Câu Cá Sặc | Nguoinhabe

Câu cá sặc

Trong xóm, tôi hay lui tới nhà chơi với một ông lớn tuổi hơn. Anh Lăng đang học năm đầu ở đại học Khoa Học thì tôi chỉ mới vừa tới đệ ngũ, nhưng nhờ ông này học giỏi quá, thi tú tài hai năm mười sáu tuổi nên cũng không cách biệt nhiều. Xóm này nhỏ, chỉ có độ hai chục gia đình cũng không đông người lắm, anh là người duy nhất học đại học và tôi là đứa con trai đầu tiên thi đậu vô trường trung học công lập trong quận. Có lẽ vì vậy mà anh Lăng thích nói chuyện với tôi, bỡi lẽ dễ thích hợp hơn. Thêm một điều nữa là anh hay hỏi tôi về mấy vụ cá cua câu kéo để ông viết bài cho mấy tờ nhựt báo ở Sài Gòn. Mấy năm đầu trung học, tiếp xúc với tiểu thuyết tiền chiến rồi chút đỉnh văn thơ nên tôi cũng tò mò ghê lắm, trong khi anh Lăng cần người nghe thì tôi lại hay hỏi nên ông được dịp xổ luôn. Nhờ vậy mà hai bên dễ gắn bó chứ nếu đều nói hết thì đã xãy ra tranh cãi. Anh Lăng có tật ở mắt, mắt bên trái hư từ nhỏ không biết do bịnh gì nhưng nếu không biết trước thì khó có thể nói được. Nhìn chung ông đẹp trai, nhiều đào lắm, mấy chị xuống nhà thường xuyên làm ông “phát ngán”(không biết có thiệt ngán hay không, có lẽ vì sợ đụng độ, bắt cá ba bốn tay, sẩy hết không còn con nào).

Xóm tôi ở xưa kia phần lớn là ruộng, có vài gò đất cao chen lẫn vô giữa không đủ để cất nhà . Để có chổ cất nhà, người ta lấy đất chung quanh đấp thành nền nhà cho nên nhà nào cũng có một vài ao nước bên hông hay phía sau rất tiện lợi. Dọc theo bờ ao người ta trồng dừa, vừa có trái ăn vừa để giữ đất khỏi sạt do rễ dừa tỏa ra chung quanh rất xa. Nhà anh Lăng cũng trồng một hàng dừa cả chục cây theo bờ ao bên hông nhà. Cái ao này mực nước cở ngang bằng mặt ruộng nên khi nước sông lớn tràn vô ruộng cũng vô ao được, đến lúc nước ròng lại không tháo ra sông hết, do đó trong ao lúc nào cũng có nước và sạch sẽ. Tôm cá nhiều lắm, tôm cá nước ngọt hay từ sông vô rồi ở lại không chịu về. Mùa hè, tôi hay qua nhà anh chơi hơn vì không đi học hay lúc không bận đi theo đám bạn ra đồng bắt cua, tát cá. Hai thằng hay nằm trên hai cái võng cột vô ba cây dừa trồng theo một hàng, sát mé ao. Một bửa, nước trong ao xuống thấp, đang nằm võng lắc lư anh Lăng ngó qua chỗ đám cỏ từ bờ de ra mặt nước thấy có một đám bọt trắng xóa như xà bông giặc quần áo vừa đổ ra chưa kịp tan mới ngạc nhiên hỏi tôi:

– Ê Hoàng, chú mày coi đám bọt trắng kia là cái gì vậy, tao thấy nó cứ nhút nhít hoài

Anh Lăng nói chuyện thì xưng tao nhưng lại kêu tôi là “chú mày” cho nó nhẹ bớt. Tôi ngó theo ngón tay anh chỉ rồi nói:

