Chùa Nành (Pháp Vân Tự – Gia Lâm, Hà Nội) - Chốn Thiêng
Có thể bạn quan tâm
Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Ninh Hiệp tọa lạc tại xã Phù Đổng, Thành phố Hà Nội. Chùa còn có nhiều tên gọi như: chùa Cả; chùa Nành (tên nôm của làng); chùa Ninh Hiệp (tên địa danh ngày nay); Đại Thiền tự và Pháp Vân tự (chùa thờ Pháp Vân).
Lịch sử và nhân vật
Lịch sử hình thành
Theo các tư liệu Hán Nôm còn lưu lại tại chùa như bia đá, chuông đồng, khánh đồng… cho biết chùa là danh lam cổ tự lâu đời, tuy nhiên theo thời gian đã xuống cấp nghiêm trọng. Văn bia có niên đại sớm nhất hiện còn tại chùa là Pháp Vân tự bi, cho biết thời nhà Mạc chùa được các vị trong Hoàng tộc nhà Mạc như Mạc Kính Thận, Phúc Thành công chúa, Phò mã Ngạn Quận công… cùng dân xã Phù Ninh công đức xây dựng lại vào năm 1583. Quy mô chùa khi này chỉ là một tòa Thượng Điện 3 gian và một Nhà Thiêu Hương.
Sang thời Lê – Trịnh, chùa có một đợt mở mang cảnh quan lớn. Theo văn bia Hậu Phật bi ký, năm 1675, Phú Quận công họ Thạch là người làng, đã bỏ 10 dật bạc, 84 cột gỗ, 50 thanh xà cùng 2 mẫu ruộng để mở rộng quy mô chùa. Sau lần xây dựng này, quy mô chùa khá hoàn chỉnh, gồm: Nhà Bái Đường 5 gian nối với tòa Thiêu Hương và Thượng Điện vốn có từ thời Mạc, cùng dải vũ, hành lang hai bên… tạo thành một quần thể kiến trúc khép kín, theo dạng “nội công ngoại quốc”.
Theo tấm bia Tạo lập thiên đài nhất trụ, năm 1698, bà Nguyễn Thị Ngọc Hoan thấy quy mô chùa đã hoàn hảo, nhưng chưa có cây Thiêu Hương, nên bà đã bỏ tiền mua cột đá về tạo dựng cột hương, hiện dựng ở trước nhà Tổ và sau Tòa Thượng Điện.
Theo văn bia Trùng tu Pháp Vân tự bi ký, vào năm Tân Hợi (1731), có người bản xã là Đô chỉ huy sứ Ninh quận công Nguyễn Trường thấy quy mô chùa Pháp Vân nhỏ hẹp, với lòng thành kính, ông đã bỏ tiền của riêng ra mua ngói, gỗ và tổ chức sửa sang lại chùa, khiến ngôi chùa trở nên nguy nga, khang trang và đẹp đẽ.
Năm 1733, các vị hội chủ, vãi sãi, thiện nam, tín nữ đã đóng góp của cải trong nhà để đổi mới cảnh chùa, mở rộng quy mô, tu bổ cảnh quan chùa thêm mới mẻ, điều này được chép lại trên chiếc khánh tên Tu tạo bảo khánh niên đại Long Đức thứ 2 (1733)
Năm 1743, hai tấm bia Hậu Phật bi ký niên đại Cảnh Hưng thứ 4 (1743) cho biết, chùa trải qua binh biến bị tàn phá và hư hỏng nặng nề. Có bà Nguyễn Thị Độ, vợ của Ninh Quận công đã cúng 100 quan tiền cổ, 2 mẫu 2 sào ruộng để tu sửa lại chùa.
Bia Trùng tu Pháp Vân tự bi ký / Bản tự xã công đức tính danh niên đại Cảnh Hưng thứ 16 (1755), cho biết chùa Pháp Vân vốn nổi tiếng là danh lam cổ tự linh thiêng, có phong cảnh hữu tình, nhưng sau bao biến thiên thời cuộc, chùa bị xuống cấp, hư hại nặng. Dân xã quyết định đứng ra tôn tạo, phục dựng. Lần này, công cuộc trùng tu nhận được sự đóng góp lớn từ Vương tôn Trịnh Lãng, người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc, phủ Thiệu Thiên, quê gốc hương Biện Thượng, cùng nhiều cung tần họ Trần, họ Lưu và các nhà hảo tâm khác. Họ đã cúng tiền bạc, ruộng đất để xây dựng, tu bổ Thượng Điện, Gác Chuông, hai dãy hành lang, Hậu phòng và tượng Phật. Ngoài ra, Trịnh Lãng còn hiến tặng 10 mẫu ruộng, 2 ao, 1 khu đất và 1 khu chợ để lấy hoa lợi phục vụ việc hương khói, duy trì sinh hoạt của chùa.
