CMCN4.0 - Flip EBook Pages 1-50 | AnyFlip

  • Quick Upload
  • Explore
  • Features
  • Support
    • Contact Us
    • FAQ
    • Help Document
  • Pricing
Sign In Sign Up
  • Explore
  • Features
  • Support
    • Contact Us
    • FAQ
    • Help Document
  • Pricing
  • Enrichment
  • Business
  • Books
  • Art
  • Lifestyle
  • Religion
  • Home
  • Science
The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here. Home Explore CMCN4.0 View in Fullscreen

CMCN4.0

Like this book? You can publish your book online for free in a few minutes!
  • thanhba84
  • http://anyflip.com/gxve/jbjx/
Download PDF Share

Related Publications

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base. Search Published by thanhba84, 2019-06-13 23:21:49 CMCN4.0
    Pages:
  • 1 - 50
  • 51 - 56

CMCN4.0

ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỦA PHÂN HIỆU ĐHĐN TẠI KON TUM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 MỞ ĐẦU. KHÁI NIỆM VỀ CÁCH MẠNG 4.0 1. Lịch sử và mốc thời gian diễn ra các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trênthế giới: Cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất năm 1784 sử dụng năng lượng nước vàhơi nước để cơ giới hoá sản xuất (có thể gọi là CM cơ giới hóa). Cuộc cách mạng côngnghiệp lần 2 năm 1870 sử dụng năng lượng điện để tạo nên nền sản xuất quy mô lớn (cóthể gọi là CM điện khí hóa). Cuộc cách mạng công nghiệp thứ 3 năm 1969 sử dụng điệntử và công nghệ thông tin để tự động hoá sản xuất (có thể gọi là CM tự động hóa). Tớingày nay, một cuộc Cách mạng Công nghiệp thứ 4 đang được hình thành trên nền tảng củacuộc cách mạng thứ 3. Cuộc cách mạng này là một loạt công nghệ giúp xóa nhòa ranh giớigiữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Cách mạng Công nghiệp 4.0 xuất phát từkhái niệm "Industrie 4.0" trong một báo cáo của chính phủ Đức vào năm 2013. Có ba lý do giải thích tại sao thời đại ngày nay không chỉ là Cuộc Cách mạng Côngnghiệp thứ 3 kéo dài mà còn chứng kiến sự xuất hiện của một cuộc Cách mạng Công nghiệpthứ 4 ưu việt, đó là tốc độ, phạm vi và sự tác động hệ thống. Tốc độ của những đột phángày nay là chưa hề có tiền lệ. So sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây,cuộc Cách mạng Công nghiệp thứ 4 này đang phát triển với tốc độ ở cấp số nhân chứ khôngphải cấp số cộng. Hơn nữa, nó đang làm biến đổi mọi nền công nghiệp ở mọi quốc gia(phạm vi). Bề rộng và chiều sâu của những thay đổi này tạo nên sự biến đổi của toàn bộcác hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị (tác động hệ thống). Khả năng hàng triệu người kết nối với nhau qua điện thoại di động, với sức mạnhxử lý, dung lượng lưu trữ và sự tiếp cận tri thức chưa từng có tiền lệ, là không giới hạn.Thậm chí, những khả năng đó còn được nhân lên gấp bội nhờ vào những đột phá về côngnghệ mới nổi trong các lĩnh vực như trí thông minh nhân tạo, robot thế hệ mới, in 3D,công nghệ nano, công nghệ sinh học… Theo Klaus Schwab, người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn kinh tế thế giới,cách mạng Công nghiệp 4.0 diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm: Kỹ thuật số, Công nghệsinh học và Vật lý. - Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong CMCN 4.0 là: Trí tuệ nhân tạo (AI),Vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data). - Trên lĩnh vực công nghệ sinh học, Cách mạng Công nghiệp 4.0 tập trung vàonghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong Nông nghiệp, Thủy sản, Y dược, chế biếnthực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu. - Lĩnh vực Vật lý với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới(graphene, skyrmions…) và công nghệ nano. Sở dĩ chúng tôi muốn giới thiệu sơ lược về các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuậttrong lịch sử phát triển của nhân loại để chúng ta thấy được 4.0 thực chất là sự phát triểnvượt bậc dựa trên nền tảng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thứ ba, và, hiện naychúng ta đang sống trong thời đại của Công nghệ 4.0 nhưng thực tế những gì chúng ta đangtiếp cận được chỉ là những thành tựu mà nhân loại đã có được từ CMCN 3.0, bởi vì: - Về mạng internnet, trên thế giới đã có từ năm 1969, Khi ấy tiền thân của mạngInternet ngày nay là mạng ARPANET. Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển ARPAthuộc bộ quốc phòng Mỹ liên kết 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Việnnghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California,Santa Barbara. Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu tiên đượcxây dựng. - Về tự động hóa, Sự ra đời của robot tự động điện tử đầu tiên, được tạo ra bởiWilliam Grey Walter ở Bristol, Anh năm 1948, cũng như các công cụ máy tính điều khiểnsố (CNC) cuối những năm 1940 bởi John T. Parsons và Frank L. Stulen. Robot kỹ thuật sốđược xây dựng bởi George Devol năm 1954 và được đặt tên là Unimate - Về máy in 3D, thế hệ máy in 3D đầu tiên cũng đã xuất hiện từ cuối thế kỷ 20, cụthể là năm 1980, năm 1990 đã có mô hình giải phẩu để lập kế hoạch tái tạo xương trongngành y học, và sau năm 2000 trên thế giới đã có các máy in sinh học tạo các mô và cơquan mới cho con người 2. Cách mạng 4.0 trong lĩnh vực giáo dục: Trong lĩnh vực Giáo dục, Đại học 4.0 là mô hình giáo dục thông minh, không giớihạn không gian thời gian, thường gọi là “mô hình 4A” – Anytime (học bất kỳ lúc nào),Anywhere (học bất kỳ ở đâu), Anyone (ai cũng học được, đó là quyền bình đẳng về giáodục) và Anyhow (học bằng bất kỳ phương cách nào, nhanh chậm đều được). Mặt kháccông nghệ thực tế ảo sẽ thay đổi cách dạy và học. Sinh viên có thể đeo kính VR và có cảmgiác như đang ngồi trong lớp nghe bài giảng, hay nhập vai để chứng kiến những trận đánhgiả lập, ngắm nhìn di tích, mang lại cảm xúc và sự ghi nhớ sâu sắc, giúp bài học thấm sâuhơn. Chẳng hạn như khi đào tạo nghề phi công, học viên đeo kính và thấy phía trước làcabin và học lái máy bay như thật để thực hành giúp sinh viên vẫn có được cảm giác bay,vừa giảm thiểu rủi ro trong quá trình bay thật, hoặc khi học về giải phẩu cơ thể người, sinhviên có thể chứng kiến trực quan nhất, sinh động nhất từng mạch máu, nhịp đập của tim,cơ chế làm việc của hệ tuần hoàn…trên mô hình in 3D chi tiết cũng như toàn bộ cơ thểngười, thay vì nghiên cứu trên cơ thể người thật. Và biết đâu trong tương lai, số lượng giáoviên ảo có thể nhiều hơn giáo viên thực. Đại học 4.0 phải đảm bảo ba yếu tố là kết nối internet (internet vạn vật), công cụthông minh (với công cụ tính toán thông minh phần cứng và phần mềm hỗ trợ đào tạo vàhọc hỏi, quản lý nhà trường và săn sóc sinh viên), và có yếu tố con người tham gia trongchu trình, gọi chung mô hình ICH (Internet working, Computing tools, Humans). Trongđó, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Sự ra đời của internet cùng với bước ngoặt của cuộc CMCN 4.0, giáo dục trực tuyếncó thể xóa đi mọi rào cản. Bất cứ ai có kiến thức, khả năng truyền đạt tốt đều có thể trởthành người đi dạy và bất cứ ai có nhu cầu học tập đều có thể đi học.PHẦN I. HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỦA PHÂN HIỆU ĐHĐN TẠI KON TUM 1. Hiện trạng công tác quản lý hành chính tại Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum Thực tế công tác hành chính bao gồm văn thư, lưu trữ, nhân sự, tài sản tại Phân hiệuhầu như vẫn được thực hiện thủ công, việc áp dụng công nghệ chưa được đồng bộ dẫn đếnviệc xử lý công việc chưa được nhanh chóng, chính xác và đạt hiệu quả như mong muốn.Việc sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin vẫn chưa giúp giảm được chi phí in ấn,điện thoại. Các phần mềm đang được sử dụng như Phần mềm quản lý nhân sự, phần mềmquản lý công sản chưa thể hiện được sự tối ưu và vẫn đang trong quá trình bổ sung, điềuchỉnh cho hoàn thiện hơn, riêng phần mềm quản lý công văn đến và đi đã có chủ trươngtriển khai nhưng chưa thực hiện. 2. Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật về công nghệ thông tin của trường (Phần này chỉ đề cập một cách sơ lược vì chắc chắn rằng trong nội dung chính củahội nghị đã có một bản báo cáo chính xác và chi tiết về hạ tầng kỹ thuật CNTT) - Môi trường CNTT chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong trường: như họconline, hoặc E-learning, tổ chức thi online thì việc sử dụng mạng mới có thể liên kết được…hạ tầng kỹ thuật ngay cả ở trường có lúc có nơi không đáp ứng được việc đảm bảo băngthông cũng như dữ liệu để truyền tải thông tin một cách thông suốt. - Dữ liệu thông tin sinh viên vẫn còn nhập thủ công, chưa có phần mềm quản lý trênứng dụng phần mềm - Thông tin sinh viên chưa liên thông được các Phòng ban, Khoa và tổ. PHẦN II. CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỦA PHÂN HIỆU TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 1. Bối cảnh chung: Trên thực tế, giáo dục trực tuyến đã không còn mới mẻ ở cácnước trên thế giới, song ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu phát triển một số năm gần đây, đồngthời với việc kết nối internet băng thông rộng được triển khai mạnh mẽ tới tất cả các trườnghọc. Sự hữu ích, tiện lợi của giáo dục trực tuyến đã được khẳng định nhưng để đạt đượcthành công, các cấp quản lí cần có những quyết sách hợp lí. Việt Nam đã gia nhập MạngE-learning châu Á (Asia E-learning Network - AEN) với sự tham gia của Bộ GD-ĐT, BộKhoa học - Công nghệ, Bộ Bưu chính - Viễn thông. Điều này cho thấy, tình hình nghiêncứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam. Tuy nhiên, so vớicác nước trên thế giới, giáo dục trực tuyến (e-learning) ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầuvà còn rất nhiều việc phải làm để có thể tiến kịp các nước. Ở cấp độ nhà trường, Trước sự phát triển mạnh mẻ và nhanh chóng của cách mạng4.0 thì nguy cơ tụt hậu là khó tránh khỏi, nếu không