page

2.- Văn thi của Ái-Dân Phạm Công Tắc

Văn

Phương-Tu Đại-Đạo: tác-giả Ái-Dân viết năm 1928. In lần thứ nhất 1969 do Hội-Thánh Phước-Thiện. In lần thứ hai cùng năm 1969 phân làm hai quyển:

    - Quyển thứ nhứt: phần phát đoan có viết: "Ai ai đã mang mãnh xác phàm nầy thì cũng tùng theo ba cái luật thiên nhiên là: luật đời, luật đạo và luật Trời. Ba luật tương tự, cũng phù hợp với luật điều Tam Giáo.

    - Luật đời (Đời của Đạo) gồm có: phận anh, phận chị, phận em trai, phận làm cha. Mỗi quyển chỉ có 32 trang.

Bài Thuyết- Đạo

Gồm những bài thuyết-đạo từ năm 1946 đến 1955 của Đức Phạm Hộ-Pháp do Ban Tốc-Ký ghi chép và quay Ronéo:

1)- Lời thuyết đạo của Đức Hộ-Pháp (Quyển I), in năm Canh-Tuất (1970) gồm 134 trang.

Lời tựa của Ngài Tiếp-Pháp Trương văn Tràng, kiêm Trưởng-Ban Đạo-Sử như sau: "Những lời thuyết-đạo trong quyển sách nầy là lời vàng tiếng ngọc của Đức Hộ-Pháp, một vị Giáo-chủ của Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ, một bậc vĩ-nhân của thế-hệ, nên Ủy-Ban Sưu tầm và Biên tập được thành lập có Đức Thượng-Sanh chấp thuận. Nay cuộc sưu tầm và biên tập đã có kết quả mỹ mãn, nên Ủy-Ban đem ra ấn-tống cho toàn đạo thưởng thức".

2)- Lời thuyết đạo của Đức Hộ-Pháp (Quyển II), Ban Đạo-Sử in năm Quý Hợi (1973), gồm 175 trang, chủ yếu thuyết về "Quốc-Đạo kim triêu thành Đại-Đạo. Nam Phong thử nhựt biến Nhơn Phong".

3)- Lời thuyết đạo của Đức Hộ-Pháp, Quyển III, quyển IV (1974), quyển V đều đã in xong.

4)- Nam Phong Quốc-Đạo, do nhóm phụng-sự Đại-Đạo ở Kiến-Phong sưu tập trong những lời thuyết đạo của Đức Hộ-Pháp năm 1948, gồm chín bài, 64 trang, in năm 1971.

5)- "Bí-Pháp" & "Con đường Thiêng-liêng Hằng Sống", hai quyển nầy cũng nằm trong chương-trình thuyết đạo 10 năm (1946-1955) của Đức Hộ-Pháp.

Riêng quyển "Con Đường Thiêng-Liêng Hằng Sống" gát những bài không phù hợp chuyên đề, còn lại 29 (30 ?) bài, dưới các tiểu mục có chủ đề như sau:

    1. Từ Hiệp-Thiên Đài đến Cung-Đạo. 2. Cung Thể Thiên Hành-hóa. 3. Cung Thể Thiên Hành-hóa (tiếp theo). 4. Bát-Quái-Đài. 5. Cung Tạo Hóa Thiên. 6. Diêu-Trì Cung (Bát hồn). 7. Ngọc-Hư Cung. 8. Hoa Hội. 9. Triết-lý về tứ khổ. 10. Tôn-giáo làm nhơn-tâm bất nhứt. 11. Vấn nạn tín ngưỡng. 12. Luật thương-yêu, Quyền công-chánh. 13. Hiệp Thiên Hành-Hóa, Bác-ái Công Bình. 14. Tông-đồ các Tôn-Giáo. 15. Cung Diêu-Trì, tiền kiếp Đức Phật-Mẫu. 16. Người đẹp và con thú. 17. Ngọc-Hư Cung - Nam-Tào Bắc-Đẩu. 18. Hiệp Thiên Hành-Hóa, các Tông-Đường. 19. Cung Phục-Linh. 20. Cung Phục-Linh, các Ngươn Đạo. 21. Cung Phục-Linh, cơ giải-thoát. 22. Linh Tiêu Điện. 23. Linh Tiêu Điện (tiếp). 24. Cực-Lạc Thế-giới, Niết-Bàn. 25. Cửu Thiên khai hóa. 26. Cõi Niết-Bàn. 27. Giám-khảo Kim Quang Sứ. 28. Cung Thượng-Thiên Hổn-Ngươn. 29. Lôi-Âm Tự, Bạch-Ngọc Kinh.