Thời Tây Sơn, bia Hậu Phật bi ký niên đại Cảnh Hưng thứ 45 (1784), ghi lại sự kiện vào năm Quý Mão (1783), vợ chồng ông Huyện thừa Nguyễn Xuân Huyên do không có con trai nên đã thành tâm phát công đức cùng với con gái là Nguyễn Thị Chiểu cúng 60 quan tiền cho chùa để trùng tu hành lang, góp phần hoàn thiện cảnh quan và không gian thờ tự.
Năm 1790, Bia Hậu Phật bi ký / Vạn đại lưu truyền niên đại Canh Tuất (1790) cho biết tòa Hậu Đường chùa bị hỏng, Trần Xuân Nghiên làm Thị nội Thư tả đã bỏ 30 quan tiền để tu sửa chùa.
Năm 1923, sư cụ trụ trì chùa Phạm Thông Hòa đã cho xây thêm Ngũ Không Môn.
Từ năm 1942 – 1945, chùa là một cơ sở cách mạng của Xứ ủy Bắc Kỳ, là nơi ở, hội họp bí mật của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt và nhiều đồng chí lão thành cách mạng khác.
Năm 1976, nhân dân trong làng cùng nhau tu sửa lại chùa.
Thế hệ sư trụ trì
- Thiền sư Từ Quang, pháp danh Tịch Giang, họ Lê, húy Bách, quê tại làng Bá Thuật, tỉnh Thanh Hóa. Năm 12 tuổi, Ngài xuất gia theo học Thiền sư Hải Đài, sau đó thụ pháp với Thiền sư Từ Phong – Hải Quỳnh thuộc Liên Phái. Trong suốt cuộc đời tu hành, Thiền sư đã đào tạo nhiều đệ tử lỗi lạc, trong đó nổi bật có các vị: Kim Bát, Văn Tịnh, và Phúc Điền. Ngài từng trụ trì cả hai ngôi chùa lớn là chùa Hàm Long và chùa Bổ Đà tại Bắc Ninh.
- Thiền sư tự Thanh Chất: Quê tại làng Phù Ninh, là một trong những vị thiền sư có ảnh hưởng sâu rộng trong vùng, kế thừa pháp mạch của Thiền phái.
- Thiền sư Phổ Tuệ: Quê Đồng Văn, Hà Nam, nổi tiếng là bậc cao tăng tinh thông thiền học, góp phần lan tỏa pháp mạch của Tào Động tông trong khu vực.
- Thiền sư Thông Hòa: Là đệ tử của Thiền sư Thông Quyền tại chùa Lã, Từ Sơn, Bắc Ninh.
- Thiền sư Thông Mại, pháp danh Huy Nghệ, quê làng Thiết Ứng, Đông Anh. Trong suốt cuộc đời, Ngài đã trụ trì tới tám ngôi chùa lớn trong vùng, gồm: Chùa Ninh Hiệp, chùa Thiết Ứng, chùa Hà Khê, chùa Nghĩa Lập, chùa Tiến Bào, chùa Đồng Kỵ, chùa Yên Thường và chùa Lã.
- Thiền sư Thanh Bình.
- Thượng tọa Thích Mật Trọng: Là đệ tử xuất sắc của Thiền sư Tâm Huy, Tổ thứ 11 của dòng Thiền Tào Động – Hồng Phúc.
- Thượng tọa Thích Nguyên Tùy.