nắm bắt kịp thời công nghệ, mà cụ thểở đây là quản lý và đào tạo theo phương pháp giáo dục trực tuyến 2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý trong điều kiện cáchmạng công nghiệp 4.0Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 tác động toàn diện, sâu rộng và nhanh chóngtrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Nhiều vấn đề đangđặt ra đối với Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum như đổi mới quản trị nhà trường, đổi mớiphương thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảngviên cũng như việc đổi mới công tác hành chính trong Nhà trường. Ngay trong giai đoạntrước mắt, để vượt qua thách thức từ cuộc CMCN 4.0, Nhà trường cần thực hiện một sốgiải pháp sau: - Nghiên cứu, hoàn thiện quy trình công tác văn thư lưu trữ trong nhà trường; Triểnkhai phần mềm quản lý văn bản đồng bộ từ phòng Hành chính – Tổng hợp đến tất cả cácbộ phận khác trong trường. - Hoàn thiện các phần mềm quản lý đang được áp dụng; Đầu tư xây dựng một sốphần mềm quản lý mới như phần mềm quản lý khoa học, phần mềm quản lý sinh viên,phần mềm quản lý khu nội trú, đặc biệt và cấp thiết là phần mềm quản lí đào tạo tín chỉ. - Hoàn thiện và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin của trường để phụcvụ tốt nhất cho việc triển khai có hiệu quả phương thức đào tạo từ xa (Elearning). Nângcao chất lượng quản lý phần mềm, giải quyết những vấn đề khó khăn còn gặp phải khi triểnkhai hệ thống Elearning trong quá trình giảng dạy và học tập. - Nâng cấp trang web phục vụ tuyển sinh, xây dựng trang web phục vụ khoa học vàchuyển giao công nghệ. Mỗi phòng chuyên môn, mỗi khoa/ Bộ môn cần có trang thông tinriêng. Phải nâng tầm trang tin, không chỉ là kênh giới thiệu, quảng bá và cung cấp thôngtin đơn thuần mà còn là công cụ hỗ trợ quản lí và phục vụ đào tạo (Ví dụ trang tin của cácphòng là nguồn cung cấp các văn bản chỉ đạo, luật, nghị định, thông tư, các hướng dẫnnghiệp vụ liên quan đến chuyên môn của phòng…Trang tin của các Khoa là nơi cung cấpcho người học những thông tin về ngành học, môn học, tài liệu học tập liên quan, kế hoạchhọc tập, lịch thi, tra cứu điểm môn học…). - Thường xuyên tổ chức tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ viênchức, nhất là các lớp tập huấn nâng cao trình độ sử dụng công nghệ phục vụ dạy học, ứngdụng các hình thức tiên tiến, mô hình trực tuyến vào công tác bồi dưỡng giảng viên, đẩymạnh nghiên cứu khoa học. - Tăng cường các chương trình đào tạo ngoại ngữ (tiếng Anh hoặc tiếng Pháp), nângcao năng lực sử dụng tiếng Anh của cả cán bộ giảng viên và sinh viên. - Xây dựng các nguồn dữ liệu mở để chia sẻ tri thức, thông qua việc phát triển cácchương trình đào tạo trực tuyến chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của mỗicá nhân.TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ SINH VIÊN Những năm gần đây, Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum (UDCK) áp dụng mô hình đàotạo theo định hướng thực hành - ứng dụng, vì vậy việc Nhà trường tăng cường ứng dụngcông nghệ thông tin trong quản lý sinh viên là việc làm cần thiết và cấp bách. Việc tổchức hội nghị “Cách mạng công nghiệp 4.0: Cơ hội và thách thức đối với toàn thể giảngviên và cán bộ viên chức của Nhà trường” thể hiện sự quan tâm và tầm nhìn chiến lượccủa lãnh đạo Nhà trường, phù hợp xu thế phát triển chung của xã hội và mở ra điều kiệnthuận lợi nhằm phát huy cao nhất nguồn lực về nhân sự, là cơ hội để đội ngũ đông đảocán bộ quản lý, kỹ sư và chuyên viên CNTT (có 06 cán bộ giảng viên chuyên ngànhCNTT) của trường đã được trang bị kiến thức, kỹ năng và được trau dồi qua thực tế côngtác có thể phát huy nội lực, chủ động, sáng tạo để triển khai thực hiện cuộc Cách mạngcông nghiệp 4.0 trong nhà trường hiện nay. Trong lĩnh vực quản lý sinh viên cũng vậy, CNTT góp phần làm thay đổi công cụ,phương thức và hiệu quả của công công tác quản lý, xây dựng trường học phát triển theohướng cách mạng mới. 1. Thực trạng của công tác quản lý sinh viên tại trường. Cụm từ cách mạng công nghiệp 4.0 đang được nhắc đến rất nhiều từ cấp nhà nước,đến doanh nghiệp và trường đại học, như một thách thức và cơ hội để phát triển đất nước.Tuy nhiên, hiện tại công tác quản lý sinh viên (QLSV) như nội – ngoại trú, theo dõi chếđộ chính sách, tính điểm rèn luyện, theo dõi chuyên cần…tại UDCK đều thực hiện bằngcách thủ công lưu trữ trên giấy, file word, excel gây mất nhiều thời gian công sức. Việc cập nhật dữ liệu thông tin sinh viên hiện nay đều thực hiện thủ công bằng fileexcel rồi tải lên trên google driver để chia sẻ thông tin cho các bộ phận có liên quan sửdụng. Công tác chấm điểm chuyên cần hàng ngày phải in thời khóa biểu các lớp, in danhsách các lớp, điểm danh trực tiếp tại lớp rồi nhập vào danh sách từng lớp, cuối tuần,tháng, học kỳ phải cộng thủ công số buổi vắng của từng sinh viên trên từng môn học mấtrất nhiều thời gian mà tính chính xác có khi không được tuyệt đối. Hay như việc điểmdanh sinh viên tham gia các hoạt động mà trường tổ chức để tính điểm rèn luyện cho sinhviên vẫn còn bất cập. Vì mỗi hoạt động có thể từ 80 đến 400 sinh viên, nếu bằng hìnhthức điểm danh thủ công như hiện nay thì không quản lý được sinh viên có đến đúng giờhay không, có tham gia xuyên suốt quá trình diễn ra hoạt động hay không (đến muộn vàvề sớm), gây khó khăn trong việc giám sát sinh viên. Công tác quản lý nội – ngoại trú hiện nay cũng thực hiện thủ công. Đầu năm học,phòng Công tác HSSV yêu cầu sinh viên kê khai tình trạng lưu trú theo mẫu. Nếu sinhviên ở ngoại trú phải đăng ký ngoại trú với công an phường nơi sinh viên trọ và mangphiếu đăng ký ngoại trú mà công an phường cấp về nộp cho phòng Công tác HSSV cậpnhật, lập sổ quản lý ngoại trú có hình ảnh, lưu trữ. Cứ 3 tháng 1 lần cho sinh viên cậpnhật khai báo tình hình ngoại trú. Viêc này cũng mất nhiều thời gian, nhất là khi tổng hợpbáo cáo số liệu. Hiên nay có gần 1000 sinh viên ở ngoại trú. Hơn nữa, trong năm học này Nhà trường không duy trì công tác giáo viên chủnhiệm, cố vấn học tập nữa nên việc triển khai thông tin mọi hoạt động của nhà trườngcho các lớp đều thông qua lớp trưởng, ban cán sự lớp bằng hình thức gửi email, thông tintrên facebook nhóm hoặc dán bảng thông báo cho nên thời điểm tiếp nhận thông tinkhông đồng đều giữa các lớp có thể xảy ra. Công tác quản lý và hỗ trợ sinh viên như theo dõi các thông báo, thời khóa biểu vàthực hiện các thủ tục hưởng chế độ, chính sách của Nhà nước như miễn giảm học phí, hỗtrợ chi phí học tập, chính sách dân tộc, trợ cấp xã hội, vay vốn,…; công tác hướng nghiệp- tư vấn việc làm; liên kết hữu ích về công tác sinh viên; thống kê về việc làm của sinhviên; việc giải đáp các vướng mắc trong quá trình học tập và rèn luyện; các chức năng hỗtrợ khác như tiện ích xem điểm cá nhân theo từng học kỳ, năm học; thực hiện phản hồi ýkiến của sinh viên về công tác giảng dạy của giảng viên; hỏi - đáp trực tuyến các thắcmắc của sinh viên,... chủ yếu làm thủ công trên giấy và thực hiện trên máy tính để bànhoặc laptop. 2. Một số biện pháp Với những hiện trạng nêu trên, Nhà trường cần đẩy mạnh ứng dụng CNTT trongquản lý sinh viên. Nếu thực hiện tốt điều này thì công tác QLSV sẽ có hiệu quả, nhanhchóng và thuận tiện. Việc quản lý hồ sơ sinh viên được đơn giản, đồng thời giúp cho việcbáo cáo thống kê được nhanh chóng và chính xác. Hiện nay, Nhà trường đã tăng cường trang bị các hệ thống mạng hiện đại, đặc biệtlà hệ thống mạng không dây nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên có thể truy cập vàtìm kiếm thông tin phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu khoa học. Hiện tại, số lượngmáy tính có kết nối mạng được trang bị cho sinh viên có thể truy cập internet miễn phíbất cứ khi nào sinh viên có nhu cầu là không nhiều, trong khi đó nhu cầu truy cập mạnginternet mọi lúc mọi nơi của sinh viên ngày càng cao. Mặc khác, để truy cập internet thựchiện các chức năng trên, sinh viên có thể mượn phòng máy có kết nối internet của nhàtrường hoặc máy tính cá nhân có kết internet, tuy nhiên điều này đối với sinh viên vẫncòn gặp khó khăn. Với sự phổ biến của điện thoại thông minh (smartphone) giá rẻ hiện nay, tỷ lệ sinhviên sử dụng smartphone ngày càng nhiều. Để khắc phục những khó khăn và bất cập đãđược nêu trên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho sinh viên có thể thực hiện các chứcnăng ngay trên smartphone của mình, thì việc thiết kế và xây dựng một số chức năng hỗtrợ và quản lý sinh viên trên giao diện smartphone là cần thiết, cụ thể như các chức năngsau đây: 1. Quản lý thông tin sinh viên 2. Quản lý các hoạt động phong trào tính điểm rèn luyện cho sinh viên 3. Quản lý điểm danh sinh viên (lên lớp và tham gia hoạt động) 4. Phát, nhận thông báo 5. Gửi thắc mắc, kiến nghị 3. Đề xuất, kiến nghị Đề nghị nhà trường xây dựng phần mềm tiện ích được cài đặt trên smartphonenhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ công tác quản lý sinh viên tại UDCK là cần thiết để theokịp các công nghệ mới nhất. Phần mềm chạy trên smartphone sẽ khắc phục được tìnhtrạng phụ thuộc vào máy tính để bàn hoặc là laptop; các chức năng hỗ trợ được thực hiệnmọi lúc mọi nơi với tính di động cao của smartphone. Đồng thời tận dụng được các thiếtbị phổ thông của sinh viên, chuyên viên phòng Công tác HSSV nhằm mang lại hiệu quảcho công việc, tận dụng mọi khả năng tiếp cận giải pháp với mức chi phí thấp nhất chonhà trường.