Chùa Bái Ân (Cầu Giấy, Hà Nội) - Chốn Thiêng
Có thể bạn quan tâm
Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Bái Ân là một di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu, nằm tại địa bàn tổ dân phố số 1, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Tên gọi “Bái Ân” có thể hiểu theo nghĩa là “bái lạy để ghi nhớ ân đức”, thể hiện tinh thần tôn vinh công lao của các bậc tiền nhân có công với làng xã và đất nước.
Ngôi đình tọa lạc trong một khu dân cư cổ của vùng Kẻ Bưởi xưa, là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương trong nhiều thế kỷ. Đây cũng là một trong số ít những ngôi đình cổ còn bảo tồn được nhiều yếu tố gốc về kiến trúc và nghi lễ truyền thống tại khu vực phía Tây Bắc nội thành Hà Nội.
Lịch sử và nhân vật
- Lịch sử
Đình Bái Ân là ngôi đình cổ của kinh Thành Thăng Long. Đình được tạo dựng vào thời nhà Lý (đầu thế kỷ XI) đến năm Đinh Mùi 1127 niên hiệu “Thiên phù khánh thọ nguyên”. Ban đầu, Đình Bái Ân chỉ là 1 ngôi Đình đơn sơ, quy mô nhỏ hẹp để dân làng hương khói mùng 1 và ngày rằm.
Trải qua thời gian, đình Bái Ân từng trải qua nhiều lần trùng tu và tu sửa lớn, đáng chú ý là hai giai đoạn vào các năm 1634 – 1637 và 1652 dưới triều Lê Thần Tông được hưng công, tôn tạo và trở nên khang trang, rộng mở với lối kiến trúc “nội công – ngoại quốc”.
Vào những năm năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748) đình tiếp tục được tu sửa và tôn tạo. Tòa Tiền Tế của đình được sửa vào 10/11 năm Tân Dậu niên hiệu Khải Định thứ 6 (1921); Hậu Cung được sửa vào ngày 19/11 năm Đinh Sửu niên hiệu Bảo đại thứ 12 (1937)
Không chỉ là trung tâm tín ngưỡng, đình Bái Ân còn có vai trò đặc biệt trong các giai đoạn cách mạng. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, nơi đây được chọn làm trạm liên lạc của Xứ ủy Bắc Kỳ, với sự hoạt động bí mật của nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao như Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Thụ… Trong giai đoạn Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939), khi Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương xây dựng “khu an toàn trung ương” ở vùng ven đô như Nghĩa Đô, Xuân Đỉnh, Phú Thượng, Đông Ngạc, thì Bái Ân đã trở thành một điểm liên lạc quan trọng.
Địa điểm “Quán Cây” trong khuôn viên đình, vốn là một gò đất cao, cây cối rậm rạp, có ao cá bao quanh, được đánh giá là vị trí thuận lợi để ngụy trang và tổ chức hoạt động cách mạng, đã được chọn làm nơi nối thông tin giữa các cơ sở trong vùng an toàn khu. Từ năm 1941 đến 1945, Quán Cây giữ vai trò là điểm liên lạc bí mật vô cùng an toàn. Sang thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây tiếp tục được sử dụng làm điểm đặt “hòm thư chết” để vận chuyển tài liệu từ căn cứ ra nội thành Hà Nội. Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quán Cây lại tiếp tục phát huy vai trò khi trở thành đài quan sát của trạm thông tin phục vụ hoạt động liên lạc từ khu Bưởi vào nội đô.
Với vai trò là trung tâm tín ngưỡng, văn hóa và cách mạng, đình Bái Ân không chỉ là một công trình kiến trúc truyền thống mà còn là chứng nhân lịch sử, gắn bó mật thiết với các bước ngoặt lớn của đất nước trong thế kỷ XX.
- Nhân vật
Đình được xây dựng để thờ ba vị Thành hoàng làng gồm: Chiêu Ứng Vũ Đại Vương Uy Linh Phúc Thần, Chiêu Điều Đại Vương và Thuận Chính Công chúa.