Giai thoại, truyền thuyết
Theo Phả ký của chùa ghi lại, ban đầu tên là Đại Thiền tự, đến thời Đinh – Tiền Lê, triều đình từng cho rước tượng Pháp Vân từ chùa Dâu về thành Đại La để làm lễ cầu đảo mong trời ban mưa thuận gió hòa. Sau khi lễ hoàn tất, mưa đổ xuống đúng như nguyện, tượng Pháp Vân được rước trả lại chùa Dâu. Thế nhưng, khi về đến nơi thì pho tượng đá Thạch Quang bỗng biến mất một cách kỳ lạ. Đúng lúc ấy, tại chùa làng Nành, người dân nhìn thấy ánh sáng lạ tỏa ra từ vườn chùa. Khi đến xem, họ phát hiện trên chạc cây mận có một pho tượng đá. Cho rằng đây là điềm linh thiêng, dân làng bèn dựng một ngôi đền để rước tượng vào thờ. Đồng thời, cây mận trong vườn chùa cũng được hạ xuống và tạc thành một tượng Pháp Vân khác. Từ đó, mỗi khi cầu đảo tại chùa, dân gian truyền lại rằng lễ cầu luôn rất linh ứng, khiến chùa càng thêm nổi tiếng và được tôn kính. Từ đó chùa có tên là Pháp Vân tự.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Ninh Hiệp mang đặc trưng độc đáo không theo truyền thống Tam Quan thường thấy ở các chùa miền Bắc, mà bắt đầu bằng Ngũ Môn, có ý nghĩa và hình thức tương tự như nghi môn của các ngôi đền lớn.
Sau Ngũ Môn là hai dãy nhà năm gian cùng với một số công trình phụ trợ, tạo thành lớp ngoại vi dẫn vào không gian chính. Qua khoảng sân rộng mở ra khu kiến trúc trung tâm, được bố cục theo kiểu chữ “quốc” (國). Bố cục này gồm Tiền đường nối với Hậu đường bằng hai dãy hành lang, bao bọc bên ngoài.
Ở phía trong, kiến trúc lại được sắp xếp thành hình chữ “công” (工), gồm ba hạng mục liên tiếp: Tiền Đường trong, Thiêu Hương và Thượng Điện. Nhiều ngôi chùa lớn ở miền Bắc cũng sử dụng kiểu bố cục “nội công ngoại quốc”, song tại chùa Ninh Hiệp, cấu trúc này được thể hiện trọn vẹn và rõ ràng nhất, nhờ sự hiện diện của toà Tiền đường trong – một hạng mục kiến trúc đặc biệt, bổ sung cho sự cân xứng và chiều sâu không gian.
Vẻ độc đáo của chùa Ninh Hiệp còn được nhấn mạnh ở hai gian giáp với gian hồi (chái) của Tiền đường ngoài, nơi nổi bật với hai lầu chuông và lầu khánh xây dựng theo kiểu chồng diêm đăng đối. Mỗi lầu có bốn mái, bốn đầu đao cong vút tỏa ra bốn phía, tạo nên hình ảnh uy nghi, đồng thời hướng mắt người xem vào khoảng sân trước chùa.
Một điểm khác lạ nữa là kết cấu vì nóc của chùa, chỉ có một kiểu duy nhất được xây dựng theo lối “thượng cốn, hạ kẻ”, vừa chắc chắn vừa thể hiện phong cách kiến trúc truyền thống độc đáo.
Hiện vật
Chùa Ninh Hiệp hiện lưu giữ một khối lượng hiện vật quý giá gồm:
- 17 tấm bia đá niên đại từ thế kỷ XVI đến XVIII
- 1 quả chuông đồng Pháp Vân tự tường chú tạo hồng chung niên hiệu Thịnh Đức 1 (1653)
- 1 khánh đồng Tu tạo bảo khánh do Ninh quận công Nguyễn Thọ Tràng đúc năm 1733, cùng bức hoành phi lớn đề 6 chữ “Bắc Giang đệ nhất thiền môn” do vua Lê Thuần Tông ngự đề vào thời Long Đức (1732 – 1735).
- Ngoài ra, chùa còn sở hữu hệ thống tượng Phật giáo đầy đủ và đa dạng bậc nhất miền Bắc, với hơn 100 pho tượng: Tam Thế Phật, Tây Phương Tam Thánh, Phật Thích Ca, Bồ tát Tuyết Sơn, Bồ tát Di Lặc, Thập Bát La Hán, Hộ Pháp… có niên đại trải dài từ thế kỉ XVI – XIX.