ỨNG DỤNG CMCN 4.0 TRONG ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN (HỆ THỐNG E-LEARNING) TẠI UD CK1. ĐẶT VẤN ĐỀ Thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức trong đó thông tin có giá trị khôngdài, khối lượng thông tin tăng nhanh, nội dung thông tin ngày càng chuyên môn hóa vàphức tạp. Vì vậy đòi hỏi người thầy ở bậc đại học phải dạy cho sinh viên biết cách tựhọc, tự nghiên cứu là chủ yếu. Luật giáo dục cũng đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dụcđại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện chongười học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiêncứu, thực nghiệm, ứng dụng”.Trong điều kiện hiện nay, với quan điểm “lấy người họclàm trung tâm”, coi sinh viên là chủ thể của quá trình dạy và học. Giảng viên chỉ dạynhững kiến thức cơ bản, đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra quá trình học,không làm thay người học. Sinh viên phải được khuyến khích cao độ quá trình học chủđộng tự điều khiển quá trình tiếp thu kiến thức, tham khảo mở rộng kiến thức theo cáctài liệu sách vở, dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên. Đòi hỏi sinh viên phải tựtìm hiểu nghiên cứu khi thực hiện các nhiệm vụ mà giảng viên giao. Giảng viên nêuvấn đề để sinh viên tập giải quyết vấn đề. Để sinh viên giải quyết được mọi vấn đề thìsinh viên phải tự nghiên cứu, tiếp cận nhiều phương pháp học tập, học mọi lúc, mọinơi, có thể tiết kiệm chi phí đi lại, tiết kiệm thời gian mà vẫn trao đổi chia sẻ với bạn bèvà giảng viên để lấy tài liệu học tập. Nhà trường và giảng viên cũng phải thay đổiphương pháp học và giảng dạy. Trước đây sinh viên đã quen với tâm lý học thụ độngtừ phổ thông, nên không có kỹ năng tìm tài liệu và sử dụng tài liệu tham khảo, thiếu sựtư vấn của giảng viên dẫn đến sinh viên có phương pháp và kết quả học tập chưa cao,đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất. Để cải thiện thực tế trên thì các phương pháp trong ngành giáo dục phải thayđổi, như phải ứng dụng Công nghệ Thông tin (CNTT) vào trong học và giảng dạy, từđó giúp sinh viên và giảng viên phát huy tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin của ngườihọc; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung họcphù hợp. Hiện nay phương thức học tập mạnh mẽ và đạt hiệu quả khá cao đó là phươngthức học tập trực tuyến hay còn gọi là E-Learning, đây được coi là phương thức dạy vàhọc rất phù hợp trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu xãhội, mô hình này đã tạo ra những yếu tố thay đổi sâu sắc trong giáo dục, yếu tố thờigian và không gian sẽ không còn bị ràng buộc chặt chẽ, người học tham gia học tập màkhông cần đến trường. Phương thức học tập này đang được áp dụng các trường ĐH,CĐ ở Việt Nam nói chung và UDCK nói riêng. UDCK cũng đã có chủ trương triểnkhai mạnh mẽ E-learning, tổ chức cho giáo viên, giảng viên soạn bài giảng điện tử E-learning trực tuyến, tổ chức các khoá học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựachọn cơ hội học tập cho người học. 12. KHÁI QUÁT HỆ THỐNG E-LEARNING2.1. Khái niệm E-Learning E-Learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới. Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cáchhiểu về E-Learning. Hiểu theo nghĩa rộng, E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập,đào tạo dựa trên công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông, đặc biệt là công nghệthông tin. Theo quan điểm hiện đại, E-Learning là sự phân phát các nội dung học sử dụngcác công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mạng Internet, Intranet,…trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio…thông qua một máy tính hay tivi; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau quamạng dưới các hình thức như: thư điện tử (e-mail), thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn(forum), hội thảo, video…2.2. Ý nghĩa của hệ thống E-Learning E-Learning là một phương thức dạy học mới dựa trên công nghệ thông tin vàtruyền thông (CNTT&TT). Với E-Learning, việc học là linh hoạt mở. Người học có thểhọc bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, với bất cứ ai, học những vấn đề bản thân quan tâm,phù hợp với năng lực và sở thích, phù hợp với yêu cầu công việc… mà chỉ cần cóphương tiện là máy tính và mạng Internet. Phương thức học tập này mang tính tươngtác cao, sẽ hỗ trợ bổ sung cho các phương thức đào tạo truyền thống góp phần nâng caochất lượng giảng dạy. Thuật ngữ E-Learing đã trở nên quen thuộc trên thế giới trong một vài thập kỉgần đây. Cùng với sự phát triển của tin học và truyền thông, các phương thức giáo dụcngày càng được cải tiến nâng cao chất lượng, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho ngườihọc. Ngay từ khi mới ra đời, E-Learning đã xâm nhập vào hầu hết các hoạt động huấnluyện và đào tạo của các nước trên thế giới, được chứng minh qua sự thành công của hệthống giáo dục hiện đại có sử dụng phương pháp E-Learning của nhiều quốc gia nhưMĩ, Anh, Nhật…2.2.1. Đối với việc nghiên cứu, giảng dạy - Hệ thống E-learning cho phép giảng viên cập nhật nội dung đào tạo một cáchthường xuyên và có thể nắm bắt mức độ thu nhận kiến thức của người học thông quahệ thống tự đánh giá. - Cho phép giảng viên đưa tất cả các loại tài liệu tham khảo ở nhiều dạng filekhác nhau lên hệ thống E-learning. - Tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại so với phương thức giảng dạy truyền thống.2.2.2. Đối với việc học tập 2- Cho phép học viên, sinh viên học mọi lúc, mọi nơi và chủ động trong việc lậpkế hoạch học tập, có thể truy cập các khóa học bất kỳ nơi đâu. - Sinh viên sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại và tiết kiệm tiền cho các khoảnchi phí cho sách giáo khoa, sách hướng dẫn, và các học liệu khác. - Sinh viên có thể đăng ký bao nhiêu khóa học mà việc học cần, có thể tự điềuchỉnh thời gian, tốc độ học theo khả năng và có thể tự tham khảo, nghiên cứu thêmthông qua các nguồn tài liệu được hướng dẫn tham khảo. - Sinh viên và sinh viêndễ dàng theo dõi tiến độ học tập, kết quả học tập, đượcgiải đáp kết quả thông tin kịp thời.2.2.3. Đối với công tác quản lý Hệ thống E-learning cho phép người quản lý, lãnh đạo thực hiện công tác quảnlý một cách tự động.3. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO HỆ THỐNG E-LEARNING3.1. Thuận lợi và hạn chế đào tạo hệ thống E-Learning * Thuận lợi: Trong xu thế học tập hiện nay, ngoài hình thức học tập truyền thống là sinh viênđến các đơn vị đào tạo như trường học, trung tâm, viện,...để học tập, nâng cao kiếnthức, kỹ năng, thì còn có một kênh học tập nữa đó là học trực tuyến (E-Learning) thôngqua Internet. Hình thức này từ lâu đã phát triển song song cùng sự phát triển của côngnghệ thông tin. Đối với người học tập thông qua môi trường Internet, phương pháp nàycó những thuận lợi và lợi ích nhất định của việc học tập qua môi trường E-Learning. - Hệ thống E-learning không giới hạn về địa lý, tiết kiệm không gian. - Tính sẵn có và sẵn sàng đáp ứng 24/24. Khả năng đáp ứng nhiều truy nhập,khả năng tìm kiếm tài liệu nhanh, lưu trữ dữ liệu thuận tiện, kết nối mạng Lan và mạngInternet. - Giảm chi phí tài chính thuê giảng viên và quản lý - Tiết kiệm chi phí tài liệu, giáo trình: Việc sử dụng các tài liệu dạng số đượclưu trữ trên hệ thống hay trong các thiết bị lưu trữ cá nhân sẽ giúp giảm đáng kể mộtlượng chi phí cho việc in ấn các tài liệu, giáo trình. Hơn thế nữa, việc hạn chế ô nhiễmmôi trường cũng được thực hiện thông qua hình thức sử dụng tài liệu, giáo trình theodạng này. - Tiết kiệm thời gian đi lại: Việc phải di chuyển từ nhà hay nơi làm việc đến cáctrường học, trung tâm đào tạo làm tiêu tốn một khoản thời gian khá lớn của sinh viên. - Chủ động lịch học: Sinh viên chủ động sắp xếp thời gian học linh hoạt theothời gian biểu cá nhân. 3- Sự thoải mái: Với E-Learning, người học có thể tự do học ở bất nơi nào vàobất kỳ thời điểm nào. - Hệ thống hóa: E-learning dễ dàng tạo và cho phép sinh viên tham gia học, dễdàng theo dõi tiến độ học tập, và kết quả học tập của sinh viên. Với khả năng tạo nhữngbài đánh giá, người quản lí dễ dàng biết được - Rút ngắn thời gian chờ lớp học vận hành: Trong môi trường học tập truyềnthống ở các lớp học tại trường, để thực sự một lớp học bắt đầu luôn có một thời gian đểchờ. Các hoạt động chờ có thể kể ra như: giảng viên đến trễ, sinh viên đến trễ, trang bịcác thiết bị hỗ trợ giảng dạy như máy chiếu, bảng, phấn hay chờ tài liệu in ấn hoặc trụctrặc thiết bị kỹ thuật như micro, máy chiếu,...Theo ước lượng, trung bình một lớp họctruyền thống mất từ 10-15 phút lãng phí cho các hoạt động chờ nói trên. Đối với họctrực tuyến, sinh viên chỉ cần tốn một vài cú kích chuột là có thể học được, không phảimất một lượng thời gian lãng phí cho việc chờ (không kể đến việc phải chờ đợi do tốcđộ đường truyền internet của người học trang bị không đảm bảo dẫn đến khóa học loadchậm). - Không chịu tác động bởi các yếu tố khách quan: Khi tham gia học tập truyềnthống tại các lớp học, sinh viên phải chịu các yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến quá trìnhhọc tập liên tục của mình như việc ngắt quãng quá trình học tập do giáo viên nghỉbởi một yếu tố nào đó như bệnh, bận việc,... và các yếu tố gây khó khăn cho việc dichuyển đến lớp học như thời tiết, giao thông. - Kiểm soát chủ động thành tích học tập: Thông qua chức năng biểu đồ báo cáothành tích học tập, sinh viên có thể biết trình độ, kỹ năng, kiến thức mình đang ở mứcđộ nào. Trên cơ sở các thông tin trung thực đó từ hệ thống, người học sẽ có những điềuchỉnh cách học cũng như thái độ học tập để nâng cao thành tích. - Được sự hỗ trợ nhanh chóng và đầy đủ từ đa dạng kênh: Hệ thống tài liệu đượclưu trữ trên hệ thống giúp sinh viên có thể truy xuất các thông tin hỗ trợ quá trình họcmột cách nhanh chóng và đầy đủ. Các chức năng trò chuyện, tương tác với học viên,giảng viên và quản trị viên hệ thống giúp người học giải quyết các thắc mắc một cáchnhanh chóng. * Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi của hình thức đào tạo E-Learning có một số khó khăn: - Về xây dựng nguồn tài nguyên bài giảng: Bài giảng, bài tập… chưa phong phúđặt biệt giảng