5)- "Trí-Huệ Cung": do Phạm-Môn in năm 1973, có 32 trang chủ-yếu bài "Phương Luyện Kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại-Đạo" do Đức Hộ-Pháp ký ban hành ngày 14 tháng Giêng năm Đinh-Hợi (1947) và 6 bài thuyết-đạo dạy về phép tu chơn.

Thi

Thiên-Thai Kiến Diện - do Đức Hộ-Pháp viết từ năm 1927, bằng thể Thất ngôn Đường Luật, gồm 77 bài. Nhà sách Minh-Tâm xuất bản và phát-hành năm 1964, có 24 trang. Sách gồm 2 phần:

- 1. Thiên-Thai kiến diện có 7 bài.

- 2. Tam Thập lục Thiên ký bút có 70 bài mà bài thứ 74 như sau:

    Bài 74 Dời ra hướng Bắc đặng xem qua, Mới rõ chánh kia chẳng nệ tà. Tà chánh Thế-gian không biện biệt, Chánh tà tâm nội có đâu xa. Khử tà thân chánh, tà kiên chánh, Phụ chánh cận tà, chánh biến tà, Người có chơn-hồn, hồn ấy mất, Muốn xem hí mắt ngó sao xa.

Thi Tuyển

    Ai-Điếu Ca Bảo-Đạo

    Cởi Hạc anh đà tách cõi Tây, Từ nhau oằn oại gánh tình nầy. Muôn lằn sóng thảm nơi trần tục, Ngàn dặm bước nhàn tách gió mây. Cõi thọ anh nương theo huệ bóng, Thân phàm em trẻ chịu chia bầy. Vui buồn sớt thảm ơn xưa tạc, Càng nhớ càng sầu khó giải khuây. 19.10 Mậu-Thìn (1927)

    Dạo Đàn Cảm Tác (của bà Bát Nương, Ái-Dân họa-vận)

    Năm âm mượn bực tỏ tơ lòng, Đờn "bắc" ra "ai" oán dội song. Tiếng thảm làm cơm tràn quá chén, Hơi sầu dồn gối chất nên chồng. Tranh Tần ghẹo khóc người Cung Lãnh, Tỳ Hớn khêu đau khách ải đồng. Nhạn lạc lìa cung đành lỗi nhịp, Cậy lằn phong nguyệt nhắc duyên nồng. 21.02.1929

    Người Tu-Hành

    Chẳng ham danh lợi chẳng mê trần, Thạch-động thanh nhàn thêm độ thân. Biển Bắc mặc dầu con sóng bủa, Non Nam chi quản đám mây vần. Ngày ăn hai bữa nuôi Tinh huyết, Đêm ngủ ba canh dưỡng Khí Thần. Quyết đoán công-phu thân vận động, Đường Tiên, cửa Phật mới mong gần. 1935

    Nhắn Bạn Quyền Giáo-Tông

    Hồ-lô ai để ở nơi đâu? Ái quốc Việt-Nam nghĩ bể đầu. Cứu thế hồng-ân chưa rãi khắp, Nâng thuyền lòng nước vốn còn sâu. Nhân tài nảy nở tuy trăm bụng, Dân-trí biến sanh bởi một đầu. Ví nhướng mắt Tiên xem rõ trận, Cuộc cờ thắng bại tận phao câu. 11.09 Bính-Tuất (1946)

    Thần Lý Ngưng Dương Du Nam

    Bầu linh gậy sắt quảy du Nam, Nương bóng Từ-bi đến cõi phàm. Độ thế so đồng vầng nhật nguyệt, Phục-sinh đổ trọn giỏ hoa-lam. Nẻo Tiên lối cũ thân dầu toại, Bợn tục đường xưa bước đã nhàn. Bảy bạn ai còn nơi cõi thế, Đông-Du xin nhắc vụ ông Lam (Thể-Hòa). Đêm 12.10 Kỷ-Sửu (1949)