Theo truyền thuyết dân gian lưu truyền tại làng Bái Ân (phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội), vào cuối thời Lý Nhân Tông (1072- 1127), có ông Vũ Phục, người gốc Phong Châu, di cư về cư trú tại xã Minh Tảo, huyện Từ Liêm. Ông kết hôn với một người phụ nữ họ Đỗ quê ở làng Bái Ân. Hai vợ chồng lấy nghề bán dầu làm kế sinh nhai, sống đạm bạc, hiền lành, được người dân yêu quý. Bấy giờ, vua Lý Nhân Tông lâm bệnh đau mắt, thuốc thang nhiều nơi không khỏi. Vua cho triệu thầy bói Quy Cốc tiên sinh từ chùa núi Vân Mộng, huyện Kim Bảng (nay thuộc Hà Nam) đến xem vận nước.
Thầy đoán rằng nguyên nhân bệnh của vua là do thủy khí phương Tây Bắc xung sát, cụ thể là dòng hợp lưu của sông Thiên Phù và sông Tô Lịch dội thẳng vào kinh thành Thăng Long, gây tổn thương long mạch. Nếu muốn hóa giải, cần phải trấn thủy bằng một nghi lễ thiêng. Nhà vua đã nhiều lần cho người lấp dòng sông nhưng không thành. Sau đó, lập đàn cầu đảo, xin thần linh giúp sức. Đêm ấy, vua mộng thấy một vị thần hiện về phán rằng:
“Sáng mai, nếu gặp người đầu tiên xuất hiện tại đoạn sông này, hãy làm theo ý nguyện của họ, rồi tiễn họ xuống sông làm vật tế. Khi ấy, dòng nước sẽ chịu yên.”
Sáng sớm hôm sau, lính gác nhìn thấy vợ chồng ông Vũ Phục gánh dầu đi ngang qua đoạn sông định trấn. Khi được kể lại lời thần phán, ông bà không chút ngần ngại, chỉ xin được ăn món mình yêu thích: xôi dẻo, bò béo, gà mái ghẹ. Sau bữa ăn, ông bà ngửa mặt khấn rằng:
“Chúng con vì nước quên thân, xin lấy cái chết đổi lấy bình yên cho xã tắc. Mong trời đất chứng giám.”
Dứt lời, hai người tự nguyện gieo mình xuống sông tuẫn tiết, vào đúng ngày 30 tháng 11 âm lịch.
Người em trai của ông Vũ Phục vì không thấy anh chị trở về, liền đi dò hỏi khắp nơi. Khi đến khu vực Ao Cá, nhìn thấy nơi anh chị đã “hóa”, ông đau đớn định chạy tới thì bị lính canh ngăn lại. Quá uất nghẹn, ông đập đầu vào gốc cây cổ thụ gần đó mà mất. Sự kiện xảy ra vào ngày mùng 6 tháng Chạp. Sau này, tại nơi ông mất, đất đùn thành gò cao, dân gian gọi là gò Quán Cây. Trên gò, nhân dân lập một ngôi mộ tượng trưng và dựng nhà quán nhỏ để tưởng nhớ.
Hằng năm, vào dịp lễ hội, dân làng Bái Ân tổ chức lễ giỗ ba vị Thành hoàng rất trọng thể. Lễ vật cúng Đức Thánh Ông và Đức Thánh Bà thường là xôi dẻo, bò béo, gà mái ghẹ, đúng theo tâm nguyện mà hai vị đã tỏ bày trước khi hóa thân. Riêng với Đức Thánh Chú, lễ vật gồm thủ lợn, đuôi lợn, ít lông mao và một bát tiết sống. Sau lễ cúng, tiết được đổ xuống Ao Cá – nơi ông hóa thân. Theo lời cụ Thái Đình Khải, Trưởng Ban quản lý di tích đình Bái Ân:
“Lễ tiết dâng Đức Thánh Chú có thể là hình tượng hóa khoảnh khắc ngài mất do hộc máu, mang yếu tố tượng trưng sâu sắc.”