viên sử dụng công nghệ (ghi hình, thu âm, sử dụng phần mềm) còn hạnchế nên chưa phát huy. - Về phía người học: Học tập theo phương pháp E-Learning đòi hỏi người họcphải có tinh thần tự học, do ảnh hưởng của cách học thụ động truyền thống, tâm lí họcphải có Thầy (không Thầy đố mày làm nên), nội dung quá tải tại trường… dẫn đến việc 4tham gia học E-learning chưa trở thành động lực học tập. Nhiều Sinh viên nghèo chưathể trang bị máy vi tính kết nối Internet. - Sự giao tiếp cần thiết giữa người dạy và người học bị phá vỡ. Người học sẽkhông được rèn kĩ năng giao tiếp xã hội. - Đối với những môn học mang tính thực nghiệm, E-Learning không thể đápứng yêu cầu môn học, không rèn được cho người học thao tác thực hành thí nghiệm, kĩnăng nghiên cứu thực nghiệm. Như vậy, E-Learning có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp dạy học truyềnthống, tạo ra được một môi trường rất tốt phục vụ cho phương pháp dạy học tương tác,cá nhân hóa người học. Tuy vậy, với những nhược điểm nêu trên, E – Learning cũngkhông phải là một giải pháp hoàn hảo và cũng không thể thay thế hoàn toàn phươngpháp học truyền thống.3.2. Thực trạng sử dụng hệ thống E-Learning tại UDCK Trong quá trình thực hiện xây dựng hệ thống E-learning, Tổ CNTT nhà trường -đơn vị xây dựng và quản lý trực tiếp hệ thống E-learning được Nhà trường giao nhiệmvụ tổ chức tập huấn nhằm giới thiệu hệ thống E-learning và các công cụ phần mềm cầnthiết cho cán bộ giảng dạy trong Trường sử dụng hỗ trợ cho công tác giảng dạy và thiếtkế bài giảng. Hệ thống E-learning được cài đặt trên một máy chủ của Trường. Hiện hệthống E-learning có thể bảo đảm hoạt động 24 giờ một ngày và 7 ngày một tuần. Hệthống có thể được truy cập từ các máy tính trong và ngoài Trường tại địa chỉ:http://elearning.kontum.udn.vn:8080 Nhà trường đã áp dụng đưa vào sử dụng hệ thống E-learning bắt đầu năm 2018kết quả như sau:* Các chức năng hệ thống E-learning đang triển khai: - Dành cho giảng viên: được cung cấp khóa học theo yêu cầu, quản lý khóa học(Upload bài giảng, thiết kế bài giảng theo chủ đề ..), quản lý sinh viên (Điểm danh, chođiểm, tổ chức thi và kiểm tra theo nhiều hình thức (trắc nghiệm, tự luận...).. - Dành cho sinh viên: có thể tham gia khóa học theo chương trình của phòng đàotạo, hoặc được thêm vào khóa học dưới sự cho phép của giáo viên, theo dõi tình hìnhhọc tập, download bài giảng, tương tác trực tiếp với giáo viên theo hệ thống gửi tinnhắn, tương tác với các bạn học trong lớp theo khóa học ...* Thống kê dữ liệu sử dụng hệ thống: - Tổng số cấp tài khoản 2.030 lượt tham gia sự dụng trên hệ thống. - Số lượng giảng viên tham gia giảng dạy trên hệ thống E-Learning gồm giảngviên cơ hữu: 49/73 (trong đó Khoa Kinh tế 25; khoa Sư phạm dự bị: 11; Khoa Kỹ thuậtNông nghiêp: 13); giảng viên thỉnh giảng: 7 - Khóa học đã tạo: 126. 5- Số lượt tham gia truy cập tương tác trên hệ thống: hơn 1.612.490 triệu lượt.* Đánh giá ứng dụng hệ thống: - Website phần mềm, hệ thống máy chủ và đường truyền phục vụ tương đối tốt. - Việc đưa Tài liệu/giáo trình bài giảng, bài tập của giảng viên và sinh viên lênhệ thống tương đối phong phú, có chất lượng và thuận tiện. - Tham gia dạy và học trên hệ thống: Đa số các khóa học, giáo viên áp dụng việcdạy học trực tuyến và học truyền thống song song. Tuy nhiên, việc giảng dạy trên hệthống Elearning chủ yếu tập trung vào các hoạt động như thi trắc nghiệm online. - Phương pháp truyền đạt, tương tác giữa giảng viên và sinh viên trên hệ thống:Chủ yếu thực hiện các hoạt động như tạo diễn đàn, sinh viên tham gia thảo luận cùngmột chủ đề hoặc mỗi sinh viên tự tạo một chủ đề và các thành viên khác tham gia thảoluận cùng chủ đề đó. Sinh viên thực hiện các bài kiểm tra ngắn để ôn tập lại kiến thứccủa chương. - Khó khăn lớn nhất hiện nay: + Sinh viên chưa có thói quen học trực tuyến, rất lười lên hệ thống, không có ýthức tự học, mặc dù giảng viên cũng động viên, khuyến khích và có nhiều biện phápchế tài. Có nhiều học phần được tạo ra chỉ nhằm mục đích cung cấp tài liệu cho sinhviên, sinh viên đăng nhập vào để tải tài liệu. + Nội dung, phương pháp giảng dạy trên hệ thống E-learning chưa phong phú.Cụ thể giảng viên chưa thực hiện được ghi hình trực tuyến đưa Video Clip bài giảnglên hệ thống để sinh viên vào học. + Số lượng giảng viên tham gia giảng dạy trên hệ thống chưa nhiều chỉ có31.5% (23/73).4. ĐỀ XUẤT Để thực hiện tốt ứng dụng hệ thống E – Learning tại UDCK có một số đề xuấtnhư sau: - Nhà trường có biện pháp quyết liệt trong quá trình triển khai ứng dụng hệthống, phải có biện pháp chế tài và hổ trợ động viên kịp thời giảng viên, sinh viên vàcán bộ chuyên viên tham gia, đồng thời tổ chức hội nghị báo cáo đánh giá kết quả thựchiện ứng dụng hệ thống sau mỗi kỳ học. - Đầu tư cơ sở vật chất liên quan hệ thống như hạ tầng CNTT đủ mạnh, cóđường truyền kết nối internet mạnh, Website hệ thống E-Learning… - Tăng cường tập huấn cho giảng viên, sinh viên và cán bộ chuyên viên quản lýcó liên quan về phương pháp, kĩ năng, sử dụng hệ thống E-Learning. - Giảng viên nên tăng cường ghi hình bài giảng (quay Video Clip bài giảng) đưalên hệ thống E-learning nhằm phục vụ việc học tập của sinh viên. 6- Giảng viên nên kết hợp sử dụng E-learning và những phương pháp giảng dạytruyền thống song song để người dạy và người học có thể giao tiếp, thảo luận, trao đổivà giải quyết một số vấn đề nhằm mục đích rèn luyện kĩ năng giao tiếp xã hội. Tóm lại: Cuộc CMCN 4.0 đã mở ra kỷ nguyên mới cho sự phát triển của loàingười bởi CMCN 4.0 ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội chứ không chỉriêng phương thức E-Learning. Những lợi thế do CMCN 4.0 mang lại cho lĩnh vựcgiáo dục nói chung và phương thức E-Learning nói riêng là không phải bàn cãi. Tuynhiên, bên cạnh những lợi thế đó còn là những thách thức mà chúng ta cần hiểu rõ, từđó có những giải pháp, định hướng phù hợp để phương thức E-Learning luôn phát huyvai trò tiên phong của nó nhằm xây dựng nền kinh kế tri thức hướng tới một xã hội họctập. Phòng Đào tạo 7TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG 4.0 ĐẾN CÔNG TÁC GIẢNG DẠY KHỐI NGÀNH KINH TẾ Khoa Kinh tế 1. Tính cấp thiết Nhịp độ phát triển của đất nước không chỉ lệ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế, củakhoa học kỹ thuật mà còn phụ thuộc vào nhịp độ phát triển của giáo dục, đào tạo. Giáo dụctrong thời đại CMCN 4.0 cần phải được ưu tiên phát triển, trong đó có giáo dục đại học.Mô hình giáo dục đại học 4.0 là mô hình giáo dục thông minh, liên kết nhà trường- nhàquản lý - doanh nghiệp với nhau, đưa tiến bộ công nghệ thông tin vào trường học để nângcao hiệu quả đào tạo, giúp việc dạy và học diễn ra mọi lúc mọi nơi. Trường đại học theochuẩn giáo dục 4.0 không chỉ là nơi đào tạo – nghiên cứu mà còn là trung tâm đổi mới sángtạo, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên, nâng cao năng suất lao động nhằm đápứng nhu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứtư (Trang;2018). Với sự tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0 đến giáo dục đòi hỏi cáctrường đại học cần thay đổi mục tiêu, nội dung giáo dục, phương pháp giảng dạy. Việc dạyhọc trực tuyến, cùng với các công cụ hỗ trợ cho giảng dạy của thời địa công nghệ số đã vàđang thay đổi lớn đến tình hình dạy và học tại các trường đại học, giúp hiện đại hóa giáodục, hội nhập với quốc tế, song lại đặt ra nhiều những vấn đề khiến giảng viên và các nhàquản lý phải cân nhắc để thay đổi phương pháp dạy học nhằm đem lại hiệu quả cao nhấttrong giáo dục đại học hiện nay. Bài viết trình bày sự tác động tích cực và những thách thức mà cách mạng côngnghiệp 4.0 đem lại đối với yêu cầu thay đổi phương pháp giảng dạy tại các trường đại học,và đánh giá mức độ áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy của giảng viên thuộcKhoa kinh tế, từ đó đề xuất một vài kiến nghị đổi mới phương pháp giảng dạy đại học cóthể bắt kịp xu thế giáo dục mới từ cách mạng 4.0 đem lại. 2. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và tác động đến công tác giảng dạy Với sự lan truyền ứng dụng rộng rãi của công nghệ 4.0, các lĩnh vực, ngành nghề sẽđược tự động hóa thay thế con người và đòi hỏi yêu cầu về kỹ năng lao động của con ngườingày một cao. Khi đó, nếu người lao động không nâng cao năng lực tay nghề, kỹ năngthích ứng nhanh sẽ bị đào thải ra khỏi thị trường lao động. Vì vậy, câu hỏi đặt ra không chỉở Việt Nam mà cho cả thế giới làm thế nào để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầutrong bối cảnh mới. Đây là thách thức lớn đối với những người làm công tác đào tạo. Đội ngũ giảng dạycần phải đổi mới quá trình dạy, từ cách dạy truyền thống sang phương pháp dạy hiện đạiphù hợp với thời đại 4.0 bằng cách từ truyền thụ kiến thức sang hình thành phẩm chát vàphát triển năng lực người học, phát huy tối đa tiềm năng của người học. Do đó, để thích nghi, ứng phó với những thách thức, các trường đại học cần giảngdạy những kiến thức tích hợp, đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường giảng dạy kỹnăng làm việc nhóm, tự học, biết cách tìm hiểu vấn đề, giải quyết vấn đề, xử lý thông tin.Việc dạy học thời đại 4.0 không chỉ đóng khung trong giảng đường, lớp học, phòngthí nghiệm mà còn phải mở rộng liên kết với bên ngoài với các doanh nghiệp, với thị trườnglao động, không chỉ thế, vận dụng internet để liên kết với thế giới, tìm kiếm thông tin, xửlý thông tin, giải quyết các vấn đề liên quan tới thực tiễn cuộc sống. Phương pháp giảng dạy cần phải đổi mới mạnh mẽ, mạnh dạn sử dụng các công cụnhư internet, giáo dục trực tuyến, sử dụng công nghệ điện toán đám mây cho phép ngườidạy có thể cung cấp tài liệu cho người học và thu thập lại kết quả của người học trong quátrình dạy học một cách linh hoạt và liên tục, ngoài ra phương pháp giảng dạy này