    Cảm Tác Vía Đức Quyền Giáo-Tông

    Nguyện vọng như anh đã thỏa rồi, Cố tâm kế chí có thằng tôi. Bầu linh gậy sắt ông an thế, Chày Gián Xử Ma tớ giúp đời. Vững tiến xa thơ già gắng đẩy, Xuôi chèo Bác Nhã trẻ đua bơi. Khuôn hồng trước thấy trời quang đảng, Kế nghiệp mai sau vẫn có người., 18.11.1954

Kinh

Ngoài văn thi, Đức Phạm Hộ-Pháp còn viết kinh. Mười bài kinh Song Thất Lục Bát in trong phần Kinh Thế-Đạo, giọng Nam-Xuân là:

Kinh thuyết pháp, Kinh nhập-hội, Kinh xuất-hội, Kinh đi ra đường, Kinh khi đi về, Kinh khi đi ngủ, Kinh khi thức dậy, Kinh vào học, Kinh vào ăn cơm, Kinh khi ăn cơm rồi, Kinh Hôn-Phối.

Tất cả mười bài đều làm theo thể song thất lục bát, chỉ có bài Kinh nhập hội là 6 vế, hầu hết đều 4 vế; chỉ trừ hai bài Kinh ăn cơm là hai vế mà thôi.

Mười bài đều xen nhiều chữ Hán và điển-tích, đã được Hiền-Tài Đặng Mỹ Lệ soạn thảo dưới nhan-đề: "Giải nghĩa Kinh Thế-Đạo".

Văn Tế

    Tiểu-tường Đức Quyền Giáo-Tông (Ngày 16.10 Ất-Hợi)

    Đoái Nam đãnh mây giăng, Lượn Long-Giang sóng bùa. Hồn Linh-điện đeo sầu trang Chí-Sĩ, Tòa Cao-Đài chưa lụy mặt anh-hùng. Nước Việt-Thường ghi tạc mặt tài-danh, Nòi Hồng-Lạc roi truyền gương tiết nghĩa. Phương độ thế dầu lỡ làng chưa mãn địa, Phép hóa-thân cũng mai mỉa đủ kinh Thiên. Ba mươi năm lăn lộn cửa quyền, Hay quan tiền vũ hậu, Để tài tình ích nước lợi dân. Trọn một đời người vinh diệu đai cân. Thường suy cỗ nghiệm kim, Đủ trí thức an bang tế thế. Sanh gặp lúc ruộng dâu hóa bể, Phong di tục diệt, Nhìn nước non tha thiết tấm trung thành. Ở phải hồi dĩ Lữ diệt Đinh, Hiền vong ác thạnh. Tìm không môn, xa lánh cửa công-khanh, Nhưng mà: Toan cỡi lao ẩn dật chốn non xanh. Thương chủng-tộc lao đao vòng tử xích, Chuông cảnh tỉnh rán khua đêm tịch-mịch, Trống chiều già gượng khích bóng trời mơi. Trút bầu linh đổ Cam-lồ rưới nơi nơi, Đưa gậy sắt dẹp sầu than cùng chốn chốn. Qui tâm lý đem nhơn sanh về một bổn, Lấy Thiên-lương làm thiên-hạ hiệp trăm nhà. Cầm cờ Tang (*) cầu Vạn-Quốc dẹp can qua. Đưa gươm huệ khuyên giống nòi thôi loạn lạc. Mang thiên mạng Chí-Tôn phú thác. Độ quần-linh giải thoát trầm luân. Bố hồng-oai Hội-Thánh gội-nhuần, Dắt nhơn-loại lánh thân ác Đạo. Thuyền Bác-Nhã chở đầy khổ não, Liền trở lui Bồng-Đảo bến xưa. Chử Thiền lâm im tịnh mây mưa, Vội rào chặc Tây-phương nẽo cũ. Anh cả ơi! Này sự nghiệp nhà Nam đầy nghĩa-vụ, Anh lòng nào bỏ phú cho đám em khờ? Kìa giang-san đất Việt những cơ đồ, Anh sao nỡ nấy giao cho đàn em dại? Nhìn dấu bước ưu chơn nơi hồ hải, Giục nhớ người nặng quảy gánh đồ thơ. Nghe chày kình khua tiếng chốn đền thờ, Giục nhớ khách giõi khai đường tận độ. Ngôi còn đó,vị còn đó, Đạo còn đó, đời còn đó, Nhà ở đây, vợ ở đây, con ở đây, bạn ở đây, Anh sao nỡ vui miền Cực-Lạc! Hay là giận nhơn-tình tráo chác? Bến Ngân-Hà tắm mát tâm hồn. Hay là hờn thế-sự dại khôn, Vào Bát-Quái bảo tồn tri giác. Vài từng rượu lạt, Ít chén cơm chay. Hỡi ơi! Thương thay! Linh thiêng chứng chiếu. (Đức Hộ-Pháp đọc tại Đại-Đồng Xã)

