CHUYEN DE LUYEN TU VA CAU LOP 2

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

Tên chuyên đề: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU  LỚP 2

X

I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:

       - Phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 là giúp các em mở rộng vốn từ theo từng chủ điểm, biết dùng từ, đặt câu và sử dụng dấu câu. Qua thực tế giảng dạy ở học sinh lớp 2, tôi nhận thấy vốn từ của các em rất ít và các em hay sử dụng nhiều từ địa phương. Khi đặt câu  không đầy đủ các bộ phận. Sử dụng các dấu câu còn nhiều lúng túng, không xác định được sẽ đặt dấu câu nơi nào. Do các em chưa thích ứng được với môn học nên giờ học không sinh động, chủ yếu là chờ giáo viên gợi ý, cung cấp kiến thức.

       - Phân môn Luyện từ và câu có liên hệ mật thiết với phân môn Tập làm văn, nếu các em có vốn từ phong phú, viết câu đúng, có dùng nhiều từ hay thì mới có đoạn văn hay. Nhưng nếu ngược lại thì phân môn Tập làm văn của các em cũng không đạt theo yêu cầu.

       - Chính từ những khó khăn trên nên tôi đã nghiên cứu thêm tài liệu, học hỏi nhiều hơn về chuyên môn ở các đồng nghiệp để tìm ra được những giải pháp tốt nhất khắc phục những khó khăn trên và điều đó được thể hiện qua chuyên đề “Giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Luyện từ và câu”.

II. MỤC TIÊU:

     1. Giúp giáo viên:

- Nắm được nội dung chương trình và tiến trình dạy từng loại bài ở phân môn Luyện từ và câu.

- Tìm hiểu một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực được vận dụng vào mỗi dạng bài.

          - Linh hoạt tổ chức các hình thức dạy học phù hợp với từng loại bài và từng đối tượng học sinh.

     2. Giúp học sinh:

- Nắm vững kiến thức cơ bản về từ loại (từ chỉ người, con vật. đồ vật, cây cối, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc điểm, tính chất).

- Hình thành các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu.

- Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng diễn đạt đúng, dùng từ đúng đặt câu đầy đủ ý, viết đầy đủ dấu câu theo yêu cầu. Nói và viết thành câu và thích học Tiếng Việt.

III. NỘI DUNG DẠY HỌC:

1. Số bài, thời lượng học: Trong cả năm học, HS được học 31 tiết Luyện từ và câu.

2. Nội dung:

* Về từ vựng, bên cạnh vốn từ được cung cấp qua các bài tập đọc, HS được mở rộng vốn từ theo chủ điểm thông qua các bài tập thực hành.

* Về từ loại, HS bước đầu rèn luyện cách dùng các từ chỉ sự vật, hoạt động, trạng thái và đặc điểm, tính chất.

* Về câu, HS lần lượt làm quen với các kiểu câu: Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào?, các bộ phận của câu (trả lời các câu hỏi Ai?, Là gì?, Làm gì?, Khi nào?, Ở đâu?, Như thế nào?, Vì sao?, Để làm gì?) và các dấu câu (dấu chấm, chấm hỏi, chấm than, dấu phẩy).

@ Tuy nhiên, ở lớp 2 không có bài học lí thuyết. Các kiến thức nói trên được thể hiện qua các bài tập thực hành.

IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:

1. Khó khăn thường gặp:

          - Khi các em học các từ theo chủ đề và mở rộng từ thì các em chưa làm được tốt. Do vốn từ của các em quá ít bên cạnh đó các em chưa hiểu rõ nghĩa của từ nên thường không tìm được nhiều từ. Các em chỉ biết trông chờ vào sự gợi ý, cung cấp từ giáo viên.

          - Khi học về từ loại, các em sẽ không nhớ tên và cách nhận biết từ loại. Thực tế trong giờ học các em biết làm bài nhưng khi học qua rồi thì các em sẽ không nhớ được nhiều và các em cảm thấy nặng nề khi phải học phân môn này.