Kiến trúc cảnh quan
Đình Bái Ân được xây dựng trên một khu đất cao, bố cục mặt bằng theo trục dọc truyền thống với kết cấu tổng thể nội công ngoại quốc, gồm các lớp không gian tiến dần vào trung tâm. Phía ngoài là Nghi Môn cổ, dẫn vào một sân đình rộng, hai bên sân là hai dãy Tả mạc và Hữu mạc, được thiết kế đối xứng, tạo nên sự cân xứng và trang nghiêm cho không gian lễ nghi và sinh hoạt cộng đồng. Các công trình trong đình đều sử dụng vật liệu truyền thống như gỗ lim, ngói ta, tường gạch trát vữa, kết hợp hài hòa giữa kết cấu vững chắc và đường nét mềm mại.
Điểm nhấn đặc biệt trong quần thể di tích là khu vực Quán Cây, một gò đất cao hơn mặt bằng dân cư khoảng 3m, vốn trước kia là nơi trồng nhiều cây cổ thụ tỏa bóng quanh năm. Trên đỉnh gò từng có một nếp nhà cấp bốn đơn sơ, từng được sử dụng làm nơi họp bí mật và giữ vai trò điểm liên lạc cách mạng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và kháng chiến. Gò Quán Cây không chỉ có giá trị về lịch sử cách mạng mà còn góp phần tạo nên địa thế linh thiêng, phong thủy hữu tình cho toàn bộ di tích.
Kề bên khu gò là Ao Cá, vừa có chức năng điều hòa tiểu khí hậu, vừa làm yếu tố cảnh quan sinh thái góp phần tôn thêm vẻ thanh tịnh cho quần thể. Văn chỉ nơi thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền của làng cũng được bố trí gần đó, thể hiện truyền thống hiếu học và đạo lý “tôn sư trọng đạo” của người dân Bái Ân xưa.
Trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay, tuy cảnh quan chung quanh di tích đã có nhiều thay đổi, nhưng khu vực gò Quán Cây và đình Bái Ân vẫn được người dân địa phương bảo tồn gần như nguyên trạng. Các hàng cây xanh trên gò được chăm sóc, giữ gìn, tạo nên một khoảng không gian thanh tịnh và linh thiêng giữa lòng đô thị hiện đại.
Với dáng dấp của một tác phẩm nghệ thuật kiến trúc dân gian đặc sắc, đình Bái Ân không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng mà còn là biểu tượng lưu giữ giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, gắn liền với lịch sử, truyền thống và bản sắc vùng đất Nghĩa Đô. Đây là niềm tự hào của người dân địa phương, cũng là di sản quý giá cần được bảo tồn và tôn tạo cho các thế hệ mai sau.
Hiện vật
Hiện nay, đình Bái Ân vẫn còn lưu giữ được một hệ thống hiện vật phong phú và có giá trị đặc biệt, góp phần phản ánh chiều sâu lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của địa phương qua nhiều thế kỷ.
- Trong số đó, đáng chú ý nhất là 15 đạo sắc phong và 2 lệnh chỉ do các triều vua từ thời Lê Trung hưng đến thời Nguyễn ban tặng, ghi nhận công trạng và sự linh ứng của ba vị Thành hoàng được thờ phụng tại đình. Đạo sắc phong cổ nhất được bảo tồn tại đình có niên đại ngày 24 tháng 5 năm Đức Long thứ 6 (1634), triều vua Lê Thần Tông, đến nay đã 390 năm, là một trong những tư liệu Hán Nôm quý giá hiếm có còn lại tại Hà Nội. Các sắc phong không chỉ có giá trị về mặt hành chính và tín ngưỡng, mà còn mang ý nghĩa nghệ thuật qua cách trình bày, thư pháp và kỹ thuật chế tác trên chất liệu giấy sắc truyền thống.