Đức Hộ-Pháp Giáng-Cơ

Đạo Nghị-Định thứ tám của Đức Lý Giáo-Tông và Đức Hộ-Pháp lập vào ngày 15.07 Giáp-Tuất (1934) có nói về Chi Phái. Năm 1957, đàn cơ tại Cung-Đạo đêm 17.10 Đinh-Dậu, Đức Lý Giáo-Tông giáng dạy:

    "Chư Hiền hữu Hiệp-Thiên-Đài! Về Đạo Nghị-Định của Lão đối với chi phái là phương pháp lúc trước để phổ-độ nhơn-sanh mà thôi. Hiện giờ cửa Đạo đã mở rộng, thì cơ qui nhất thế nào cũng sẽ thực-hiện được".

Mặt khác, Đàn cơ tại Giáo-Tông Đường đêm 10 tháng 4 năm Giáp-Thìn (1964), Đức Hộ-Pháp giáng dạy:

    "Ngày giờ gần đến, nên Bần-Đạo để lời khuyên cả chức-sắc và toàn đạo rán thế nào thống nhứt Đạo cho được, mới có đủ sức mạnh để làm gương cho vạn quốc".

Đêm mùng 4 tháng 7 Kỷ-Dậu (16.08.1969). tại Giáo-Tông Đường có đủ mặt Đức Thượng-Sanh và các chức-sắc cao cấp, Đức Hộ-Pháp giáng dạy:

    "Kính chào Hiền-tỷ Đầu-Sư, bạn Thượng-Sanh, chư Hiền-Hữu Hiến-Pháp, Hiến-Đạo, Khai Đạo và các em Hiệp-Thiên, Cửu-Trùng.

    "Bần-Đạo rất vui mừng về việc hội ngộ hôm nay của chúng ta. Bần Đạo tin rằng các bạn có việc gì hay muốn tỏ bày. Vậy bạn Thượng-Sanh khá cho biết ...

    "Cười! Cũng là việc hữu hình nữa, nếu các bạn đã để trọn tâm chí vào việc ấy (Qui-Điều Ban Thế-Đạo) mà tu chỉnh thì hay thêm, chớ có sao. Vậy Bần-Đạo chấp-thuận ...

    "Đức Lý Đại-Tiên có thảo-luận với Bần-Đạo về việc tuyển chọn chức-sắc cao cấp Cửu-Trùng Đài, thì nên tìm kiếm nhân-tài trong hoặc ngoài Ban Thế-Đạo, sẵn lòng tình nguyện hiến thân phục-vụ cho Đạo. Đức Lý sẽ đặc cách ân phong quyền tước để phụng-sự cho có hiệu-lực hơn".

Đêm 10 tháng 03 năm 1971, tại Thánh-Thất Nam-Thành (Sàigòn), Đức Hộ-Pháp giáng cơ dạy Đạo:

    "Hoa mai nào không trổ vào mùa Đông? Người sứ mạng ưu thế nào không trổ mặt lúc thế sự loạn ly, nhơn-tâm tán-loạn? ...

    "Cái đau đớn nhất của tình cốt nhục là tự cắt tay nhau cho thành người tàn phế". "Đạo có sáng chói nơi mọi người, thì xã hội đời mới an.

    "Sống dưới Thánh-Đường uy nghiêm, đọc thuộc làu từ câu văn Đạo-Luật, Thánh-Ngôn, cũng chưa chắc hiểu trọn vẹn Cao-Đài Chủ-Nghĩa. Câu văn chỉ là hình thức, phương tiện vẽ nên chơn lý Đạo-Pháp, chớ không là Đạo-Pháp. Thánh-Đường ngoại thể đã huy hoàng, thì Thánh-Đường nội tâm sẽ sáng chói.