2. Giải pháp:

2.1. Giúp học sinh học tốt các từ theo chủ đề và mở rộng vốn từ:

2.1.1. Sử dụng phương pháp trực quan:

Tôi dùng vật thật, tranh ảnh để giúp các em hiểu rõ nghĩa của từ hơn và tự mình có thể tìm ra các từ khác dựa vào bức  tranh đó.

          Ví dụ như: Mở rộng từ có tiếng biển, tôi cho các em quan sát tranh biển. Từ bức tranh đó các em sẽ tìm được nhiều từ có tiếng biển như: tàu biển, bãi biển, mặt biển,…

 

2.1.2 Sử dụng từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa:     

          Cách giải thích này được sử dụng thường xuyên trong môn Tiếng Việt và thường nó được biểu hiện dưới các bài tập điền từ hoặc sắp xếp các từ.

          Giải pháp này có ưu điểm là giải thích nghĩa của từ ngắn gọn và cho các em biết được những từ nào là từ đồng nghĩa với nhau, giúp các em có được vốn từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa. Tương ứng với cách giải nghĩa từ bằng từ trái nghĩa, SGK có một số bài tập như sau: Hãy giải nghĩa các từ dưới đây bằng từ trái nghĩa của nó:

                   a. Trẻ con

                   b. Cuối cùng

                   c. Xuất hiện

                   d. Bình tĩnh

          Ở bài tập này, tôi sẽ hướng dẫn, khơi gợi cho học sinh liên tưởng đến sự khác biệt để giúp các em xác lập được nghĩa của từ. Đồng thời giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ cũng như góp phần hình thành khái niệm từ đồng nghĩa, trái nghĩa.             

          Như vậy để giải thích nghĩa của từ , chúng ta có nhiều cách khác nhau . Mỗi cách có một cơ sở khoa học riêng , có những điểm mạnh và điểm hạn chế khác biệt. Điều quan trọng là chúng ta phải biết với một từ nhất định nào đó cần phải sử dụng phương pháp nào hoặc phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp với nhau để đạt được mục đích cuối cùng là giúp học sinh vừa hiểu được nghĩa của từ vừa nắm chắc được cả cách dùng của từ đó trong hoạt động giao tiếp.

2.1.3. Giúp học sinh học tốt về từ loại, cách nhận biết về từ loại:

a. Sử dụng hình ảnh ẩn trong tranh để tìm từ:

          Ở dạng bài tập này yêu cầu học sinh dựa vào tranh tìm các đồ vật được vẽ ẩn trong tranh để tìm các từ ngữ tương ứng. Các sự vật được vẽ trong tranh không rõ ràng buộc các em phải quan sát kĩ mới nhận biết được. Những dạng bài này kích thích học sinh tìm tòi, gây hứng thú học tập cho các em. Để giảng dạy tốt dạng bài này và phát huy năng lực của học sinh tôi thường vận dụng kỹ thuật Khăn trải bàn.

          Các cá nhân sẽ tự mình quan sát tranh, tìm và ghi tên các đồ vật ẩn trong tranh vào phần khăn của mình. Sau đó, cả nhóm sẽ thảo luận thống nhất tên các đồ vật được tìm thấy và ghi vào giữa khăn trải bàn.

          *Cuối giờ học GV cần kết luận: Khi các em đã tìm và ghi được tên của đồ vật thì đó cũng chính là những từ ngữ chỉ đồ dùng hay còn gọi là từ chỉ sự vật.

b. Sử dụng những công việc làm trong câu văn, trong bài thơ để tìm từ:

          Từ những câu văn, những bài thơ yêu cầu học sinh tìm từ ngữ chỉ công việc. Với những câu văn thì tương đối đơn giản, còn với những bài thơ để  tìm được từ thì đối với học sinh lớp 2 rất khó khăn.

          VD như bài: Tìm các từ ngữ chỉ công việc mà bạn nhỏ trong bài thơ dưới đây muốn làm giúp ông và nhờ ông làm giúp qua bài thơ Thỏ thẻ.

          Với bài này, tôi sẽ cho các em thảo luận nhóm đôi trả lời 2 câu hỏi:

          + Hãy nêu những công việc mà bạn nhỏ muốn giúp ông ?

          + Hãy nêu những công việc mà bạn nhỏ muốn ông làm giúp ?