Sự kiện và lễ hội
Hội chùa Nành là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc bậc nhất của Hà Nội, nơi hội tụ những nét sinh hoạt văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và tinh thần cố kết cộng đồng. Lễ hội diễn ra hằng năm từ mùng 4 đến mùng 6 tháng Hai Âm lịch, người dân tưởng nhớ công đức Pháp Vân, đồng thời gửi gắm ước vọng về một cuộc sống ấm no, mùa màng tươi tốt.
Trong những ngày hội, nhiều trò chơi dân gian truyền thống được tổ chức náo nhiệt, trong đó có bơi thuyền, thi nấu cơm, thi nâng cây phan. Đặc biệt, cây phan (bó gồm khoảng 60 cây tre còn nguyên cả thân và ngọn). Người dân quan niệm rằng, khả năng nâng cây phan cao và vững sẽ quyết định sự hưng thịnh, ấm no của cả làng, bởi nó gắn liền với khát vọng cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.
Bên cạnh phần hội náo nhiệt, phần lễ còn có nhiều nghi thức tín ngưỡng quan trọng như cầu mưa, cầu nước, cầu phồn thực, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng.
Xếp hạng
Chùa được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1989.
Tài liệu tham khảo
- Hệ thống thác bản văn bia chùa Nành Chonthieng.com
- Đinh Khắc Thuần (2003), Văn bia làng Nành, Nxb Khoa học xã hội.
- Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 2, Nxb Hà Nội.
_____________________
Các ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Name and Geographical Location
Ninh Hiep Pagoda is located in Phu Dong commune, Hanoi City. The pagoda has several names: Chua Ca; Chua Nanh (the village’s folk name); Chua Ninh Hiep (the current place name); Dai Thien Tu and Phap Van Tu (as it venerates the deity Phap Van).
History and Figures Formation and Development
According to preserved Han–Nom inscriptions such as stone steles, bronze bells, and gongs, the pagoda is an ancient site of worship. Over time, however, it suffered severe deterioration. The earliest surviving stele, Phap Van Tu Bi, records that during the Mac dynasty, royal members such as Mac Kinh Than, Princess Phuc Thanh, Prince Consort Ngan Quan Cong, along with villagers of Phu Ninh, rebuilt the pagoda in 1583. At that time, its scale consisted of only a three-bay Upper Hall (Thuong Dien) and a House of Incense (Nha Thieu Huong).
During the Le–Trinh era, the pagoda underwent major expansion. According to the Hau Phat Bi Ky stele, in 1675, Phu Quan Cong of the Thach clan, a native of the village, contributed silver, timber, and farmland to enlarge it. The completed complex included: a five-bay Front Hall (Nha Bai Duong), linked to the existing House of Incense and Upper Hall from the Mac period, with additional side halls and corridors—forming a closed architectural ensemble in the “noi cong ngoai quoc” style (inner 工, outer 國).
In 1698, Lady Nguyen Thi Ngoc Hoan funded the construction of a stone incense pillar (cot huong), which still stands in front of the Patriarch’s Hall and behind the Upper Hall.
In 1731, Nguyen Truong, Marquis of Ninh and Commander of the Guards, renovated the pagoda, making it more grand and splendid. Two years later, in 1733, devotees donated wealth for further restoration, recorded on a bronze gong titled Tu Tao Bao Khanh.
By 1743, war had caused heavy damage. Nguyen Thi Do, wife of Marquis of Ninh, donated money and farmland to restore it. Later, in 1755, restoration was again carried out with significant support from Trinh Lang, a nobleman of the Trinh clan, along with families of the Tran and Luu lineages and other patrons. They funded the rebuilding of the Upper Hall, Bell Tower, corridors, Back Hall, and Buddhist statues. Trinh Lang also donated farmland, ponds, and markets to sustain the pagoda’s activities.
In 1783–1784, during the Tay Son period, local official Nguyen Xuan Huyen, his wife, and daughter donated funds for renovation. Further repairs were made in 1790 by Tran Xuan Nghien, a court official.
In the 20th century, significant works included the construction of the Five-Arch Gate (Ngu Khong Mon) in 1923 by Abbot Pham Thong Hoa. From 1942–1945, the pagoda served as a revolutionary base of the Bac Ky Regional Party Committee, hosting leaders such as Truong Chinh, Hoang Van Thu, and Hoang Quoc Viet. In 1976, villagers collectively restored the pagoda.