– Đó là ổ của cá sặc đang đẻ trứng chớ có gì đâu anh

Vùng này cá sặc nhiều lắm, đây là cá sặc bướm, sống nước ngọt, nhỏ, mình dẹp trông có vẽ giống như cánh của con bướm. Cá mái màu trắng hay xám có một hoặc hai đốm đen tròn trên mình, cá trống có pha màu đỏ sặc sở. Cá sặc bướm chỉ lớn tối đa là cở ba ngón tay người lớn chớ không bằng cá sặc rằn(hay cá sặc lò tho) ở miền Tây lớn bằng nguyên bàn tay. Loại cá sặc này con nhỏ, tanh, ít thịt, xương nhiều mất thì giờ để làm nên ở đây không mấy người chịu khó ăn. Tới mùa sanh sản hai con kiếm một chỗ có cỏ gần bờ quậy ổ sơ rồi bắt đầu liên tiếp nhả bọt trắng thành một ề bằng cái dĩa bàn lớn sau đó lẫn quẫn ở phía dưới chờ đẻ trứng. Sau mấy ngày là trứng nở và cá con lớn lẹ lắm. Để ý sẽ thấy mấy con cá bảy trầu rình rình vô kiếm mồi bị vợ chồng cá sặc rượt đuổi chạy tứ tán. Độ một tuần là đàn cá con lớn, được cha mẹ cho “ra riêng” rồi tùy theo số mạng sống chết mặc bay. Cặp cá lại tiếp tục sống chờ tới mùa sanh sản kế tiếp nếu không mắc câu hay dính lưới của con người. Xóm tôi ngưòi ta lưới lên nhiều khi cả rỗ rồi bằm nhỏ cho gà vịt ăn, chớ kho cho người ăn thì rất ít. Tôi đứng lên vô nhà anh lấy cái rỗ rồi bước nhè nhẹ tới gần ổ cá sặc sau đó bất thần đưa rỗ hớt thiệt lẹ bên dưới đám bọt trắng. Dơ cái rỗ khỏi mặt nước, nước vẫn còn tiếp tục chảy xuống đất và bên trong lòng rỗ lẫn với bọt trắng là hai con cá sặc đang dãy lạch xạch. Anh Lăng ngạc nhiên:

– Ủa, dễ bắt dữ vậy à

– Ừ, đi lòng vòng mấy cái ao xóm mình một hồi kiếm năm bảy chục con dễ dàng. Tôi hay xúc đem về móc ngang vô lưng cắm câu cá lóc.

Ngồi ngó hai con cá sặc, ông ngẫm nghĩ một chút rồi hỏi:

– Chú mày có biết câu cá sặc không?

Tôi trả lời:

– Chưa bao giờ câu cá sặc, câu cá lóc, cá rô này nọ chớ có ai câu cá sặc này làm chi cho mất thời giờ. Cần thì xách rỗ đi xúc một chút là có liền rồi.

– Không được, như vậy thì phàm phu tục tử quá, không có thú phong lưu, không biết hưởng nhàn chút nào hết. Phải ngồi trên bờ mát mẻ, cầm cần chờ cá ăn từ từ mới hay, chú mày có nghe nói là Thủa chờ đợi, ôi, thời gian rét lắm”(Tình tự-Huy Cận) chưa?

Cái này thì tôi biết nên trả lời:

– Đây là ông Huy Cận nói chờ đợi người tình trông ngóng mõi mòn, thấy thời gian đi chậm lạnh lùng chớ còn anh chờ cá sặc ăn câu nào có phải chờ mấy cô bồ của anh. Mà mà tới chừng nó kéo cả đàn tới ăn giựt không kịp đỗ mồ hôi chớ không phải dỡn đâu.

Ông cười:

– Khi đó tao sẽ đổi lại thành “Khi giựt cá thời gian sao nóng quá”

Tôi nói:

– Anh muốn đi câu thì cũng dễ thôi, nhưng phải mua loại lưỡi câu nhỏ nhứt mới vừa miệng cá sặc.