Ngoài hệ thống sắc phong, đình còn lưu giữ nhiều cổ vật có giá trị như:
- Ba kiệu bát cống được chạm khắc tinh xảo từ thế kỷ XVII, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian thời Lê;
- Ba ngai thờ cổ với hình thức trang nghiêm, chạm nổi họa tiết rồng phượng;
- Hai tấm bia đá: một dựng vào thời Cảnh Hưng vạn niên, một vào thời Gia Long vạn niên, ghi chép công đức và việc trùng tu đình;
- Một cuốn ngọc phả thời Gia Long, là tài liệu gốc ghi lại thân thế, công trạng và sự tích ba vị thần;
- Một chiếc chiêng cổ và một quả chuông đồng đúc thời Gia Long, thường được sử dụng trong các nghi lễ trang trọng;
- Cùng với nhiều hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng, đồ đồng, đồ sứ cổ, tất cả góp phần tạo nên không gian linh thiêng, đậm đà bản sắc văn hóa truyền thống.
Hệ thống hiện vật phong phú và được bảo tồn khá nguyên vẹn tại đình Bái Ân là minh chứng sinh động cho vai trò trung tâm của ngôi đình trong đời sống văn hóa – tín ngưỡng của cộng đồng qua nhiều thời kỳ lịch sử.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội đình làng Bái Ân là một sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tiêu biểu, được tổ chức hàng năm trong hai ngày mùng 9 và mùng 10 tháng Hai âm lịch nhằm tôn vinh công đức của ba vị Thành hoàng làng: Chiêu Ứng Vũ Đại Vương Uy Linh Phúc Thần, Chiêu Điều Đại Vương và Thuận Chính Công chúa, những nhân vật lịch sử – thần thoại có công lớn trong việc bảo vệ và khai phá vùng đất Nghĩa Đô xưa. Lễ hội diễn ra trong không khí trang nghiêm nhưng cũng đầy sức sống, thể hiện rõ nét tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, gắn kết cộng đồng và bảo tồn các giá trị truyền thống của cư dân làng cổ vùng châu thổ sông Hồng.
Ngày mùng 9 tháng Hai âm lịch là ngày mở hội: Buổi sáng, các cụ cao niên có uy tín trong làng, trong trang phục lễ phục truyền thống, thực hiện lễ cáo yết trước ban thờ Thành hoàng làng, báo cáo các công việc của làng trong năm qua và cầu xin các vị thần phù hộ cho dân làng mạnh khỏe, no ấm, thuận hòa, phát đạt. Sau nghi lễ trang trọng là lễ rước kiệu quanh làng, với sự tham gia của đông đảo nam thanh nữ tú và người dân, trong âm vang rộn ràng của trống hội, cờ lọng và nhạc lễ cổ truyền. Buổi chiều là thời gian dành cho các tiết mục văn nghệ, biểu diễn ca múa dân gian và trò chơi truyền thống do các tổ dân phố và dòng họ trong làng tổ chức, tạo nên bầu không khí sôi nổi và gắn bó cộng đồng.
Ngày mùng 10 tháng Hai âm lịch là ngày chính hội: Lễ chính bắt đầu với nghi lễ tế nam và tế nữ, do các cụ bô lão, phụ lão được tuyển chọn kỹ lưỡng từ các dòng họ trong làng thực hiện theo nghi thức cổ truyền. Sau đó là phần lễ dâng hương của các đoàn đại biểu từ các làng bạn và đông đảo người dân đến tham dự. Không khí lễ hội tiếp tục được hâm nóng vào buổi chiều với các hoạt động vui chơi giải trí mang đậm tính dân gian như chọi gà, đánh cờ, hát đối đáp, hát chèo – những trò chơi không chỉ hấp dẫn mà còn lưu giữ ký ức văn hóa của người dân vùng Kẻ Vẽ xưa.