sẽ linhhoạt về thời gian cũng như tạo ra một không gian phù hợp với điều kiện và nhu cầu củangười học. Ngoài việc vận dụng công nghệ thông tin mà còn thay đổi tư duy và cách tiếpcạn để tận dụng hết những cơ hội mà công nghệ 4.0 mang lại. Việc sử dụng số hóa có thể sẵn sàng giúp người học khai thác nội dung làm việc bênngoài bài giảng dưới dạng số hóa. Ngoài ra, người dạy cần phải tìm ra phương thức giảngdạy và cấu trúc hỗ trợ người học phát triển các kỹ năng học tương tác, cộng tác, độc lậpvới nhau. Người dạy cần phải nuôi dưỡng ý nghĩ phê phán, sáng tạo, tư duy và nhiệt tìnhcủa người học, bên cạnh đó người dạy cần phải hỗ trợ tâm lý, tư vấn, cố vấn và hướngnghiệp cho người học. Để công tác giảng dạy bắt kịp xu thế, người dạy còn phải sử dụng các nguồn lực thưviện điện tử, tài nguyên mở, khéo léo trong việc lựa chọn tài liệu, phát triển và làm giàu tưliệu dạy học với cấu trúc số hóa theo phương thức mọi lúc, mọi nơi. Việc này giúp cho sinhviên lấy được thông tin và tri thức qua cửa sổ kỹ thuật số, nên việc đánh giá học tập củangười học không còn nằm trong khuôn khổ của lớp học, vai trò của người dạy trở thànhcộng tác với người học. Bảng 1: Các phương pháp giảng dạy theo truyền thống và hiện đạiTiêu Phương tiện giảng Phương Phương cách Tâm lý vận Phương Kết quả học tập dụng pháp đánh giáo dụcchí/ dạy, học tập pháp giảngphương giá dạyphápTruyền Sách giáo khoa, Thuyết Lắng nghe, Trí nhớ, kí ức Gợi lại trí Chấm điểmthống giáo trình, tài liệu minh ghi chép, học nhớ thuộc, lặp lạiPhương Trực tuyến, Đặt vấn đề, Tìm tòi, quan Động não tư Bài tiểu Công trình luận, cá nghiên cứu,pháp internet, thư viện nêu tình sát, so sánh, duy, phân tích,hiện đại huống, nghiên cứu suy luận đối nhân, phát minh điện tử, phòng thí tình huống, chiếu, phê nghiên cứu mới phân tích, thảo luận, báo bình, tổng khoa học nghiệm, phòng thực tìm hiểu, hợp, sáng tạo thảo luận cáo hành mô phỏngNguồn: Hồ Thị Yến Ly và Đỗ thị Bích Hồng, Phương pháp dạy và học thời đại cách mạng công nghệ 4.0, Hội nghị kỷ yếu giáo dục thời đại cách mạng 4.0, Đại học Công nghệ Sài Gòn Như vậy, quá trình dạy cần phải chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hình thành phẩmchất và kỹ năng phát triển năng lực người học, tổ chức một nền giáo dục mở, thực học,thực nghiệm, phát triển giáo dục theo hướng chú trọng về chất lượng và hiệu quả, phát huytối đa tiềm năng của cá nhân.Phương pháp học Ngoài việc đổi mới việc dạy, cần phải đổi mới cả việc học. Từ cách lắng nghe, ghichép, học thuộc, nhớ nhiều và lặp lại sang hình thành phương pháp học mới năng độnghơn, mang tính vận dụng, thích nghi, giải quyết vấn đề, tư duy độc lập. Học không chỉtrong sách vở mà còn học qua các trò chơi, liên hệ tương tác, cung ứng đám đông, học môphỏng, học theo dự án. Để thực hiện tốt nhiệm vụ học, người học phải có sự tương tác với người dạy, tíchcực sử dụng công nghệ để tìm kiếm thông tin, tài liệu, tư duy hơn, và năng động hơn. 3. Thực trạng áp dụng CNTT vào hoạt động giảng dạy tại khoa Kinh tế Trong những năm học vừa qua, theo chỉ đạo của nhà trường, áp dụng việc học tậpqua hệ thống elearning được thực hiện rộng rãi từ phía giáo viên trong khoa. Hầu hết, tấtcả giáo viên đều giảng dạy trực tuyến trong môn học được phân công. Tuy nhiên, mức độthường xuyên sử dụng elearning vào trong giảng dạy chiếm 53%, và không thường xuyênđạt mức 47%. Việc giảng dạy chủ yếu tập trung vào cho sinh viên những bài kiểm tra nhanhtheo từng chương, thi giữa kỳ và thi cuối kỳ. Mức độ sử dụng elearning vào trong giảng dạy Thường xuyên Không thường xuyên 47% 53% Nguồn: Tổng hợp ý kiến của giảng viên khoa Kinh tế (tháng 06- năm 2019) Bên cạnh việc sử dụng ứng dụng học trực tuyến của nhà trường, giảng viên chủ độngáp dụng nhiều phần mềm công nghệ khác để giúp sinh viên gắn kết được lý thuyết và thựctế, có khả năng đáp ứng được yêu cầu công việc trong tương lai, bao gồm: SPSS, Misa,Kahoot, Edmodo… Bên cạnh đó, 100% giáo viên đều cập nhật bài giảng qua hệ thống email và elearning.Điều này giúp sinh viên đa dạng được tài liệu học tập và nghiên cứu.Bảng 2: Thống kê các phương pháp giảng dạy của giáo viên trong khoaPhương pháp giảng dạy Thường xuyên Không thường Không áp xuyên dụngDạy kết hợp lý thuyết với thực 86,7% 6,7% 6,7%hànhThảo luận theo nhóm và giải 73,3% 26,7% 0,0%quyết vấn đềDạy học theo dự án 20,0% 26,7% 53,3%Dạy học theo mô phỏng 6,7% 40,0% 53,3%Nguồn: Dữ liệu khảo sát giảng viên khoa Kinh tế (tháng 06- năm 2019) Về phương pháp giảng dạy, việc “dạy kết hợp lý thuyết với thực hành” có mức độthường xuyên cao đạt 86,7%; việc “thảo luận theo nhóm và giải quyết vấn đề” có 73,3%giảng viên thường xuyên sử dụng, 26,7% không thường xuyên sử dụng. Việc dạy học theodự án và dạy theo mô phỏng được triển khai ở mức thấp, chỉ 46,7% có áp dụng phươngpháp này; 53,3% không áp dụng trong quá trình dạy học. Trong quá trình triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc giảng dạy,giảng viên có những thuận lợi và khó khăn và thách thức như sau:Thuận lợi: Cuộc CMCN 4.0 đã và đang đem lại nhiều điều kiện thuận lợi cho GV tại các trườngđại học ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực đổi mới phương pháp dạy học theohướng hiện đại. Trước hết, nguồn tài liệu phục vụ giảng dạy vô cùng đa dạng nhờ sự tiến bộ của hệthống internet kết nối và dữ liệu khổng lồ giúp GV tiếp cận được nhiều tài liệu trong vàngoài nước, phục vụ tốt việc xây dựng bài học. GV có thể tìm hiểu sâu sắc về vấn đề giảngdạy với nhiều hướng nhận thức khác nhau, làm phong phú thêm cách nhìn nhận của bảnthân với môn học, giúp các GV tự tin hơn trong giảng dạy. Tiếp đến, GV có thể sử dụng các phương pháp, phương tiện và kĩ thuật dạy học hiệnđại áp dụng vào hoạt động giảng dạy của mình. Với nhiều phần mềm dạy học hiện đại, GVcó nhiều lựa chọn đối với các phương tiện kĩ thuật phù hợp với giảng dạy. Hiện nay, trênthế giới, các nhà khoa học giáo dục đã tìm kiếm và xây dựng trên 200 phần mềm dạy họchiện đại, đây là một kho phần mềm tiện ích giúp GV tìm hiểu, vận dụng và linh hoạt sửdụng trong giảng dạy để tạo ra hiệu quả giáo dục tốt nhất. Quan trọng nhất, chính là việccuộc cách mạng này đặt ra cho GV một sự thay đổi lớn trong giảng dạy, với sự xuất hiệncủa việc dạy học online, e-learning.Khó khăn:Thứ nhất, chưa thiết kế được nhiều hoạt động tương tác dựa trên công nghệ thông tin Thứ hai, hầu hết các app hỗ trợ giảng dạy hay lại được viết bằng tiếng Anh, mà sinhviên UDCK thì đa phần yếu tiếng Anh, giảng viên không thể hỗ trợ chi tiết từng sinh viênđược Thứ ba, giảng viên còn ngại thay đổi và chưa thành thạo sử dụng các phần mềm đểsoạn bài giảng phù hợp với môn học; sử dụng Elearning còn hạn chế, chủ yếu chỉ mới posttài liệu, giao bài tập và hạn nộp cho sinh viên trên hệ thốngThứ tư, sinh viên ít tương tác, chưa chủ động trong việc học trực tuyến.Thứ năm, để thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi cần đầu tư nhiều thời gian và công sứcđể chuẩn bị bài giảng. Thứ sáu, hệ thống wifi rất yếu, không đáp ứng đủ nhu cầu truy cập cho một lượnglớn sinh viên và giảng viên tại một thời điểm. Thứ bảy, nhiều công cụ hỗ trợ giảng dạy đòi hỏi GV phải thường xuyên cập nhật cácphương pháp dạy học hiện đại để tránh sự nhàm chán trong quá trình dạy và học. Theo sựnghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục trên thế giới, hiện nay có khoảng hơn 200 côngcụ hỗ trợ có thể áp dụng vào quá trình giảng dạy và nghiên cứu. Tuy nhiên, những công cụnày không phải ai cũng hiểu, ai cũng có thể sử dụng trong thực tiễn. Hơn nữa, mỗi ngàycông nghệ càng hiện đại hơn, nên nhiều GV có thể không theo kịp và khó ứng dụng vàotrong giảng dạy làm cho hiệu quả giảng dạy bị giảm sút. 4. Kiến nghị và giải pháp Đối với giảng viên: cần nâng cao nhận thức cho đội ngũ giảng dạy. Trước hết, cầnnhận thức rằng đổi mới phương pháp, hình thức dạy học là một tất yếu trong điều kiện mới.Quá trình này có thể khó khăn bước đầu đối với GV; vì vậy, mỗi GV cần quyết tâm và kiêntrì, nỗ lực hết mình để hoàn thành nhiệm vụ dạy học theo những yêu cầu mới. Tâm thế chủđộng, tự tin sẽ là động lực giúp GV đón nhận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 một cáchhiệu quả để ứng dụng những thành tựu của nó vào trong hoạt động giảng dạy. Trong giảng dạy, GV cần từng bước áp dụng các phương pháp dạy học dạy họchiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ, kĩ thuật hiện đại trong dạy học. Nhiều phươngpháp dạy học mới như thảo luận nhóm; sử dụng các tình huống có vấn đề, dạy học theogóc… cùng với các công cụ hỗ trợ kĩ thuật dạy học như Edomodo; Kahoot; Youtube, cáchình thức dạy học trực tuyến… rất hiệu quả trong việc giảng dạy hiện nay. Mỗi một mônhọc có những đặc thù riêng, GV có thể theo dõi và lựa chọn những phương pháp dạy họcvà phương tiện kĩ thuật dạy học phù hợp để đem lại hiệu quả cao nhất, tạo được sự hứngthú, tích cực học tập của SV. Mặt khác, cần tăng cường mối quan hệ với các đơn vị bên ngoài ở các doanh nghiệp,để hiểu rõ, hiện nay các doanh nghiệp đang ứng dụng những công nghệ gì, phần mềm gìphục vụ cho hoạt động để từ đó hỗ trợ cho sinh viên tiếp cận dần trong khi còn đang họctập tại trường. Kiến nghị với cơ chế quản lý của nhà trường Thứ nhất, Nhà trường cần có những kế hoạch cụ thể trong từng bộ môn, ứng dụng vàthí điểm từng bước hoạt động dạy học hiện đại, từ đó rút kinh nghiệm để mở rộng đổi mớiphương pháp dạy học ở những bộ môn tiếp theo trong toàn trường. Hoạt động này nên tiếnhành theo từng bước, tránh nóng vội, chủ quan có thể dẫn đến hiệu quả kém trong giảngdạy tại nhà trường. Bồi dưỡng, nâng cao năng lực ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thôngtin cho GV là một việc làm cấp thiết trước yêu cầu đổi mới giáo dục và hội nhập toàn cầuhiện nay.Thứ hai, lãnh đạo nhà trường cũng cần