          *Cuối bài học GV kết luận: Những công việc mà các em vừa nêu đó chính là những từ ngữ chỉ công việc hay còn gọi là từ chỉ hoạt động.

2.1.4. Để khắc phục tình trạng mau biết nhưng cũng mau quên của các em khi dạy về từ loại tôi luôn giúp các em hiểu nghĩa của từ loại mà các em sẽ học, và những từ đó nói về cái gì,…Ví dụ như: Khi dạy về từ chỉ sự vật

                        Chỉ người

Sự vật              Đồ vật

                        Con vật

                        Cây cối

Thường ở các buổi thứ 2 tôi sẽ tóm tắt lại các nội dung đã học bằng sơ đồ cho các em nhớ bài, thường xuyên lặp lại các nội dung đó để các em không quên.

2.2. Câu, đặt câu theo mẫu:

2.2.1. Đặt câu theo mẫu:

- Ở mỗi bài đều có hướng dẫn mẫu khi đặt câu nên thường là các em sẽ làm theo mẫu chứ chưa thật sự hiểu được vì sao phải đặt câu như vậy. Vì vậy, để giúp cho các em nắm vững bài hơn tôi thường nêu ý nghĩa của mỗi mẫu câu và thường xuyên nhắc lại để các em nhớ.

Ví dụ như:

+ Với từ chỉ sự vật có mẫu câu tương ứng Ai (cái gì, con gì) là gì ?. Câu này dùng để giới thiệu một sự vật nào đó cho người khác biết.

Như câu: Em là học sinh lớp 2.

+ Với từ chỉ hoạt động Ai (cái gì, con gì) làm gì ? câu này dùng để nói người hoặc vật đó đang làm gì. Như câu : Em đang học bài.

+ Với từ chỉ đặc điểm :

                                          

Từ chỉ đặc điểm                 Tính tình                  Ai thế nào ?

                                          Màu sắc

2.2.2. Đặt câu hỏi :

- Ở mỗi dạng câu tôi đều phân biệt cho các em thấy rõ hai bộ phận chính của câu để khi vận dụng vào dạng bài đặt câu hỏi cho cụm từ được in đậm dễ dàng hơn.

Ví dụ như :  Ai ?     là gì ?

Em // là học sinh lớp 2.

          + Với dạng bài Hãy đặt câu hỏi cho cụm từ in đậm trong câu sau :

                   Ba tôi là bác sĩ

                    - Ai là bác sĩ ?

          Khi học sinh thấy in đậm ở bộ phận câu thứ nhất thì các em biết là sẽ thay từ Ba tôi bằng từ Ai để đặt câu hỏi. Còn nếu in đậm là từ bác sĩ thì các em sẽ biết thay thế bằng từ là gì để đặt câu hỏi.

          Tương tự như vậy, tôi áp dụng cách giảng dạy này với các mẫu câu còn lại như :

                   + Ai làm gì ?

                   + Ai thế nào ?

          - Với dạng đặt câu hỏi có cụm từ khi nào ?, vì sao ?, ở đâu ?, như thế nào ? tôi thường hướng dẫn cho các em rất kĩ ở nhận dạng từ khóa trong câu.

          Ví dụ như :

          + Câu có cụm từ chỉ thời gian (hướng dẫn cụ thể cho các em từ chỉ thời gian là ngày, tháng, năm, giờ, mùa,..) dùng từ khi nào ? để đặt câu hỏi.

          + Câu có cụm từ chỉ nơi chốn (giải nghĩa rõ cho các em hiểu nơi chốn là chỉ một nơi, một chỗ cụ thể nào đó như ở lớp, trong sân, trên bàn,…) dùng từ ở đâu ? để đặt câu hỏi.

          + Câu hỏi vì sao ? để làm gì ? câu đó đang giải thích cho một sự việc nào đó mà từ nhận biết đó là từ vì, từ để,…

       2.2.3. Về dấu câu:

   - Có ý thức và bước đầu biết đặt dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy vào đúng chỗ.

VD: Chọn “dấu chấm hay dấu chấm hỏi” để điền vào ô trống:

        Bé nói với mẹ:

  .