    "Thế cuộc đã mở màn. Cơ Trời đang vận chuyển. Bần-Đạo muốn nói với chư Hiền là đừng nghĩ tới, đừng bàn tới cái gì về phân-hóa, cái gì về thống nhất, duy nhất hay hiệp nhất nữa, mà phải chấp nhận tất cả. Bao nhiêu kinh nghiệm đã thấy rồi ... Hãy siết chặc tay nhau, tìm những giải pháp để làm chung một lối về cho tất cả các con cái của Đức Chí-Tôn ...".

Top of Page

3.- Lược-sử chân-dung Đức Hộ-Pháp Phạm Công Tắc

A. Phần Đời

1)- Thời thanh thiếu niên

- Phạm Công Tắc (1890-1959), tự Ái-Dân, sanh vào tiết Đoan-Ngọ năm Canh-Dần, tại làng Bình Lập (Long-An).

- Học chữ quốc-ngữ, chữ Nho, rồi vào Trường Chasseloup Laubat (Sàigòn).

2)- Đường Đời

- 1916 làm Thơ-Ký sở Thương-Chánh, rồi đổi đi Cái-Nhum (Hậu-Giang).

- 1917 lập gia-đình với bà Nguyễn thị Nhiều, sinh được ba người con: 1 trai, 2 gái.

3)- Tám đức-tính:

1. Hy-sinh thân thế và chịu đựng tù đày mưu tìm hạnh-phúc cho nhơn-sanh. 2. Hành-động tích-cực và tận tâm. 3. Óc sáng tạo huyền-bí. 4. Chịu nỗi thống khổ và oan-nghiệt của một con người. 5. Người của bình-dân. 6. Có hấp lực mãnh-liệt. 7. Công-bình và chính-trực. 8. Từ-bi, khoan hồng và đại-độ.

B.- Phần Đạo

1)- Tiền Khai Đạo

- Ngày 5.06 Ất-Sửu (25.07.1925) ông Phạm Công Tắc xây bàn lần đầu tiên tại nhà ông Cao Hoài Sang, cạnh Chợ Thái-Bình (Sàigòn) với ông Cao Quỳnh Cư.

- Ngày 10.06 Ất-Sửu (30.07.1925), nhóm Cao Phạm gặp tiếp xúc Đấng A,Ă,Â, tức Đức Chí-Tôn, dạy đạo.

- Ngày 15.08 Ất-Sửu (2.10.1925), Hội-Yến Diêu-Trì Cung lần đầu tiên tại nhà ông Cao Quỳnh Cư. Bắt đầu dùng Đại Ngọc Cơ lần thứ nhứt.

- Ngày 3.09 Ất-Sửu (20.10.1925), nhóm Cao Phạm được bà Cửu Thiên Huyền Nữ dạy tu tâm dưỡng tánh.

- Ngày 30.10 Ất-Sửu (15.12.1925), Đức A, Ă, Â dạy tam vị vọng Thiên Cầu Đạo vào ngày mùng 1 tháng sau.

- Ngày 1.11 Ất-Sửu (16.12.1925), Tam vị Thiên-Sứ Cầu Đạo.

- Ngày 16.11 Ất-Sửu (31.12.1925), Đức Cao-Đài xác nhận chính Ngài đã tá danh A, Ă, Â.

- Ngày 19 tháng 11 Ất-Sửu (3.01.1926), Đức Cao-Đài dạy thủ cơ, chấp bút, triết lý Thiên nhơn hợp nhứt trong cơ-bút.

- Ngày 1.12 Ất-Sửu (14.01.1926), Đức Cao-Đài dạy cặp cơ Cư Tắc về Nội-Giáo tâm truyền (tu tịnh).

- Ngày 5.12. Ất-Sửu (18.01.1926), cặp cơ Cư Tắc được lịnh Đức Cao-Đài lập đàn tại nhà ông Lê văn Trung.

- Ngày 18.12 Ất-Sửu (31.01.1926), Đức Cao-Đài dạy ông Phạm Công Tắc hãy ngừng việc đời ngoài xã hội để lo việc Đạo.