– Được rồi để tao lo

Hai bữa sau ông đi Sài Gòn đưa bài cho mấy tờ báo, lấy tiền nhuận bút của tháng trước rồi ghé qua chỗ bán đồ câu mua ba cần câu bằng trúc, mười cái lưỡi câu loại nhỏ nhứt và một cuộn dây cước nhỏ. Tôi quên không dặn anh Lăng đừng mua loại cần câu dài lắm, nhưng nhờ anh đi xe đò chỉ có thể mua mấy cần dài cỡ hai thước mới để lên mui xe được cho nên lại đúng vô loại mà tôi muốn. Cá sặc bướm không lớn nên cần câu chỉ cần nhỏ nhưng phải có ngọn thật dịu, để khi giựt ngọn làm giãm bớt lực, lưỡi câu dễ móc vô miệng cá và bị lôi theo giây câu chớ không đến nỗi bị sứt mép. Cá sặc hay ở gần bờ nên cũng không cần cần câu dài lắm. Về ngang nhà tôi, ông liệng đồ câu cho tôi tóm lưỡi bởi vì tôi rành vụ câu cá hơn. Ác cái là anh Lăng lại quên mua phao làm tôi phải chạy ra chợ đứng kế bên mấy bà bán tỏi chờ khi ló ra cái lõi khô của củ tỏi để xin, gần tan bửa chợ mới đủ ba cái phao làm xong ba cần câu(anh Lăng nói là mỗi thằng một cây, còn cần thứ ba để sơ cua, lỡ khi gãy thì có cần khác thay liền khỏi chờ, thiệt là người lo xa). Tới chừng đem nhà ông, tôi nói:

– Để tui đi xúc một mớ tép rong đem về lột vỏ rồi mình đi câu.

Anh Lăng không chịu:

– Không được, như vậy không đúng điệu, phải đi thọc trứng kiến về câu mới nhạy.

Tôi hay nói với anh Lăng là câu cá rô bằng trứng kiến vàng bắt mồi dữ lắm nên ông cũng biết. Nghe nói tôi hết hồn, mùa nắng này mà lội bộ vô tuốt trong đồng để thọc trứng kiến thì ngán lắm. Vã lại lấy gì mà thọc, lơ mơ nó cắn chạy không kịp.

– Thôi đi anh ơi, thọc trứng kiến mắc công lắm và mình cũng đâu có sào để thọc.

Ông hỏi:

– Muốn thọc trứng kiến phải làm sao?

Tôi trả lời:

– Trước hết là phải có một cây sào dài cở bốn, năm thước. Sau đó phải làm một cái vợt bằng vãi mùng treo vô cây sào để hứng trứng kiến.

– Được rồi chú mày chỉ cách, để tao làm.

Ông lấy một đoạn sắt nhỏ cuốn thành vòng tròn đường kính cở hai tấc rưỡi, cột chỗ nối hai đầu lại cẩn thận. Sau đó chạy vô xin bà già cái mùng cũ bằng vãi dệt rất dày để khi trứng kiến rớt vô không lọt xuống được để may một cái vợt giống như vợt cà phê của mấy người bán cà phê bít tất nhưng lớn hơn. Cái này thì dễ, tới cây sào mới khó, trong xóm này không ai trồng tre cao hết. Hai anh em xách xe đạp giữa trưa nắng đi gần ba cây số(về bị la một trận) để này nĩ mua một cây tre về làm sào. Tôi ngồi phía sau ôm cây tre dựng đứng cao lêu nghêu, nắng cháy da nóng quá nên càm ràm:

– Anh thiệt là bày ra thêm chuyện, trời nắng chan chan như vầy mà cũng ráng đi cho khổ cực.

– Chú mày đúng là không biết gì hết, “nghề chơi cũng lắm công phu”(Truyện Kiều), mà chú mày ngồi không, tao đạp toát mồ hôi đây còn chưa than.

Tôi nghĩ lại cũng đúng, đi về đều do ông ấy nai lưng ra đạp còn mình ngồi phía sau, nên im luôn. Về tới nhà róc mấy cái mắt tre cho thiệt sạch, rồi lấy ba cây cọc sắt hàng rào ấp chiến lược nối dài để trên nền xi măng ngay ngắn và cột cây tre vô thiệt kỹ đem phơi nắng, mục đích là khi cây tre khô vẫn còn ngay chứ không cong queo. Bác Hai gái thấy hai thằng dang nắng la quá chừng nhưng sau đó kêu cho hai ly cà phê sửa đá giải khát. Tuần sau cây tre thiệt khô, mở ra vẫn thẳng và nhẹ, tôi lấy sợ giây làm quay sách cho cái vợt bằng vãi mùng rồi cột vô đầu ngọn tre, thấp xuống cở năm phân(phần cây ló ra để thọc vô ổ trứng kiến cho dễ). Tôi xách cái thùng thiếc bên trong có cái hộp nhỏ có nắp đậy để đựng trứng kiến và cái mác còn anh Lăng thì vác cây sào lội theo đường ruộng vô cái gò đất cũ của nhà anh nằm mé trong ruộng giữa trưa nắng cho đủ “công phu”. Má tôi nói :

– Hai đứa này bị cá hành, đi về mà cảm nắng sẽ bị ăn thêm đòn.