đề ra những chính sách, khuyến khích độngviên, tạo động lực cho GV tích cực sáng tạo và ứng dụng những phương pháp dạy học hiệnđại vào thực tiễn của nhà trường để khuyến khích sự đam mê và tâm huyết của GV. Có thểsử dụng nhiều hình thức khác nhau như tăng lương, khen thưởng..., từ đó nhân rộng môhình cá nhân tiên tiến trong toàn trường. Sau mỗi hoạt động đổi mới cần có sự đánh giá rútkinh nghiệm và trao đổi giữa các GV nhằm tạo sự hỗ trợ trong hoạt động giảng dạy củacác GV. Thứ ba, Nhà trường nên thường xuyên tổ chức các hoạt động học tập, bồi dưỡngnhằm nâng cao chất lượng GV, cũng như tổ chức thường niên các hội thảo nghiên cứukhoa học chuyên sâu về phương pháp dạy học tại nhà trường nhằm cung cấp kiến thứccũng như nâng cao những kĩ năng nghiệp vụ sư phạm cho GV. Về cơ sở vật chất: nhà trường cần đầu tư trang thiết bị, phương tiện dạy học hiện đại,cột thu sóng wifi mạnh đủ cho GV và SV tham gia kết nối và học tập trên internet một cáchdễ dàng hơn. 5. Kết luận Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang ảnh hưởng sâu sắcđến mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt đối với hoạt động dạy và học trong các trườngđại học. Trước những thời cơ và thách thức đó, GV cần rèn luyện bản lĩnh, luôn luôn sángtạo và không ngừng đổi mới để đem lại hiệu quả dạy học tốt nhất. Ngoài việc học tập nângcao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, các GV cần phải chú trọng bồi dưỡng năng lực sửdụng thành thạo công nghệ thông tin, ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu GD-ĐT trong điềukiện kết nối toàn cầu để có thể tiếp cận những tri thức khoa học do cuộc CNCN 4.0 manglại.TÀI LIỆU THAM KHẢO[1] Hồ Thị Yến Ly và Đỗ thị Bích Hồng, Phương pháp dạy và học thời đại cách mạngcông nghệ 4.0, Hội nghị kỷ yếu giáo dục thời đại cách mạng 4.0, Đại học công nghệ SàiGòn[2] Trịnh Quang Dũng - Phạm Thị Hằng, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sựtác động đến phương pháp dạy học ở đại học hiện nay, Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì2 tháng 5/2018, tr 94-97[3]. Thùy Trang (2018), Phú Yên: Giảng dạy trong thời đại CMCN 4.0, tải từ tranghttp://www.vusta.vn/vi/news/Trao-doi-Thao-luan/Phu-Yen-Giang-day-trong-thoi-dai-cach-mang-cong-nghiep-4-0-61884.html14/06/2019LOGO GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY THÍCH ỨNG VỚI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 114/06/2019 Câu hỏi trao đổiLOGO1.Nếu bị ốm, ai sẽ chữa trị cho bạn?2. Sinh viên có bắt buộc phải lên lớp đểnghe giảng? 214/06/2019 Sự cần thiết phảiLOGO đổi mới PPGD Nhiệm vụ của giáo dục: Tác động của CM 4.0: đào tạo nguồn nhân lực chất Làm thay đổi cơ cấu LĐ, thị trường lượng cao, có khả năng thích LĐ => căn bản phong cách làmnghi, đáp ứng yêu cầu mới mà việc, phương thức giao tiếp, lốiphương pháp giáo dục đại học sống của con người truyền thống không đáp ứng được Yêu cầu: -Thay đổi tư duy quản lý GD - Đổi mới chương trình đào tạo - Đổi mới phương pháp giảng dạy. 314/06/2019 Khái niệmLOGO Phương pháp giảng Đổi mới PPGD là cảidạy (PPGD) là những tiến những hình thức hình thức, cách thức và cách thức làm việc hoạt động của giảng kém hiệu quả, sử viên nhằm thực hiện dụng những hình những mục tiêu dạy thức và cách thứchọc xác định, phù hợp hiệu quả hơn nhằmvới những nội dung và nâng cao chất lượng điều kiện dạy học cụ dạy học, phát huynăng lực sáng tạo, tích cực thể. của người học. 414/06/2019Lược sử về đặc trưng của giáo dụcLOGO qua các cuộc cách mạngGiáo dục 1.0 Giáo dục 2.0 Giáo dục 3.0Sự chuyển kiến Dạy và Học Phương pháp họcthức từ Thầy không có sáng tương tácsang Trò tạo(thầy đọc - trò Giáo dục 4.0chép) Thay đổi hành viGmiọáiondgụưcờ4i c.0óđthưểợccùhniểgudlạàymhộọtcmởômi tọCrưilinờcơknigt,ommaọdàidởlúTcđitóle của người học cùngvới các thiết bị kết nối để tạo ra việc học tập được cáthể hóa. Tổ chức giáo dục thành một môi trường tạo với các năng lựcsản phẩm sáng tạo mang tính cá thể với thành tựu song hành, kết nốilĩnh hội kiến thức và năng lực đổi mới, sáng tạoriêng của từng cá nhân trong môi trường này. và tưởng tượng Có thể nói sự sáng tạo, đổi mới chính là nền tảng của giáo dục 4.0. 514/06/2019 Vai trò của giảng viênLOGO trong thời đại 4.0Người thầy có vai trò gì trong thời đại 4.0? Thầy Hướng dẫn Trò -Hình thành phẩm chất, -Phát triển năng lực, -Phát huy tối đa tiềm năng của người học 614/06/2019Những kỹ năng cần có của người họcLOGO trong thời đại 4.0 Sự sáng tạo Công dânKỹ năng giải quyết vấn đề toàn cầu. Kỹ năng làm việc nhóm 714/06/2019LOGO Định hướng giảng dạy Gắn việc dạy và học với thực tiễnKhuyến khích Ứng dụng CNTT việc học tập trong giảng dạy, học tập suốt đời và quản lý Đẩy mạnh việc học tập ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh 814/06/2019 Giải pháp nâng caoLOGO chất lượng giảng dạyỨng dụng CNTT Nâng cao chấttrong giảng dạy lượng giảng dạy trựcnhư dạy online,phòng học ảo.. tiếp cho người học (a.dụng pp giảng dạy tích cực; dạy theo dự án, dạy mô phỏng..) TitleCó chính sách Có cơ chế tài chínhbồi dưỡng năng phù hợp để Gv có cơlực Gv thường hội phát triển chuyênxuyên (kỹ năng môn và “sống được”ứng dụng CNTT, bằng nghềngoại ngữ, nănglực chuyênmôn..) 914/06/2019LOGO [ Add your company slogan ] 10ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÁC NGÀNH KỸ THUẬT TRONG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 Khoa Kỹ thuật - Nông nghiệp Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum [email protected]1. Đặt vấn đề Trong xu hướng hội nhập quốc tế, người lao động đòi hỏi không những có kiến thức chungmà còn phải có kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thực hành, tác phong, thái độ làm việc chuyênnghiệp. Nhằm đáp ứng yêu cầu này, một nội dung chú trọng của phát triển giáo dục đại học ViệtNam là đào tạo định hướng ứng dụng. Để đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cungứng nhân lực với kỹ năng đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động thuộc các lĩnh vực kỹ thuật,trong những năm qua, Khoa Kỹ thuật Nông nghiệp - Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum đã khôngngừng đổi mới đào tạo thông qua chuyển hướng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thuộc lĩnhvực khoa học công nghệ theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng đáp ứng yêu cầu phát triển kinhtế, văn hóa xã hội của cả nước và khu vực Bắc Tây Nguyên. Khoa đã và đang tiến hành hàng loạtcác hoạt động về đổi mới chương trình và tổ chức đào tạo nhằm trang bị cho người học những nộidung học mà xã hội cần thay vì những nội dung nhà trường và giảng viên có; Tổ chức thực hiệnchương trình đào tạo trong mối quan hệ gắn kết với doanh nghiệp để tăng cường hoạt động trảinghiệm của sinh viên, sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo. Kỹ thuật - công nghệ là khối ngành đặc biệt quan trọng, đóng vai trò then chốt trong pháttriển kinh tế xã hội của đất nước, là phương tiện chính để chuyển dây chuyền sản xuất từ thô sơ,thủ công lên quy trình sản xuất hiện đại, tiên tiến nhờ áp dụng các thành quả của cuộc cách mạngcông nghệ 4.0 (CMCN 4.0) để tạo ra sản phẩm công nghệ cao đáp ứng theo xu thế hội nhập. Vìvậy, nguồn nhân lực trong lĩnh vực này là nhân tố cơ bản nhất để đẩy nền kinh tế công nghiệp hiệntại lên xu thế hội nhập 4.0. Người lao động cần có kỹ năng để thích ứng với những yêu cầu cáchmạng khoa học kỹ thuật, những kỹ năng mà robot không thể thay thế con người như kỹ năng vềtư duy nhận thức mức độ, kỹ năng cảm xúc xã hội cũng như kỹ năng tương tác với công nghệ. Tuy nhiên, nguồn nhân lực thực sự hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường,một phần là do trong hệ thống nhà trường nhất là những trường đào tạo về kỹ thuật còn áp dụngnhững công nghệ rất cũ trong công tác giảng dạy. Khi cuộc CMCN 4.0 ra đời thì các doanh nghiệpsẽ đòi hỏi họ cũng phải thay đổi, phát triển để đáp ứng yêu cầu của khách hàng, muốn đáp ứngnhư vậy thì họ cần nguồn nhân lực cao hơn. Xuất phát từ yêu cầu đó, việc đào tạo nguồn nhân lựckhối ngành kỹ thuật theo định hướng ứng dụng 4.0 đang được toàn xã hội quan tâm, trong đó đóngvai trò quyết định là các trường đại học. Các cơ sở giáo dục cần chuyển đổi mạnh mẽ sang môhình chỉ đào tạo những gì thị trường cần và hướng tới chỉ đào tạo những gì thị trường sẽ cần. Nhàtrường không thể ngồi nghĩ phải làm hay không làm gì mà phải thiết kế được một mô hình tổngthể và phải có mô hình, phương thức thông minh thì mới tạo được cạnh tranh, như vậy những tânkỹ sư, cử nhân ra trường mới có thể lành nghề, biết ứng dụng mọi tinh hoa 4.0 đã được học và trảinghiệm ở nhà trường vào thực tế sản xuất. Bài viết này chỉ đề cập đến những nhân tố tác động đếncuộc cách mạng công nghệ 4.0 đến sự phát triển của nguồn nhân lực, cũng như nêu bật được nhữngthực trạng về đào tạo nguồn lực hiện nay tại Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum, đồng thời đề xuấtmột số giải pháp để đào tạo nguồn nhân lực khối ngành kỹ thuật đạt hiệu quả cao, đáp ứng xu thếhội nhập công nghiệp 4.0 hiện nay. 2. Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến sự phát triển của nguồn nhân lực Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởngnhiều nhất từ CMCN 4.0. Theo đó, những ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông sẽ chịu tácđộng lớn, nguy cơ thất nghiệp cao do sự phát triển của công nghệ tự động và trí tuệ nhân tạo. Tuynhiên, trong cuộc cách mạng này, nhiều ngành nghề sẽ biến mất, nhưng lại có những công việcmới ra đời. Điều đó đòi hỏi nguồn nhân lực phải được trang bị kiến thức, kỹ năng phù hợp để đápứng yêu cầu trong tình hình mới. Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về chất lượngnguồn nhân lực như trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động còn thấp; năng suất lao động thấphơn nhiều nước trong khu vực ASEAN… Như vậy, những ngành nghề sử dụng lao động phổ thôngở mức độ đào tạo đơn giản sẽ chịu tác động lớn và nguy cơ thất nghiệp do sự phát triển của CMCN4.0. Nguồn: WEF Readiness for Future of Production Report 2018 Hình 1: Thứ hạng chỉ số nguồn nhân lực của Việt nam và các nước ASEAN Theo báo báo về mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai 2018 của Diễn đàn kinhtế thế giới (WEF) công bố tháng 4/2018, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia chưa sẵn sàng chocuộc CMCN 4.0, chỉ xếp 70/100 về nguồn nhân lực (hình 1). So với các quốc gia trong khu vựcĐông Nam Á, chỉ số nguồn nhân lực Việt Nam xếp sau Malaysia, Philippines, Thái Lan và chỉ xếphạng tương đương với Campuchia. Đối với các trường đại học, CMCN 4.0 đòi hỏi phải đào tạo ranguồn nhân lực có các kỹ năng mới và trình độ giáo dục cao hơn so với những thập kỷ trước, bởithị trường đòi hỏi lao động có trình độ giáo dục và đào tạo cao hơn. Thực tế hiện nay, giáo dục đạihọc về tổng thể vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng. Nguồn: WEF Readiness for Future of Production Report 2018 Hình 2: Thứ hạng về chỉ số LĐ có chuyên môn cao của VN so với các nước ASEAN Một trong những thách thức đặt ra đối với các quốc gia đang phát triển khi tiếp cận cuộcCMCN 4.0 chính là nguồn nhân lực có trình độ cao. Theo số liệu báo cáo của WEF 2018, ViệtNam xếp hạng thuộc nhóm cuối trong bảng thứ tự về lao động có chuyên môn cao, xếp hạng81/100 (hình 2) sau Thái Lan, Malaysia, Philippines và chỉ tương đương với Indonesia vàCampuchia. Bên cạnh đó, thứ hạng về chất lượng đào tạo nghề của Việt Nam xếp hạng 80/100(hình 3), so với các nước ASEAN thì chỉ hơn Campuchia (92/100). Nguồn: WEF Readiness for Future of Production Report 2018 Hình 3: Thứ hạng về chỉ số chất lượng đào tạo nghề của VN so với các nước ASEANCuộc CMCN 4.0 đặt ra những yêu cầu mới và cao hơn đối với người lao động. Người laođộng phải có đủ kiến thức và kỹ năng để làm chủ được các công nghệ mới, làm việc trong thờicuộc mới. Những kỹ năng của người lao động có thể được phân thành 3 nhóm: (1) Các kỹ năngliên quan đến nhận thức; (2) Các kỹ năng về thể chất; và (3) Các kỹ năng về xã hội. Các kỹ năngliên quan đến nhận thức bao gồm: Tư duy phản biện, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề,kỹ năng tự phê bình (self-reflection); khả năng sáng tạo tri thức, hay chiến lược học tập. Các kỹnăng về thể chất bao gồm: Kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng về cuộc sống, kỹ năng số. Các kỹ năng vềxã hội bao gồm: Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ, ứng xử. Để có thể đáp ứng đượcnhững yêu cầu mới đặt ra đối với người lao động, bên cạnh các chính sách về lao động, việc làm,lĩnh vực giáo dục và đào tạo cũng cần có những điều chỉnh phù hợp. Cuộc CMCN 4.0 có nhữngtác động nhất định đối với sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Thứ nhất, nền sản xuất mới trong điều kiện của cuộc CMCN 4.0 đòi hỏi trình độ chuyên mônkỹ thuật cao hơn đồng nghĩa với kỹ năng cao hơn. Những kỹ năng được tích lũy thông qua quátrình học tập. Mỗi cấp học khác nhau sẽ tập trung vào những nhóm kỹ năng khác nhau. Cụ thể, đểcạnh tranh trong thời đại mới, người lao động cần sử dụng được nhiều hơn một ngôn ngữ, kỹ năngsử dụng thành thạo công nghệ. Do đó, việc đào tạo nguồn nhân lực bên cạnh đào tạo chuyên môncần phải đào tạo tốt kĩ năng cho người học sau khi tốt nghiệp đáp ứng tốt nhu cầu của thị trườnglao động. Thứ hai, trong bối cảnh kinh tế - xã hội toàn cầu đa dạng hơn, cần một chương trình đào tạocó tính hội nhập hơn. Hội nhập kinh tế quốc tế đang là một xu thế tất yếu với tất cả các quốc giatrên thế giới. Những vấn đề kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế trở nên phứctạp hơn, ảnh hưởng đến nhiều hơn một quốc gia và đòi hỏi sự phối hợp của nhiều quốc gia để giảiquyết. Để người lao động có thể thích nghi trong bối cảnh hội nhập khu vực, chương trình giảngdạy trong nhà trường phải tích hợp các vấn đề toàn cầu để trang bị cho người học những kiến thức,kỹ năng cần thiết. Thứ ba, trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0, đào tạo cần thực hiện trên nền tảng công nghệ hiệnđại. Sự phát triển của công nghệ là yếu tố then chốt, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống và sảnxuất. Công nghệ sẽ giúp tăng cường khả năng tiếp cận với các tri thức thông qua các hình thứckhác nhau, giúp việc chia sẻ kiến thức giữa người dạy với nhau, giữa người dạy và người học, giữangười học với nhau nhanh hơn và hiệu quả hơn. Đồng thời, việc sử dụng công nghệ thường xuyêntrong quá trình học tập cũng hình thành và bồi dưỡng những kỹ năng về công nghệ cho người laođộng khi tham gia thị trường lao động. Một vấn đề khác đặt ra cho các cơ sở đào tạo là cách thứctổ chức để chuyển tải nội dung chương trình đào tạo đến người học. CMCN 4.0 đòi hỏi phươngthức và phương pháp đào tạo thay đổi với sự ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT),công nghệ kỹ thuật số, hệ thống mạng và các hệ thống thông minh. Điều này yêu cầu việc sử dụngcông nghệ trong giảng dạy ngày càng cao, trang bị đầy đủ các cơ sở hạ tầng cho việc áp dụng côngnghệ trong giảng dạy bao gồm hạ tầng CNTT; phòng học tiên tiến, với đầy đủ trang thiết bị hiệnđại như máy tính nối mạng, bảng tương tác...; phòng tin học, ngoại ngữ, phòng thi trên máy tínhhoặc thiết bị cầm tay cá nhân; thiết bị thực hành thí nghiệm; phòng thư viện; phòng học theophương pháp STEM; phòng họp và môi trường đào tạo trực tuyến; hệ thống camera giám sát; hệthống thông tin giáo dục của nhà trường; hệ thống thông tin quản lý giáo dục; ứng dụng phần mềmmô phỏng, phần mềm thực hành, thí nghiệm ảo trong dạy học… Thứ tư, thay đổi phương thức đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0không chỉ ở việc đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng vật chất đáp ứng yêu cầu và việc đào tạo chỉ thựcsự hiệu quả khi có nền tảng hạ tầng con người phù hợp đi kèm với quản lý trường học thông minh,hệ thống giáo dục thông minh, đồng bộ cho sự phát triển tổng thể chương trình đào tạo liên thônggiữa các bậc học. Đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng vật chất và con người đáp ứng với mô hình đàotạo trong thời đại 4.0; Quản lý trường học thông minh và Xây dựng hệ thống giáo dục thông minhlà tam giác rất quan trọng để phát triển trường học thông minh trong nền giáo dục 4.0. Thứ năm, giáo dục phải đương đầu với thách thức to lớn chuyển từ học truyền thống sangđổi mới phương pháp học. Điều này đặt ra yêu cầu lớn biến đổi vai trò người dạy truyền thụ kiếnthức theo cách truyền thống sang vai trò xúc tác và điều phối. Sự biến đổi này buộc người dạy đốidiện với nhiệm vụ mới một cách linh hoạt hơn và cần được đào tạo bồi dưỡng lại cho các nhiệmvụ rất mới mẻ này. Vai trò người dạy đã và đang tiếp tục thay đổi từ địa vị người dạy sang ngườithiết kế, cố vấn, huấn luyện và tạo ra môi trường học tập. Cùng với sự phát triển của cuộc CMCN4.0, Giáo dục trực tuyến mang nhiều ưu điểm vượt trội trong đào tạo đã làm thay đổi mạnh mẽ quátrình tự học do khả năng cá nhân hóa cũng như đáp ứng hiệu quả các hoạt động học tập của ngườihọc. Giáo dục trực tuyến và xây dựng môi trường học tập trực tuyến hiện đang được quan tâm chúý và đưa vào triển khai trong nhiều trường đại học, các cơ sở đào tạo ở Việt Nam với phạm vi,mức độ khác nhau. Các cơ sở đào tạo thực hiện hoạt động đào tạo theo hai hướng: một mặt phải đáp ứng tínhđịnh hướng xã hội, mặt khác đào tạo cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thị trường laođộng. Tuy nhiên, áp lực đối với các cơ sở đào tạo càng lớn khi chương trình đào tạo vừa đáp ứngtính chuyên môn cao trong lĩnh vực nhất định, vừa đáp ứng tính liên ngành và các kĩ năng kháckhông thể thiếu, như: khả năng suy nghĩ có hệ thống, khả năng tổng hợp, khả năng liên kết giữathế giới thực và ảo, khả năng sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác liên ngành...Trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0, kiến thức về công nghệ thay đổi rất nhanh, việc trang bị cáchthức tự học và ý thức học tập suốt đời càng quan trọng hơn kiến thức của chương trình đào tạo. Như vậy, CMCN 4.0 đang đặt ra những yêu cầu mới cho nguồn nhân lực tương lai. Điềunày đòi hỏi hệ thống giáo dục và đào tạo cần đổi mới để có thể tạo ra nguồn nhân lực có năng lựcchuyên môn và năng lực nghề nghiệp vượt trội, có khả năng làm việc, vận hành với công nghệthông minh để có thể đáp ứng thị trường việc làm và tận dụng tốt các cơ hội của thời kỳ CMCN4.0. Các cơ sở giáo dục cần xây dựng nền tảng trong đào tạo theo hướng đổi mới và tiếp cận nhữngcông nghệ số, đổi mới mô hình và phương thức dạy học, nhằm tạo ra nguồn nhân lực lao động cókhuynh hướng được đào tạo với những kiến thức và năng lực chuyên môn sát với thực tiễn củamôi trường lao động trong thời kỳ CMCN 4.0. 3. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực khối ngành kỹ thuật của Phân hiệu hiện nay Với sứ mệnh là đào tạo và chuyển giao kết quả khoa học ứng dụng vào đời sống, sản xuất,trong hơn 12 năm hình thành và phát triển Phân hiệu đã góp phần quan trọng trong phát triển KT-XH cho mảnh đất Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhânlực còn chưa cao, ngoài việc thiếu năng lực làm việc tại môi trường thực tế thì sinh viên tốt nghiệpcòn thiếu nhiều kỹ năng quan trọng như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng hội nhập...