- Ngày 20.12 Ất-Sửu (31.01.1926), cặp cơ Cư Tắc độ Chủ-Quận Cần-Giuộc Nguyễn Ngọc Tương.

- Ngày 30.12 Ất-Sửu (12.02.1926), nhân đêm giao-thừa, cặp cơ Cư Tắc đi với ông Ngô văn Chiêu đến nhà bạn Đạo chúc Xuân. Mỗi nhà đều được Đức Cao-Đài ban cho bốn câu thơ.

BÍNH DẦN

- Ngày 8.01 Bính-Dần (20.02.1926), Đức Chí-Tôn dạy:"Thầy là các con, các con là Thầy".

- Ngày 9.01 Bính-Dần (21.02.1926, Lễ Vía Đức Chí-Tôn lần đầu tiên tại nhà ông Vương quan Kỳ và 13 vị môn-đệ đầu tiên được điểm-danh.

- Ngày 13.01 Bính-Dần (25.02.1926, Đức Chí-Tôn giải thích việc thờ Thiên-Nhãn, cách niệm danh Cao Đài Tiên Ông, cách bắt ấn Tý, cách lạy và cách dâng Tam Bửu tại nhà ông Cao Quỳnh Cư.

- Ngày 26.02 Bính-Dần (8.04.1926), Đức Chí-Tôn giải nghĩa tuyên ngữ Tam-Kỳ Phổ-Độ, kêu ông Lê văn Lịch đem bửu pháp ra cứu chúng-sanh, tức không được dấu kín thiền định, trong nghĩa "Đại Ân-Xá".

- Ngày 11.03 Bính-Dần (22.04.1926), Đức Chí-Tôn dạy sắp xếp bốn ghế dành cho Giáo-Tông và ba vị Đầu-Sư tại nhà ông Lê văn Trung. Lập bàn Ngũ-Lôi để chức-sắc lập thệ khi lãnh sứ mạng và tín-đồ lập thệ khi nhập-môn vào Đạo.

- Ngày 13.03 Bính-Dần (24.04.1926), Đức Chí-Tôn dạy về Ngũ-Chi Đại-Đạo và việc qui nguyên phục-nhứt.

- Ông Ngô văn Chiêu tách rời khỏi nhóm Cao Phạm.

- Ngày 14.03 Bính-Dần (25.04.1926, Đức Chí-Tôn dạy lập bàn thờ Vi Hộ-Pháp để các chức-sắc lập thệ.

- Ngày 15.03 Bính-Dần (26.04.1926), lễ Thiên-phong đầu tiên gồm có Đầu-Sư Thượng Trung Nhựt, Đầu-Sư Ngọc Lịch Nguyệt, Hộ-Pháp Phạm Công Tắc, Thượng-Phẩm Cao Quỳnh Cư, Thượng-Sanh Cao Hoài Sang. Vì ông Ngô văn Chiêu tách rời khỏi nhóm Phổ-Độ, nên Đức Chí-Tôn chưa hề phong ông làm Giáo-Tông. Ai gọi ông Chiêu là Giáo-Tông, thứ nhứt là sai về chơn-truyền vô-vi và giáo luật.

- Ngày 8.06 Bính-Dần (17.07.1926), Đức Chí-Tôn dạy tổ-chức Nữ Phái, dạy về Tân Pháp trường trai, thập trai, hiệp Tinh Khí Thần.

- Ngày 13.06 Bính-Dần (22.07.1926), Đức Cao-Đài dạy về Khí Hư-Vô và Đạo: "Khí Hư-vô sanh có mình Thầy "...". Nếu không Thầy, thì không có chi trong Càn Khôn Thế-Giới" và Đạo sanh ra Phật, Tiên, Thánh.

- Ngày 2.07 Bính-Dần (9.08.1926), Đức Chí-Tôn khai Tịch-Đạo Nam-phái "Thanh đạo tam khai thất ức niên".

- Ngài 1.08 Bính-Dần (7.09.1926), Đức Cao-Đài dạy đất Tây-Ninh là Thánh-Địa, phải lập Tòa-Thánh ở Tây-Ninh, lo phổ-độ Nam-Kỳ trước, rồi ra Trung và Bắc.