Successive Abbots
Zen Master Tu Quang (Dharma name Tich Giang, surname Le), originally from Thanh Hoa, trained under Masters Hai Dai and Tu Phong of the Lien sect. He trained many disciples, including Kim Bat, Van Tinh, and Phuc Dien, and served as abbot of both Ham Long Pagoda and Bo Da Pagoda.
Zen Master Tu Thanh Chat, a native of Phu Ninh, continued the local lineage.
Zen Master Pho Tue, from Dong Van (Ha Nam), renowned for his mastery of meditation, propagated the Caodong school.
Zen Master Thong Hoa, disciple of Thong Quyen of La Pagoda (Tu Son, Bac Ninh).
Zen Master Thong Mai (Dharma name Huy Nghe), from Thiet Ung village (Dong Anh), abbot of eight major pagodas including Ninh Hiep.
Zen Master Thanh Binh.
Venerable Thich Mat Trong, disciple of Zen Master Tam Huy, 11th Patriarch of the Caodong–Hong Phuc lineage.
Venerable Thich Nguyen Tuy.
Legends and Anecdotes
According to temple records, originally called Dai Thien Tu, the temple became associated with the goddess Phap Van during the Dinh–Early Le dynasties. After the imperial court borrowed the Phap Van statue from Dau Pagoda for a rain ritual in Dai La citadel, rain fell as wished. When the statue was returned, however, a miraculous stone image appeared in Nanh village’s pagoda garden, radiating light. Villagers enshrined it and carved another image of Phap Van from a plum tree trunk in the garden. From then on, rain-prayer rituals at the temple were said to be highly effective, earning it the enduring name Phap Van Tu.
Architecture
Ninh Hiep Pagoda is unique in northern Vietnam for beginning with a Five-Arch Gate (Ngu Mon), more typical of large temples, instead of the usual Three-Arch Gate (Tam Quan).
Inside, two five-bay houses and auxiliary structures form the outer ring. The central complex, arranged in the shape of the character “quoc” (國), includes the Front Hall, Back Hall, and side corridors. Within, the core is arranged in the shape of “cong” (工): the Inner Front Hall, Incense Hall, and Upper Hall—fully realizing the “noi cong ngoai quoc” layout.
Distinctive features include the paired Bell Tower and Gong Tower, built in the double-tiered roof style (chong diem) with upward-sweeping eaves. Another unique element is the roof-beam system, built entirely in the “thuong con, ha ke” style, both sturdy and traditional.
Artifacts
The pagoda houses a rich collection of artifacts:
17 stone steles dating from the 16th–18th centuries.
A bronze bell dated 1653.
A bronze gong cast in 1733 by Marquis of Ninh Nguyen Tho Trang, and a large horizontal board inscribed “Bac Giang de nhat thien mon” (“Northern Vietnam’s foremost Zen gate”), personally inscribed by Emperor Le Thuan Tong.
Over 100 Buddhist statues dating from the 16th–19th centuries, including the Three Buddhas of the Three Times, Amitabha Trinity, Shakyamuni, Maitreya, Snow Mountain Bodhisattva, Eighteen Arhats, and guardian deities.
Festivals
The Nanh Pagoda Festival is one of Hanoi’s most distinctive traditional festivals, held annually from the 4th to 6th of the 2nd lunar month. It honors Phap Van and expresses wishes for prosperity and good harvests.
Traditional games include boat racing, rice-cooking contests, and the flagpole-lifting ritual (nang cay phan), involving a massive bundle of about 60 full bamboo stalks. Villagers believe the ability to raise the pole symbolizes the community’s prosperity and favorable weather.
Rituals include rain prayers, water rites, and fertility ceremonies, reflecting the rich spiritual life of Red River Delta farmers.
Recognition
In 1989, Ninh Hiep Pagoda was designated a National Architectural and Artistic Monument by the Ministry of Culture, Sports, and Tourism.
References
- System of Stele Inscriptions at Nanh Pagoda, Chonthieng.com
- Dinh Khac Thuan (2003), Van bia lang Nanh, Social Sciences Publishing.
- Luu Minh Tri (2011), Hanoi’s Famous Sites and Monuments, vol. 2, Hanoi Publishing.