Cái gò này lúc trước là nền nhà của gia đình anh, sau này dọn ra gần đường lộ nên bỏ hoang mấy năm nay nhưng cây trồng khi xưa vẫn còn nguyên. Dừa, bình bát, điều, sộp, xoài có trái mà không ăn được vì tuốt trong xa có ai coi chừng đâu nên hể trái vừa lớn là bị hái trước. Kiến vàng làm ổ trên cây nhiều vậy chứ thiên hạ cũng có cách bẻ trái cây như thường. Tới nơi tôi lấy một sợ kẽm nhỏ cột cái vợt vãi mùng sao cho khi dựng đứng cây sào thì vành sắt sẽ đụng vô thân cây bằng một góc chín chục độ. Hai anh em đi dưới mấy tàn cây, mắt ngó ngược lên để kiếm ổ kiến. Kiến vàng có màu vàng đo đỏ lớn con hơn kiến lửa hay kiến hôi, hai càng mạnh mẻ nên cắn cũng đau hơn kiến lửa nhiều, lại thêm cái phần đuôi tròn vo chứa một loại nước có mùi chua nồng mà dân trong vùng tôi ở nói là nước đái của nó nếu bị xịt trúng vô mắt cay khó chịu lắm, phải cẩn thận khi thọc đưa mắt lên trên. Kiến vàng làm ổ đơn giản bằng mấy cái lá ghép lại với nhau bằng một lớp màng trắng vậy chứ trứng kiến nhỏ xíu không lọt xuống đất được. Khi tìm thấy ổ kiến, tôi chỉ cho anh Lăng, ông vác cây sào tới đứng phía dưới rồi tìm thế lách qua mấy nhánh cây và đưa ngọn sào thúc nhẹ vô ổ để coi cái vợt có nằm chính xác như ý muốn không. Sau đó thọc ngọn sào vô thêm một chút rồi rung từ từ để thử, nếu trứng kiến trắng rớt gọn vô vợt thì bắt đầu lắc mạnh hơn để cho chỗ rách của ổ lá lớn ra và hứng trứng rớt từng đám vô vợt phía dưới, nếu không thì phải làm lại từ đầu. Phải làm cho lẹ để tránh kiến vàng theo cây sào bò xuống tấn công người thọc nhưng không bao giờ tránh khỏi, khi rung cây sào thì kiến vàng rớt từ ổ xuống đầu, mặt hay lọt vô cổ áo cắn cho nhảy nhõm. Câu cá sặc cần ít trứng kiến nên độ khoảng một chén ăn cơm là đủ, ổ lớn thì nhiều khi chỉ cần thọc một ổ là đủ, ổ nhỏ hai hoặc ba là vừa, để cho kiến sanh sôi nẩy nở lần sau thọc tiếp. Đi thọc trứng kiến lần nào anh em tôi cũng nhân tiện hái về mớ trái cây còn sót lại hay nắm đọt sộp về ăn kèm với rau sống.

Sau khi ăn cơm trưa, ngủ một chút rồi dậy đi câu cá sặc là thích thú nhứt. Trưa hè ngồi dưới mấy tàn cây mát rượi, chờ cá ăn rồi giựt thoải mái lắm. Tôi lấy một nhúm trứng kiến bóp nát ra giữa hai ngón tay rồi thảy xuống ao chỗ muốn câu. Khi bể trứng kiến chảy ra nước sền sệt màu trắng đục như sửa có mùi chua chua hơi rít, xuống nước tỏa ra chung quanh để hấp dẫn cá, chưa tới một phút là đã có một bầy cá sặc, cá rô bu tới ăn mồi. Trứng kiến đại khái giống như hột gạo trắng, hơi nhỏ hơn một chút cầm thấy mềm mềm, mỗi lần móc mồi là một trứng, chứ không nhiều như khi câu cá rô phải lấy một nhúm rồi vắt lại mạnh chung quanh lưỡi câu. Lấy ngón cái và ngón trỏ kẹp lấy một cái trứng kiến, tay kia cầm lưỡi câu móc vô một đầu rồi luồn lưỡi câu theo chiều dài của trứng làm sao đừng để mũi nhọn của lưỡi câu ló ra ở đầu kia là được. Đi câu cá rô mà cứ bị cá sặc rĩa mồi hoài tức lắm, miệng của mấy con sặc bướm thiệt nhỏ, không bao giờ nuốt được hết lưỡi để câu cá rô. Mồi trứng kiến vắt lại thành cục hình tam giác bị vài con cá sặc lướt qua là hết sạch, giựt không bao giờ dính.