- Ngày 12.08 Bính-Dần (18.09.1926), Đức Chí-Tôn cho biết Đạo Cao-Đài sẽ là Quốc-Đạo.

- Ngày 16.08 Bính-Dần (22.09.1926), Đức Chí-Tôn giao việc lập TÂN-LUẬT cho ba vị Chưởng-Pháp: Nguyễn văn Tương, Như Nhãn Nguyễn văn Tường và Lão-Sư Trần văn Thụ.

- Ngày 21.08 Bính-Dần (27.09.1926), tại Thánh-Thất Từ-Lâm (Gò-Kén) Thầy dạy: "Nhạc Lễ là phép nhà Nam. Thầy muốn giữ sao cho trọn vẹn".

- Ngày 28.08 Bính-Dần (4.10.1926), Đức Chí-Tôn chọn trong Kỳ Ba Phổ-Độ này: "Nhứt Phật, tam Tiên, tam thập lục Thánh, thất thập nhị Hiền và tam thiên Đồ-Đệ".

- Ngày 1.09 Bính-Dần (7.10.1926), ngày khai Tịch-Đạo với Chánh-Phủ Thuộc-địa, đơn gởi đến Thống-Đốc Nam-Kỳ, Le Fol.

2)- Thời-Kỳ khai nguyên Đạo

Ngày 15.10 Bính-Dần (18.11.1926) chánh-thức khai Đạo tại Thánh-Thất Từ-Lâm (Gò-Kén - Tây-Ninh). Đức Chí-Tôn cho hai câu liễn trước các Thánh-Thất, lập Tân-Luật, Pháp Chánh-Truyền, tuyển-phong Hội-Thánh Cửu Trùng Đài, Hiệp-Thiên Đài, lập Tịch-Đạo Nữ Phái.

- Ngày 20.02 Đinh-Mão (23.03.1927), dời Thánh-Tượng về chùa mới ở làng Long-Thành tức khuôn viên Tòa-Thánh ngày nay, vì Hòa-Thượng Như-Nhãn đòi chùa Từ-Lâm lại.

- Tháng 4 Đinh-Mão (tháng 5.1927), thành lập Hội-Thánh Ngoại-Giáo ở Nam-Vang. Thiên-phong đầu tiên cho Hội-Thánh Ngoại-Giáo vào đêm 27.07.1927, mà Tiếp-Đạo Cao Đức Trọng được phong trong đàn nầy.

- Ngày 16.10 Mậu-Thìn (17.11.1928), Bà Bát Nương chỉ cách phá phép ếm Long Tuyền Kiếm cho Đức Hộ-Pháp.

3)- Thời kỳ Chưởng-Quản Hiệp-Thiên Đài

- Ngày 3.10 Canh-Ngọ (22.11.1930), Đức Lý Giáo-Tông và Đức Phạm Hộ-Pháp lập 6 Đạo Nghị-Định và ban hành ngày 15.10 năm Canh-Ngọ.

- Ngày 15.07 Giáp-Tuất (25.08.1934) ban hành thêm hai Đạo Nghị-Định gọi chung là Bát Đạo Nghị-Định.

-Ngày 21.01 Nhâm-Thân (17.02.1932), Đức Quyền Giáo-Tông và Đức Phạm Hộ-Pháp ban hành Ba Hội Lập Quyền Vạn-Linh, gồm có: Thượng-Hội, Hội-Thánh và Hội Nhơn-Sanh.

- Ngày 23.07 đến ngày 4.08 năm Ất-Hợi (21 đến 31.08.1935), các Đấng giáng cho Tân Kinh.

4)- Thời kỳ Chưởng-Quản Nhị Hữu-Hình Đài

- Ngày 17.10 Ất-Hợi (8.11.1935), Hội Nhơn-Sanh biểu-quyết như vầy: "Đồng lòng bỏ thăm tín nhiệm chính sách độc tài của Đức Hộ-Pháp".

- Ngày 18.10 Ất-Hợi (9.11.1935), Hội-Thánh Cao-Đài cũng biểu-quyết như trên. Từ đó Đức Hộ-Pháp Chưởng-Quản Nhị Hữu-Hình Đài.