        - Con xin mẹ tờ giấy để viết thư cho bạn Hà

        Mẹ ngạc nhiên:

?

        - Nhưng con đã biết viết đâu

        Bé đáp:

  .

        - Không sao, mẹ ạ! Bạn Hà cũng chưa biết đọc

         

V. PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT VÀ HÌNH THỨC DẠY HỌC:

    1. Phương pháp dạy học: Có rất nhiều phương pháp dạy học được sử dụng trong phân môn Luyện từ và câu nhưng không có phương pháp nào là vạn năng, do đó giáo viên cần phải lựa chọn, sử dụng nhiều phương pháp một cách linh hoạt và phù hợp thì mới đạt hiệu quả cao trong giảng dạy. Sau đây là một số phương pháp dạy học đặc trưng như sau:

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

ĐẶC TRƯNG

 

 

LUYỆN TẬP

 

TRỰC QUAN

 

ĐÀM THOẠI

  THẢO LUẬN

NHÓM

TRÒ CHƠI

HỌC TẬP

 
  

      2. Vận dụng các kĩ thuật dạy học: Có rất nhiều kĩ thuật dạy học, nhưng tùy ở mỗi bài chúng ta vận dụng các kĩ thuật sao cho phù hợp, sau đây là 1 vài kĩ thuật thường vận dụng khi dạy để giúp các em học tốt hơn ở phân môn Luyện từ và câu.

- Kĩ thuật “Chia nhóm”

- Kĩ thuật “Giao nhiệm vụ”

- Kĩ thuật “Đặt câu hỏi”

- Kĩ thuật “Khăn trải bàn”

          - Kĩ thuật “Mảnh ghép”

- Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong tiết dạy.

      3. Hình thức dạy học:

       Như chúng ta đã biết, với phương pháp dạy học tích cực đòi hỏi học sinh phải làm việc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn thảo luận nhiều hơn thì giáo viên cần tổ chức linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong một tiết học. Hình thức phù hợp thì tạo nên tiết học sinh động, đạt hiệu quả cao và phát huy được tính tích cực tự học, chủ động và sáng tạo của học sinh.      

                      VI. KẾT LUẬN:

 Để học sinh học tốt, đạt chất lượng cao phân môn Luyện từ và câu, giáo viên phải kết hợp các yếu tố sau đây:

      - Nghiên cứu và chuẩn bị kỹ bài trước khi dạy.

      - Xác định đúng mục tiêu bài dạy.

      - Sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp với từng nội dung bài học.

      - Lựa chọn các hình thức dạy học phù hợp với từng loại bài tập, phù hợp đối tượng học sinh lớp mình. 

      - Chuẩn bị ĐDDH đầy đủ và sử dụng đúng mục đích, đúng thời điểm, khoa học, chính xác, rõ ràng.

      - Ở mỗi hoạt động được nhiều học sinh tham gia.

      - Cần khen ngợi, động viên kịp thời từng đối tượng học sinh.

      - Trong tiết học cần nhận xét, đánh giá học sinh theo thông tư 22 để các em thấy được ưu, khuyết và sửa chữa kịp thời.

VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Báo cáo triển khai trong tập thể giáo viên của trường vào ngày 23 tháng 10 năm 2020.

2. Thiết kế bài dạy: GV tổ 2 cùng thiết kế.

3. Dạy minh họa: GV: Nguyễn Thanh Tuấn dạy lớp 2/4 ngày 23 tháng 10 năm 2020.

4. Nhân rộng: Chuyên đề được phổ biến và vận dụng cho giáo viên trong trường khi dạy ở phân môn Luyện từ và câu.

Trên đây là những kinh nghiệm có được của bản thân tôi trong việc rèn luyện cho các em học tốt hơn phân môn Luyện từ và câu. Trong quá trình nghiên cứu, trình bày không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Kính mong Ban giám hiệu nhà trường, quý thầy cô đóng góp ý kiến để chuyên đề của tôi được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn.   

  

                                                                                   Cái Vồn, ngày 20 tháng 10 năm 2020

                                                                                                Người viết

 

 

 

                                                                                       Nguyễn Thị Quế Hương

 

Từ khóa » Học Cách Dạy Luyện Từ Và Câu Lớp 2