___________________
Tiếng Pháp (français’)
Nom et situation géographique
La pagode Ninh Hiep est située dans la commune de Phu Dong, Hanoï. Elle porte plusieurs appellations : chua Ca ; chua Nanh (nom populaire du village) ; chua Ninh Hiep (nom actuel du lieu) ; Dai Thien tu et Phap Van tu (pagode dédiée à la déesse Phap Van).
Histoire et figures associées Formation et développement
D’après les sources en caractères chinois conservées dans la pagode – stèles de pierre, cloches et gongs de bronze –, il s’agit d’un ancien temple bouddhique de renom, bien que fortement dégradé avec le temps. La stèle la plus ancienne encore existante, Phap Van tu bi (1583), rapporte que la pagode fut reconstruite sous les Mac par des membres de la famille royale, tels que Mac Kinh Than, la princesse Phuc Thanh, le prince consort Ngan Quan Cong, avec l’appui des habitants du village de Phu Ninh. Le sanctuaire se limitait alors à un Thượng Điện de trois travées et une maison des encens.
Sous les Le – Trinh, la pagode connut une grande phase d’expansion. Selon l’inscription Hau Phat bi ky (1675), Phu Quan Cong de la famille Thach, originaire du village, offrit argent, bois et terres pour agrandir le site : Salle des prières (cinq travées), reliée au bâtiment des encens et au sanctuaire principal, avec galeries et couloirs, formant un ensemble clos en style architectural « noi cong ngoai quoc » (plan intérieur en 工 et extérieur en 國).
En 1698, dame Nguyen Thi Ngoc Hoan fit ériger une colonne d’encens en pierre devant le sanctuaire des ancêtres.
En 1731, le général Nguyen Truong, seigneur de Ninh, finança une restauration qui donna à la pagode un aspect somptueux.
En 1733, grâce aux dons des fidèles, de nouvelles réparations furent entreprises (stèle Tu tao bao khanh).
En 1743, après des destructions dues aux troubles, dame Nguyen Thi Do, épouse du seigneur de Ninh, contribua largement à la restauration.
En 1755, une nouvelle campagne de reconstruction fut menée, soutenue par Trinh Lang et de nombreux bienfaiteurs, qui offrirent terres, rizières, étangs et marché pour l’entretien permanent de la pagode.
À l’époque des Tay Son, une stèle de 1784 mentionne la donation de 60 quan par le couple Nguyen Xuan Huyen et leur fille, destinée à restaurer les couloirs.
En 1790, le mandarin Tran Xuan Nghien offrit 30 quan pour réparer le bâtiment arrière.
En 1923, le maître Pham Thong Hoa, alors abbé, fit construire la porte Ngũ Không Môn.
De 1942 à 1945, la pagode servit de base secrète au Parti révolutionnaire du Tonkin, accueillant Truong Chinh, Hoang Van Thu, Hoang Quoc Viet et d’autres figures de la résistance.
En 1976, les villageois restaurèrent collectivement le monument.
Abbés et maîtres spirituels
Thiền sư Tu Quang (nom de Dharma : Tich Giang), originaire de Thanh Hoa, disciple des maîtres Hai Dai puis Tu Phong – Hai Quynh, forma de nombreux disciples tels que Kim Bat, Van Tinh, Phuc Dien. Abbé des pagodes Ham Long et Bo Da (Bac Ninh).
Thiền sư Tu Thanh Chat, natif de Phu Ninh, maître influent de la région.
Thiền sư Pho Tue, originaire de Ha Nam, érudit bouddhique renommé, promoteur de l’école Cao Dong.
Thiền sư Thong Hoa, disciple du maître Thong Quyen (pagode La, Tu Son).
Thiền sư Thong Mai (nom de Dharma : Huy Nghe), originaire de Thiet Ung (Dong Anh), abbé de huit grandes pagodes dont Ninh Hiep.
Thiền sư Thanh Binh.
Thượng tọa Thich Mat Trong, disciple du maître Tam Huy, 11e patriarche de l’école Cao Dong – Hong Phuc.
Thượng tọa Thich Nguyen Tuy.
Légendes
D’après les archives de la pagode, à l’époque des Dinh – Tien Le, la statue de Phap Van fut transportée depuis la pagode Dau à la capitale Dai La pour un rituel de prière de pluie. Le rituel accompli, la statue disparut mystérieusement. Les villageois de Nanh aperçurent alors une lumière étrange dans leur jardin de pagode et découvrirent une statue de pierre posée sur un prunier. Ils la considérèrent comme sacrée et la placèrent dans un sanctuaire. Depuis, les prières pour la pluie à Ninh Hiep sont réputées miraculeuses.