Khi thả câu phải nhắm chừng ao sâu cạn để kéo cái phao sao cho mồi chìm khoảng lưng chừng dưới mặt nước chứ đừng xuống quá gần tới đáy ao. Nước trong vắt có thể thấy rõ ràng con cá nhào tới đớp mồi rồi quay đuôi lội đi, kéo theo cái phao lúc chìm xuống, lúc nỗi trên mặt nước đi phăng phăng. Đây đúng là lúc phải giựt, cầm cần câu giựt nhẹ một cái là đủ để xốc lưỡi vô miệng cá, rồi dở nó lên khỏi mặt nước, con cá sặc uốn éo theo dây câu đong đưa. Vậy chứ vẫn bị cảnh giựt lưỡi câu không hay chú cá lên được một đoạn rồi rớt trở lại xuống ao, vì mạnh tay quá mà miệng cá sặc bướm rất nhỏ nên sứt mép, con cá lội mất. Gỡ cá ra bỏ vô thùng thiếc có sẵn chút nước, móc một trứng kiến khác, rữa tay rồi thả cần xuống trở lại để chờ con khác tới nạp mang. Anh Lăng là người giựt được con cá sặc đầu tiên, ngó con cá lội qua lại trong thùng nước, ông lên giọng triết lý:

– Mười con cá dưới ao không giá trị bằng một con trong thùng.

Tôi cù nhầy:

– Không phải đâu, phải hơn chứ, mười con cá dưới ao, đang để nuôi tạm đó, khi nào muốn bắt lên, tui đem cái lưới bén ra quơ một cái là có ngay.

Ông trợn mắt ngó tôi rồi không thèm chấp nhứt, chăm chú câu tiếp. Tụi tôi chỉ bắt cá từ hai ngón tay trở lên, nhỏ hơn thả lại để nuôi tiếp cho lớn. Lúc đầu nhạy lắm, giựt liền liền, hầu như mỗi phút là một, hai con cá mắc câu nhưng sau đó thì “hôi” chậm lại nên hai anh em dời đi chỗ khác, lại bóp nát trúng kiến dụ cá rồi giựt đều đặn. Trong lúc giựt cá hứng chí anh Lăng còn đọc:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẽo teo (Thu vịnh, Nguyễn Khuyến)

Tôi phá ngang:

– Ao thu là gì anh Lăng?

– Là ao nước vào mùa thu

– Vậy chớ mình bây giờ đang là mùa hè và làm khỉ có thuyền bè ở đây.

– Chú mày thiệt là đầu óc cứng ngắc, không có một chút tưởng tượng, lãng mạng thơ phú gì hết. Mùa hè mà có gió nhè nhẹ như vầy thì coi như mùa thu đi, rồi thấy cái ao nước này chưa, có phải trong veo hay không. Còn thuyền thì rõ ràng đây chớ còn gì nữa, mình đang ngồi nghế dựa ngon lành giống như thuyền chớ khác gì.

Tôi đành chịu thua, đúng là đầu óc của người viết lách, thấy cái gì cũng khác hơn thiên hạ. Câu một hồi được gần trăm con cá sặc mà trứng kiến chỉ mới hao phân nữa, tôi khen anh:

– Anh đúng là có ý kiến hay, trứng kiến câu cá rô đã ngon lành rồi mà với cá sặc còn nhạy hơn nữa.

Ông trả lời:

– Chớ còn gì nữa, tới người ta còn khoái ăn trứng kiến nói chi cá.

Tôi hỏi:

– Anh có ăn chưa mà biết, chớ còn tui thì tui ăn rồi đó, hơi béo, măn mẵn, chua chua.