- Ngày 1.11 Bính-Tý (14.12.1936), Đức Hộ-Pháp tái khởi công xây dựng Đền-Thánh và khánh-thành từ ngày 6 đến 16 tháng Giêng năm Ất-Mùi (29.01 đến 8.02.1955).

- Tháng 11.1937, Đức Hộ-Pháp trả lời chất-vấn của Chủ-Tịch Ủy-Ban Điều-Tra các Thuộc-Địa Hải-Ngoại.

- Ngày 4.06 Tân-Tỵ (1941), lính mật-thám Pháp vào Hộ-Pháp-Đường bắt Đức Hộ-Pháp đưa đi an-trí tại Di-Linh (Lâm-Đồng), Sơn-La (Bắc-Việt), rồi đưa về Sàigòn.

- Ngày 3.07 Tân-Tỵ (27.07.1941), Đức Hộ-Pháp và 5 vị Chức-sắc bị đưa xuống tàu Compiège ở cảng Nhà-Rồng sang cảng Diego Suarez, miền Bắc đảo Madagascar.

- Ngày 30.08.1946 (mùng 4 tháng 8 Bính-Tuất) Đức Hộ-Pháp được trả tự-do về Tòa-Thánh Tây-Ninh, sau 5 năm hai tháng bị tù đày.

- Ngày 14.01 Đinh-Hợi (1947), Đức Hộ-Pháp ban hành Đạo-Lịnh 209, chỉ dẫn về "Phương Luyện Kỷ đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo".

- Ngày 27.05 Canh-Dần (11.07.1950) theo Thánh Lịnh số 302, chư chức-sắc phái Tiên-Thiên được phong vào hàng chức-sắc Tòa-Thánh Tây-Ninh gồm 2 Phối-Sư, 6 Giáo-Sư, 26 Giáo-Hữu và 53 Lễ-Sanh.

- Ngày 18.10.1950, Đức Hộ-Pháp đi Hà-Nội kêu gọi các Tôn-Giáo, Đảng-phái đoàn kết và thăm đồng bào Cao-Đài miền Bắc.

- Ngày 10 tháng 07 Quí-Tỵ (18.08.1953), Thủ-Tướng Nguyễn Văn Tâm trao Huân-Chương cho Thầy Trần văn Giảng. Đức Hộ-Pháp cũng tặng Thầy cũ danh hiệu Linh-Sơn Phu-Tử.

- Ngày 17.04 Giáp-Ngọ (19.05.1954), đáp lời mời của Quốc-Trưởng Bảo-Đại, Đức Hộ-Pháp sang Pháp cố-vấn hoạch-định chương-trình Hội-nghị Génève.

- Ngày 20.07 Giáp-Ngọ (18.08.1954), Đức Hộ-Pháp thăm xã-giao các Tổng-Thống Tưởng Giới Thạch (Đài-Loan), Lý Thừa Vãn (Đại-Hàn) và sang Nhật rước di cốt Kỳ Ngoại-Hầu Cường-Để.

5)- Triều-Thiên trên đất Chùa-Tháp (Nam-Vang)

- Ngày 20.08 Ất-Mùi (1955) Ban Thanh Trừng của Nguyễn Thành Phương bao vây Hộ-Pháp Đường đến ngày 5.01 Bính-Thân.

- Ngày 5.01 Bính-Thân (1956), Đức Hộ-Pháp tự lưu vong sang Cao-Miên.

- Ngày 26.03.1956, Đức Hộ-Pháp ban hành "Chánh-Sách Hòa-Bình Chung-Sống": do dân, phục-vụ dân.

- Ngày 28.03.1956: Đức Hộ-Pháp gởi thư cho lãnh-đạo hai miền Nam Bắc Việt-Nam.

- Ngày 14.04.1959, Đức Hộ-Pháp lập bản di-ngôn gởi Hoàng-thân Norodom Sihanouk.

- Ngày 10.04 Kỷ-Hợi (15.05.1959), Đức Hộ-Pháp triều thiên tại Thánh-Thất Toul-Swey-Prey, Thủ-đô Nam-Vang, Cao-Miên.

Hình - Tháp của Đức Hộ-Pháp trước Đền-Thánh (phía trước là Chánh-Môn quan)

NEXT / Tiếp Theo

Top of Page

HOME

Từ khóa » Ngự Mã Thiên Quân