Architecture et paysage
La pagode se distingue par son entrée en Ngũ Môn, différente des Tam Quan habituels.
Derrière s’étendent deux bâtiments de cinq travées et d’autres annexes, ouvrant sur une grande cour et un ensemble en forme de quốc (國). À l’intérieur, le plan suit la forme công (工) : salle des prières intérieure, salle des encens et sanctuaire principal.
Deux pavillons symétriques abritent cloche et gong, aux toitures superposées et recourbées, renforçant l’aspect majestueux.
La charpente suit le style unique thuong con, ha ke, solide et traditionnel.
Trésors conservés
17 stèles de pierre (XVIe–XVIIIe siècles).
Cloche de bronze (1653).
Gong en bronze (1733), offert par le seigneur Nguyen Tho Trang, et une grande planche inscrite par l’empereur Le Thuan Tong (« Bắc Giang đệ nhất thiền môn »).
Collection de plus de 100 statues bouddhiques (XVIe–XIXe siècles) : Bouddhas du passé, Amitabha, Sakyamuni, bodhisattvas, arhats, gardiens…
Fêtes et événements
La fête du chua Nanh est l’une des plus importantes de Hanoï, célébrée du 4 au 6 du deuxième mois lunaire. Elle honore la déesse Phap Van et exprime les vœux de prospérité agricole.
Activités : courses de bateaux, concours de cuisine, épreuve de levée du cây phan (faisceau de bambous). La réussite symbolise prospérité et bonnes récoltes.
Les rituels incluent prières pour la pluie, l’eau et la fertilité, reflet de la culture spirituelle paysanne du delta du Fleuve Rouge.
Classement
En 1989, la pagode a été classée monument national d’architecture et d’art par le Ministère vietnamien de la Culture, des Sports et du Tourisme.
Références
- Hệ thống thác bản văn bia chùa Nành – Chonthieng.com
- Đinh Khắc Thuần (2003), Văn bia làng Nành, Nxb Khoa học xã hội.
- Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội – Danh thắng và Di tích, vol. 2, Nxb Hà Nội.
___________________
Tiếng Trung (中文)
名称与地理位置
宁业寺坐落于河内市扶董社。寺庙又有多种称呼,如“大寺”、楠寺(村俗称)、宁业寺(今地名)、大禅寺与法云寺(因寺供奉法云)。
历史与人物 历史形成
据寺内现存汉喃文献,如碑刻、铜钟、铜磬等记载,此寺为古老名刹,然历经岁月沧桑,已多次残损。现存最早碑文《法云寺碑》记载,莫朝时期(1583年),莫敬慎、福成公主、驸马鄂郡公等莫氏皇族及扶宁社百姓共同捐资重建,当时规模仅有三间上殿与一座焚香堂。