– Vậy hả

Rồi ông lấy mấy trứng kiến bỏ vô miệng nhai thử và phung ra:

– Khó ăn, lạ quá

Có một bác trong xóm đi ngang qua thấy hai ông cãi nhau, đứng lại ngó vô thùng cá, rồi nói:

– Hai đứa bây câu không coi, cứ lo nói chuyên đâu đâu, cá ăn không giựt để lâu hết mồi

Mấy bà già thiệt hay và sắc bén, nhân cơ hội sử dụng ca dao lại biến ra một chút cho hợp cảnh, thay vì nguyên dạng là “Ai về nhắn với ông câu, cá ăn thì giựt để lâu hết mồi”, thấy hai ông câu ngồi ngay trước mặt đang đấu láo, bà sửa lại một chút rất khéo léo. Tới bốn giờ chiều hai anh em cuốn cần, dọn đồ về với hơn một trăm con cá sặc và cần thì còn nguyên và cũng không mất lưỡi câu nào. Bác hai má anh Lăng thấy hai thằng mặt mày hớn hở ngó vô thùng rồi ngạc nhiên:

– Úy, hai anh em bây làm cũng bộn dữ ha.

Tôi nói với anh Lăng để tôi đem mớ cá sặc ra bằm nhỏ rồi thảy cho gà, vịt ăn, ông không chịu:

– Thứ này xương nhỏ nhiều, mình chiên dòn rồi ăn luôn xương, để tao làm cho.

Tôi chưa ăn thử cá sặc bướm chiên bao giờ, chỉ lâu lâu mới lựa độ mười con cá đực thiệt lớn kho tiêu, khi ăn chỉ giẽ thịt hai bên mé trên rồi bỏ chứ dưới bụng xương nhỏ nhiều lắm, ăn cá sặc giống như cọp ăn bù mắt.

Nói xong anh đem thùng cá đi ra sàn nước phía sau nhà. Ông chê tôi làm không kỹ nên tự mình đánh vãy cá rồi bỏ qua một bên cho tôi lấy kéo cắt vây trên lưng, dưới bụng, hai bên hông và đuôi rồi để cho anh lo tiếp. Anh cắt bỏ đầu và ruột chỉ giữ lại trứng nếu có rồi băm đầu cá ra mấy miếng nhỏ liệng qua cho bầy gà đang chờ phần kế bên, rất gọn và sạch sẽ. Sau đó anh rinh cái lò bằng đất ra hè, đốt than cháy đỏ rồi lấy cái chảo đáy bằng để lên rồi múc một muỗng nhỏ mỡ cho vô chảo. Ông nói:

– Cá sặc này mõng nên chiên với thiệt ít mỡ đủ để chín dòn chớ nhiều quá mỡ ngấm sâu vô thịt ăn không còn mùi vị của cá, ngấy lắm. Mà phải chiên bằng mỡ mới thơm, chứ dầu ăn không bằng đâu.

Tôi nghĩ là anh có lý, anh nói thêm là tao đem lò ra đây chiên cho mỡ khỏi văng tùm lum dơ bếp, bụi than rớt đầy nhà, bà già lau lại chữi tụi mình. Trong khi anh chiên cá, tôi chạy qua nhà bà Mười ở kế nhà tôi mua một xị rượu đế nước nhứt. Bà Mười nấu rượu nếp rất ngon, nước nhứt đặc biệt có ít, chỉ để bán cho người quen chứ không phổ biến rộng rãi. Tôi lại ra phía miếng đất sau nhà mình hái một nắm cải bẹ xanh non và mớ rau sống gồm có dấp cá, rau răm và húng lũi và thêm đọt sộp hái trong gò trưa hôm qua. Khi trở lại thì anh đã làm xong chén nước mắm chanh, tỏi, ớt và bốn chục con cá sặc cũng sắp chiên xong. Ngó dĩa cá chiên đầy vun vàng rộm bên cạnh rỗ rau sống xanh om và chén nước mắm đỏ ớt rất là bắt mắt. Tôi bày xị rượu và hai cái ly nhỏ rồi rót ra, rượu nếp chánh gốc không pha trộn gạo nồng nực hương, mùi cá chiên mỡ và nước mắm thơm lừng, miệng chảy nước miếng hồi nào không hay.