Lễ hội kết thúc vào xế chiều cùng ngày bằng nghi lễ tạ ơn long trọng do các bậc cao niên trong làng thực hiện, thay lời cảm tạ công đức các vị Thành hoàng đã “che chở mưa thuận gió hòa, dân khang vật thịnh”.
Qua dòng chảy thời gian, lễ hội đình làng Bái Ân vẫn được cộng đồng dân cư gìn giữ như một di sản văn hóa phi vật thể sống động, phản ánh tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, đồng thời cũng là dịp thắt chặt tình làng nghĩa xóm, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hiện đại.
Xếp hạng
Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và kiến trúc, đặc biệt là vai trò quan trọng của đình trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và kháng chiến chống Pháp, ngày 05 tháng 8 năm 2005, đình Bái Ân đã được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 5563/QĐ-UBND, xếp hạng là Di tích Lịch sử Kháng chiến cấp thành phố. Năm 2025, đình Bái Ân tiếp tục được UBND Thành phố Hà Nội xếp hạng Di tích Lịch sử – Nghệ thuật.
Việc xếp hạng không chỉ ghi nhận giá trị to lớn của đình Bái Ân trong tiến trình cách mạng mà còn khẳng định đây là một thiết chế văn hóa truyền thống đặc biệt, cần được bảo tồn, phát huy trong dòng chảy di sản của Thăng Long – Hà Nội.
Tài liệu tham khảo
- “Đình làng Bái Ân: Bí ẩn câu chuyện thờ Tam Thánh”, VOV Giao thông, Ngày 26/06/2018.
- Thanh Thủy, “Làng Bái Ân – Dân quyên sinh chữa đau mắt cho vua”, Bảo tàng lịch sử Quốc gia, Ngày 06/09/2012.
- “Lễ hội nghênh xuân Đình làng Bái Ân – Quán Cây – Ao Cá phường Nghĩa Đô”, Cổng thông tin điện tử quận Cầu Giấy – Thành phố Hà Nội, Ngày 09/03/2025.
- Hồng Hải, “Làng Bái Ân”, Báo Hà Nội mới online, Ngày 04/04/2004.
- Đình Bái Ân, Di tích lịch sử – văn hóa Hà Nội.
- Quán Cây – Ao Cá – Đình Bái Ân, Cổng thông tin điện tử quận Cầu Giấy – Thành phố Hà Nội, Ngày 09/03/2025, Ngày 02/11/2018.
- Hà Nội: Xếp hạng 16 di tích lịch sử- văn hóa và danh lam thắng cảnh, Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Ngày 26/05/2025.
Từ khóa » Chùa Bái ân
-
Đình Làng Bái Ân: Bí ẩn Câu Chuyện Thờ Tam Thánh
-
Chùa Bái Ân - Ngõ 191, Lạc Long Quân, Q. Cầu Giấy, Tp. Hà Nội
-
Làng Bái Ân | Chùa Phật Giáo - Wikimapia
-
Làng Bái Ân - Hànộimới
-
ĐÌNH BÁI ÂN - Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội
-
Làng Bái Ân - Dân Quyên Sinh Chữa đau Mắt Cho Vua
-
Lễ Hội đình Bái Ân Tại Hà Nội
-
Hội đền Bái Ân - Văn Hóa Hà Nội
-
Làng Bái Ân: Ấn Tượng Nghề Dệt Truyền Thống - VOV Giao Thông
-
CHÙA BÁI ÂN - YP.VN
-
Du Lịch Hà Nội Tháng 2, Nhớ Lễ Hội đình Bái Ân - Bazan Travel
-
Cho Thuê Phòng Trọ, Nhà Trọ Gần Chùa Bái Ân, Quận Cầu Giấy
-
Bán đất, Bán đất Thổ Cư, đất ở Gần Chùa Bái Ân, Quận Cầu Giấy