黎—鄭时期,寺庙进行大规模扩建。据《后佛碑记》,1675年,本地石氏富郡公捐十锭白银、八十四根木柱、五十根梁材与二亩田地,扩建寺宇。自此,形成较为完整格局,包括五间拜堂、焚香堂、上殿及两翼廊庑,构成“内工外国”式封闭院落。
1698年,阮氏玉完夫人见寺虽完备,尚无香柱,乃捐资购石立一根大香柱,今尚存于祖堂前与上殿之后。
1731年,扶社人宁郡公阮长(职为都指挥使)出资购瓦木修整寺庙,使之宏丽焕然。
1733年,众社人施财修缮,铸有“修造宝磬”一座,铭记于碑。
1743年,因战乱寺宇残破,宁郡公之妻阮氏度捐钱谷与田地重修。
1755年,碑记称寺庙再度修葺,承蒙王孙鄭朗及陈、刘氏妃嫔诸人捐资,重建上殿、钟阁、廊庑、后堂与佛像,并施田十亩、池塘二口、宅地与市集一处,以供香火。
西山时期,1783年,县承阮春勋夫妇与女阮氏昭捐六十贯,修理廊庑。
1790年,市场内书佐陈春研捐三十贯,修葺后堂。
1923年,住持法师范通和增建“五空门”。
1942—1945年间,寺为北圻省委革命据点,曾为张琨、黄文树、黄国越等革命家秘密居所。
1976年,村民再度集资修寺。
历代住持
禅师 从光(法号寂江,黎氏,讳栢),清化省霸术村人,十二岁出家,先依禅师海台,后从莲派从峰—海琼受法,一生培养弟子甚多,著名者如金钵、文静、福田。曾任北宁含龙寺、普陀寺住持。
禅师 自清质:扶宁村人,承禅派法脉,地方影响深远。
禅师 普慧:河南同文人,精通禅学,弘扬曹洞宗。
禅师 通和:从师通权于北宁慈山吕寺。
禅师 通迈(法号辉艺),东英铁应村人,曾先后主持宁业、铁应、河溪、义立、进包、同计、安常、吕等八寺。
禅师 清平。
上座 释密重:曹洞洪福宗第十一祖释心辉弟子。
上座 释元随。
传说轶事
据寺谱,初名“大禅寺”。丁—前黎时期,朝廷曾迎法云像自油寺至大罗城行祈雨礼,礼毕果应,复送还。然返至油寺时,石像忽失。适时,楠村寺院园中光芒四射,村人寻见梅树枝杈上有石像,遂建殿奉之。又以梅木雕成一尊法云像。自此,凡于此寺祈雨,多获灵应,寺益显赫,号“法云寺”。
建筑景观
宁业寺不同于北方常见“三门”,其首为“五门”,形式近似大庙之仪门。
五门之后为两排五间房屋与附属建筑,围合外院。经大院入中枢建筑,布局如“国”字。其内又依“工”字形布置,前堂—焚香堂—上殿三进相连。
独特之处在前堂两翼设双层钟楼、磬楼,飞檐四出,气势雄伟。屋顶结构皆为“上拱下枓”,坚固而古雅。
文物
现存珍贵文物:
十七通石碑(十六—十八世纪)。
一口铜钟《法云寺铸造洪钟》,盛德元年(1653)。
一口铜磬《修造宝磬》,宁郡公阮寿长铸于1733年。
一幅“北江第一禅门”匾额,为黎纯宗御书(隆德年间,1732—1735)。
寺内佛像百余尊,为北方最为齐备者,年代自十六至十九世纪:三世佛、西方三圣、释迦、雪山菩萨、弥勒、十八罗汉、护法等。
节庆
楠寺会为河内最具特色传统节会之一。每年农历二月初四至初六举行,祭祀法云,祈求丰年。
活动有赛舟、烹饪、举幡等。举幡以六十根整竹束成,高举象征国泰民安,祈雨丰收。
祭礼亦有祈雨、祈水、祈生殖繁衍等仪式,反映红河平原农耕社会信仰。
评级
1989年,宁业寺被文化体育旅游部列为国家级艺术建筑遗迹。
参考文献
- 《楠寺碑刻拓本系统》Chonthieng.com
- 丁克纯(2003),《楠村碑文》,社会科学出版社。
- 刘明治(2011),《河内名胜与遗迹》卷二,河内出版社。
Từ khóa » Pháp Vân Tự
-
Chùa Dâu – Wikipedia Tiếng Việt
-
Chư Tăng Nội Tự Chùa Pháp Vân Tác Pháp Tự Tứ
-
Chùa Pháp Vân - Nhịp Sống Hà Nội
-
Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo - Pháp Vân - Ontario, CANADA
-
Chùa Pháp Vân - 1299 Giải Phóng Hoàng Mai Hà Nội
-
Ngôi Chùa ở TP.HCM Do Thiền Sư Nhất Hạnh Khởi Xướng Giữ 3 Kỷ ...
-
Thăm Chùa Pháp Vân | Về Chốn Linh Thiêng - YouTube
-
Chùa Nành (Pháp Vân Tự) - Ha Noi 360°
-
Ngôi Chùa Hơn 50 Năm Tuổi ở Sài Gòn Giữ Ba Kỷ Lục Việt Nam
-
CHÙA PHÁP VÂN - Home | Facebook
-
Chùa Pháp Vân – Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Quốc Gia
-
Chùa Pháp Vân Thôn Văn Giáp, Xã Văn Bình
-
Chùa Pháp Vân - Cồ Việt Mobile
-
Ngôi Chùa Thờ Thần Pháp Vân - Báo Đại Biểu Nhân Dân