Xong xuôi hay anh em ngồi xuống, trước hết lấy lá cải non gấp phần cọng vô trong lá để lên thêm một cọng rau dấp cá, một cọng rau răm, một lá rau húng và vài đọt sộp rồi gắp con cá chiên dằn xuống, cuốn sơ lại và chấm vô chén nước mắm nhỏ của riêng mỗi người rồi đưa lên miệng nhai luôn xưong dòn rụm. Lúc đầu tôi hơi ngán xương nhỏ, nhưng sau khi nhai kỹ lại thấy xương chiên dòn tạo thành những âm thanh gây thêm hứng khởi hòa tan theo cái béo ngọt của cá, hơi nhẫn từ cải bẹ xanh, cái cay nồng của tỏi ớt, rồi mùi hăng hắc the the ngược lên hốc mũi của húng, rau răm, dấp cá và chua chua của chanh, lá sộp. Sau khi cái tổ hợp này qua khỏi cổ, nhấp vô nữa ly rượu nước nhứt cay nồng, thấy đầu óc bừng lên hừng hực, rượu chảy dài nóng ran theo thực quản vô tới bao tử. Tới giờ, khi ăn mới thấy là cá nhỏ cở hai ngón tay là vừa ăn vì xương sống chưa lớn lắm nhai luôn rất ngon, không phải gỡ bỏ như mấy con cở ba ngón tay, nhưng lúc đi câu ai lại không ham bắt con lớn, chim trời cá nước có người nào chịu thua lựa thứ nhỏ. Anh em tôi uống rượu rất ít, một xị có mười hai ly, mỗi lần hai thằng chỉ uống bốn, năm ly là cùng, không nhiều hơn. Anh Lăng hay nói uống rượu để biết cái ngon chứ không phải để say, tôi làm tới hai ly là hết mức, anh Lăng rán lắm thì được ba ly rưỡi chứ chưa bào giờ tới bốn. Lúc đó bác Hai trai ba anh Lăng đi làm trong kho dầu về tới ra sau nhà rữa mặt, thấy hai thằng đang gầy mâm nghe tụi tôi mời cũng ngồi xuống. Bác rót một ly đầy và uống cạn nghe một cái trót thiệt đã tai rồi khà ra khoái trá sau đó cuốn một con cá chiên với rau, chấm miếng nước mắm ăn rồi khen:

– Hai đứa bây làm ăn được đến chứ. Món này lạ miệng đây, cây nhà lá vườn, đơn giản mà ngon. Rượu cũng đúng là nước nhứt của bà Mười, không chê chỗ nào được

Bác uống luôn bốn ly, sừng sừng, ăn mấy con cá rồi đứng dậy. Trước khi bỏ vô nhà ông bỏ thêm một câu:

– Anh em tụi bây uống rượu thấy phát chán, hai thằng cọng lại không bằng người ta xúc miệng một cái.

Ông rành hai thằng này quá, bao giờ cho nhậu chung cũng chỉ phá mồi rồi đó chạy làng chỉ sau vài ly nhỏ, hai thằng ngó nhau rồi nhún vai ra vẽ bất cần lời chê bai của ông già.

Lâu lắm mới trở về xóm cũ, ghé qua nhà anh Lăng, giờ đã thành ông già gần bảy chục tuổi đời, cháu nội ngoại gần mười đứa, một trong mấy cô bồ làm anh “phát ngán” ngày xưa hiện là vợ anh. Sau mấy chục năm đi dạy, anh đã về hưu, giờ ở nhà đưa đón dùm và kèm cặp thêm cho lũ cháu sống gần bên cũng trong xóm này. Gặp lại anh, cũng ngồi ngay chỗ hàng dừa năm xưa chỉ có điều không còn bóng cây nào, đốn hết rồi. Cái ao kế bên đã thay bằng căn nhà lầu bốn từng cao ngất ngưỡng, hai người ngồi uống bia buổi trưa mùa hè mà hình như vẫn còn thấy bóng của mấy con cá sặc bướm bị lũ cá tràu cững rượt chạy dợn sống. Tôi ngồi buồn buồn nói với anh Lăng:

– Hồi xưa tôi với anh cãi hoài về “thương hải tang điền” chân trời góc biển xa xôi mà cứ ngỡ đời này không có cơ hội thấy qua cảnh bãi biễn hóa thành ruộng dâu, bây giờ mới biết mình còn hạn hẹp ghê đi. Ngay trước mắt đây, trong phạm vi nhỏ này, ao nước biến thành nhà lầu, rồi đám ruộng bên trong, một cây lúa cũng không còn, bao nhiêu nhà cao cửa rộng đã mọc lên, người dập dìu, xe ra vô nồm nộp ồn ào từ sáng tới khuya, đây chính là một cuộc biển dâu của cuộc đời xãy ra trước mắt chớ còn đâu nữa.

– Ờ, tao ở đây lâu quá, thấy sự thay đổi mỗi ngày nên cũng không để ý, bây giờ chú mày nhắc mới thấy đúng.

Ngừng lại một chút anh nói tiếp:

– Tao cứ nhớ mấy lần mình đi thọc trứng kiến về câu cá sặc, giờ xóm này không còn chỗ nào có ao nước để mà cá sanh sống nữa, hoàn toàn hết rồi. Còn muốn thọc trứng kiến cũng rất khó, ruông bỏ hoang đã lâu đâu có ai cày cấy gì nữa nên bờ ruộng không người đắp hàng năm sạt lở tan tành, chỗ nào còn cỏ dại mọc um tùm không đi được. Mấy cái gò đã bán nhưng chưa cất nhà cửa gì tới, bây giờ cây mọc như rừng, gai góc rắn rít đầy dẫy ai dám khơi khơi vô đó.

Thấy anh cũng có vẽ mơ về ngày tháng cũ tôi hỏi thêm:

– Vậy chớ anh nhớ cái gì nhiều nhứt

Anh ngẫm nghĩ một chút rồi nói:

– Cái buổi trưa đi mua tre về làm sào để thọc ổ kiến lấy trứng, trời nắng chan chan hai thằng không đứa nào có nón, tao còng lưng ra đạp xe toát mồ hôi, chú mày ngồi sau khỏe re như con bò kéo xe lại còn cằn nhằn.

Bà vợ ông cười ngất:

– Hai cái ông này, chuyện xưa nhỏ bằng đầu ngón tay út, đã hơn bốn chục năm mà vẫn còn nhớ, thiệt là.

Ông ngậm ngùi nói tiếp:

– Hồi đó mình còn trẻ, đầy sức sống chuyện gì làm cũng không sợ, cũng lướt qua được. Bây giờ nghĩ lại  đó cũng là những hình ảnh đẹp của một khoảng đời đầy háo hức đã qua. Ai lại không có “một thời để yêu và một thời để sống”, mình tận hưởng theo quan niệm, điều kiện có trong tay của riêng mình là đủ rồi.

Tôi biết là anh nói đúng. Ở cái tuổi này người ta thỏa mãn với quá khứ và ít ai kỳ vọng về tương lai, bởi vì mỗi bước về hướng tương lai là một bước gần lại với sự trở về cát bụi của con người. Còn may là anh đi dạy mấy chục năm qua, dầu gì thì cũng có cơ hội tiếp xúc với cái trẻ trung bừng bừng sự sống của đám học trò lớp này sang lớp khác nên lây được cái tươi vui mơn mỡn của môi trường chung quanh, điều này không nhiều thì ít cũng ngăn cản được cái già nua của con người theo thời gian. Coi anh còn khỏe mạnh và an nhàn tự tại lắm trong cuộc sống với gia đình.

Tôi ngó ly bia tươm hơi lạnh bên ngoài thành ly và nhớ tới rượu nếp nước nhứt của bà Mười anh em tôi hay uống lúc đó. Bà Mười mất đã lâu, cái lò nấu rượu đốt bằng trấu có ống khói xây bằng gạch cao khỏi mái nhà đã bị đập ra làm xà bần tráng xi măng cho đường đi. Trong xóm bây giờ không còn ai nấu rượu như bà nữa, muốn kiếm được một xị đúng như của bà nấu năm xưa là điều không thể nào thực hiện được trong vùng này. Tôi đưa ly bia lên uống một ngụm rồi nói:

– Bây giờ anh uống rượu khá chưa? Nhớ lúc đó cứ bị ông già chê lên chê xuống “hai đứa bây uống không bằng người ta xúc miệng một cái”. Hy vọng là mình uống bia thì nhiều hơn người ta xúc miệng một chút.

Anh cười khà khà.

Share this:

  • X
  • Facebook
  • Email
Like Loading...

Related

Từ khóa » Câu Cá Lò Tho