Để tìm ra cácgiải pháp nhằm từng bước giải quyết những vấn đề nêu trên, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra nhữngnguyên nhân cơ bản sau: * Chưa xây dựng sứ mệnh và xác định ngành mục tiêu trong đào tạo khối ngành kỹthuật và nông nghiệp Với lợi thế to lớn là cơ sở đại học duy nhất tại 2 tỉnh Kon Tum và Gia Lai được phép đàotạo các ngành kỹ thuật phục vụ quá trình phát triển KT-XH của vùng. Bên cạnh đó, không thểkhông kể tới là vai trò to lớn của Đại học Đà Nẵng trong việc phân bổ nguồn lực giảng dạy nhưcho đứng tên giảng viên cơ hữu và được phép mở một số ngành nghề trong cùng hệ thống theo cáctrường Đại học Bách khoa, Đại học Sư Phạm kỹ thuật…Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, trongnhiều năm qua Phân hiệu chỉ đào tạo các ngành theo xu thế thị trường, chạy theo một số lợi íchtrước mắt chưa chưa chú trọng đến việc tuyển chọn và đào tạo các ngành mục tiêu mang tính chấtuy tín lâu dài. Bên cạnh đó, với đặc thù phát triển kinh tế của địa phương cũng gây ra không ít khókhăn cho việc phát triển các ngành nghề đào tạo. Trong chiến lược phát triển kinh tế của mình, địaphương đã chú trọng tới mảng nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất và chế biến dược liệu. Tuynhiên, việc phát triển đào tạo khối ngành nông nghiệp, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến...gặp rất nhiều khó khăn do người học không mặn mà theo học các ngành này. Trong khi đó, cácngành nghề “hot” trên thị trường lao động như công nghệ thông tin, công nghệ ô tô, xây dựng thìnhu cầu lao động tại địa phương gần như không có. Chính những nguyên nhân khách quan trên đãgây ra nhiều khó khăn trong việc xây dựng và phát triển các ngành nghề đào tạo mục tiêu chokhoa. Từ khi thành lập Phân hiệu đến nay, Phân hiệu đã tổ chức đào tạo được 6 ngành khối kỹthuật và nông nghiệp. Tuy nhiên, với những lý do khách quan nêu trên mà các ngành nghề nàyluân phiên đào tạo theo các năm học. Vì vậy, số lượng sinh viên theo học các ngành kỹ thuật, nôngnghiệp thường không ổn định, gây ra không ít khó khăn cho công công tác quản lý đào tạoHình 1: Biến động số lượng sinh viên theo ngành học kỹ thuật qua các năm Nguồn: Số liệu thống kê từ Phòng Đào tạo qua các năm (2013-2018)Theo thống kê trên chúng ta có thể thấy: - Tổng số lượng sinh viên đăng ký theo từng ngành nghề có biến động lớn theo các nămhọc và giảm dần trong các năm trở lại đây. Nếu như năm 2013 thi tổng số sinh viên lớn nhất(153SV) với 4 ngành đào tạo, thì tới năm 2018 giảm tới tối thiểu (43SV) cho 6 ngành tuyển sinh.Điều này thể hiện nhu cầu học các ngành kỹ thuật tại Phân hiệu đã không còn hấp dẫn thí sinh nữamặc dù trên cả nước số lượng thí sinh đăng ký học khối ngành kỹ thuật vẫn không ngừng tăng. - Số lượng sinh viên đăng ký học các ngành xây dựng giảm là rõ rệt nhất, nếu như năm2013 đạt đỉnh điểm là 142 SV cho 2 ngành học Kỹ thuật Công trình giao thông và Kinh tế xâydựng thì đến năm 2018 chỉ còn 20 sinh viên đang theo học ngành Kỹ thuật công trình xây dựng.Điều này đưa đến một thực tế đáng buồn, bởi vì nhu cầu nhân lực ngành xây dựng tại Tây Nguyênđang tăng cao nhưng những ngành học này dường như không còn có sức thu hút người học nữa.Đặc biệt hơn nữa, mặc dù nhu cầu nhân lực về ngành công nghệ sinh học tại Kon Tum đang tăngmạnh trong những năm gần đây do sự phát triển của nông nghiệp công nghệ cao, dược liệu rừngtheo chiến lược của tỉnh Kon Tum. Tuy nhiên, người dân ở đây không mặn mà cho con em theohọc ngành này (theo thống kê thì mặc dù mở ngành đào tạo Công nghệ sinh học từ năm 2013nhưng tổng số sinh viên đăng ký học chỉ là 47 trong vong 5 năm tuyển sinh cho cả hệ cao đẳng vàđại học), đây là một thực trạng đáng báo động nhất.- Trong thống kê trên chúng ta cũng có thể thấy, mặc dù ngành công nghệ thông tin đượcđào tạo từ năm 2014, tuy nhiên số lượng sinh viên theo học theo từng năm dao động xung quanhcon số 20SV, điều này cũng gây ra một thực tế nan giải là mặc dù trong thời đại cách mạng côngnghiệp 4.0 thì nhu cầu nhân lực CNTT tăng rất nhiều. Tuy nhiên, tại Phân hiệu ngành này vẫnchưa thực sự “hot”, chưa thực sự thu hút được số đông sinh viên theo học. Qua phân tích và bàn luận ở trên, chúng ta có thể thấy rằng, mặc dù là cơ sở đào tạo nhânlực chất lượng cao cho lĩnh vực kỹ thuật và nông nghiệp tại Tây Nguyên nhưng vai trò của Khoanói riêng và của Phân hiệu nói chung vẫn còn rất mờ nhạt, chưa đóng góp nhiều cho sự phát triểncủa Tây Nguyên. Do đó, trong tương lai muốn tồn tại và phát triển khối ngành kỹ thuật và nôngnghiệp thì đòi hỏi ban lãnh đạo và tập thể cán bộ giảng viên phải có những đổi mới mang tính độtphá mới có thể nâng cao chất lượng đào tạo và trên hết là thể hiện rõ sứ mệnh của mình trên mảnhđất Tây Nguyên. * Thiếu đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong giảng dạy và thực hành Kể từ khi thành lập và được phép đào tạo các khối ngành kỹ thuật, Phân hiệu đã tuyển sinhtoàn bộ là 6 ngành thuộc khối công nghệ, kỹ thuật và nông nghiệp. Tuy nhiên chất lượng đội ngũgiảng viên và kỹ sư thực hành còn yếu về chất lượng (trình độ) và số lượng còn rất khiêm tốn. Bảng 1: Đội ngũ nhân lực giảng dạy khối ngành kỹ thuật qua các năm Năm 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019Tổng số 13 18 18 18 17 17 16 15Tiến sĩ 0 0 0 0 0 1 1 1Thạc sĩ 4 5 6 7 9 10 11 12Đại học 9 13 12 11 8 6 4 3 Nguồn: Số liệu thống kê đội ngũ giảng viên qua các năm (2012-2019) Qua bảng thống kê trên cho thấy, tình hình đội ngũ nhân lực giảng dạy khối ngành kỹ thuậtkhông có biến động qua các năm, từ năm 2013 - 2016 có sự biến động qua lại giữa đội ngũ kỹ sưcử nhân và thạc sĩ, do đội ngũ kỹ sư cử nhân theo học nâng cao trình độ thạc sĩ. Hiện nay, khoachỉ có 12 cán bộ giảng viên (1 TS và 12 ThS) và 3 kỹ sư thực hành. Bên cạnh đó, trình độ của độingũ nói chung còn thấp so với yêu cầu đặt ra. Trong nhiều năm qua Phân hiệu cũng chưa có chínhsách thu hút nguồn lực giảng viên chất lượng cao về công tác, đây cũng là một nhân tố quan trọngảnh hưởng không tốt tới chất lượng đào tạo, qua đó gây hiệu ứng làm cho chỉ tiêu tuyển sinh khôngđạt yêu cầu. Hiện nay, đội ngũ nguồn nhân lực tham gia giảng dạy của Khoa có xu hướng giảm do nhữngnguyên nhân: số lượng sinh viên theo học các khối ngành kỹ thuật giảm mạnh, giảng viên khôngcó tiết giảng (ảnh hưởng đến thu nhập kinh tế). Vì vậy, chương trình đào tạo thì đa số là các giảngviên thỉnh giảng ở các trường trong Đại học Đà Nẵng giảng dạy, đây cũng là một yếu tố gây nênsự khó khăn cho sinh viên trong quá trình học tập tác động gián tiếp đến khả năng tuyển sinh khókhăn của Phân hiệu. * Chú trọng kiến thức hàn lâm, chưa chú trọng nhiều đến kỹ năng, kiến thức ứng dụng. Trong cuộc cách mạng công nghiệp 3.0, người ta nói đến đại học nghiên cứu. Với cách mạngcông nghiệp 4.0, các đại học nghiên cứu hàng đầu đã chuyển dịch từ đại học nghiên cứu đến đạihọc đổi mới sáng tạo (Innovation-driven university), với 3 đặc trưng cơ bản là Innovation factor(tác nhân đổi mới), Digital factor (tác nhân số) và Research factor (tác nhân nghiên cứu). Từ địnhhướng đào tạo này, cần phải có sự thay đổi trong triết lý đào tạo và cơ cấu lại các chương trình đàotạo. Ngoài kiến thức nền tảng, kiến thức của ngành và chuyên ngành, ngoại ngữ, CNTT và kỹ năngmềm như hiện nay, chương trình đào tạo phải trang bị được cho người học tầm nhìn, kỹ năng thuthập, xử lý và kiểm soát thông tin, có khát vọng đổi mới sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp ... Tuy nhiên, tại Phân hiệu hiện nay công tác giảng dạy cơ bản vẫn theo tư duy lối mòn cũ. Tứclà giảng dạy chỉ đơn thuần truyền tải kiến thức nghề nghiệp, chưa chú trọng vào kỹ năng làm việcthực tiễn, sinh viên thiếu hụt các kỹ năng sống và làm việc trong môi trường xã hội. Về nguyênnhân chủ quan là số cán bộ giảng viên cơ hữu chưa thích ứng tốt với sự thay đổi và phần nhiềucũng chưa được tích lũy các kỹ năng giảng dạy theo hướng tích cực. Bên cạnh đó nguyên nhânkhách quan là do đội ngũ giảng viên thỉnh giảng chiếm phần lớn (khoảng 70%) tổng chương trìnhđào tạo. Mặt khác, trong chương trình đào tạo cũng mang tính hàn lâm, chưa có nhiều những họcphần mang tính chất rèn luyện và phát triển các kỹ năng làm việc. * Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, thí nghiệm, thực hành, nghiên cứu khoa học còn hạnchế Khối kỹ thuật đang đào tạo tại trường bao gồm các ngành: Công nghệ sinh học, công nghệthông tin, kinh tế xây dựng, điện, xây dựng công trình giao thông. Thực trạng cho thấy, chỉ mới 2ngành được đầu tư hệ thống thí nghiệm, thực hành như Công nghệ thông tin (phòng máy) và côngnghệ sinh học (phòng thí nghiệm). Tuy nhiên, mức độ khai thác chỉ ở mức cơ bản, chưa đáp ứngđược yêu cầu chuyên sâu của thực tiễn. Bên cạnh đó, việc tuyển sinh viên theo học các ngành khối kỹ thuật với số lượng tuyển sinhrất hạn chế, có những ngành không tuyển được sinh viên như công nghệ sinh học (2018), xây dựngcông trình giao thông (2018)...Chính công tác tuyển sinh cũng đã tác động không nhỏ đến việc đầutư trang thiết bị thực hành, thí nghiệm phục vụ cho công tác đào tạo ngành. CMCN 4.0 là cuộc cách mạng ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với các ngành công nghệ - kỹthuật, đội ngũ nguồn nhân lực trong các ngành này phải yêu cầu chất lượng cao, đây là thách thứckhông nhỏ đối với Phân hiệu trong đào tạo các khối ngành kỹ thuật. Để đáp ứng xu thế đào tạo,đặc biệt là giai đoạn bùng nổ của CMCN 4.0 cần đẩy mạnh liên kết đào tạo (liên kết trường, doanhnghiệp, viện…), cung cấp cho thị trường nguồn nhân lực chất lượng, đáp ứng được yêu cầu thựctiễn. Trong 2 năm trở lại đây Phân hiệu đã đề ra chiến lược là phấn đấu thành một cơ sở giáo dụcđại học theo hướng ứng dụng. Tuy nhiên, cơ sở vật chất thí nghiệm, thực hành thiếu thốn cũng làtrở ngại rất lớn để đảm bảo thực hiện được mục tiêu trên. * Liên kết trong đào tạo chưa được chú trọng, công tác liên kết doanh nghiệp tham giacùng đào tạo còn hạn chế Có thể gọi giáo dục ở thời đại này là giáo dục 4.0 - nghĩa là công tác đào tạo nhằm cung cấpnguồn nhân lực cho thị trường nền công nghiệp 4.0. Có thể phát họa đặc điểm các thời đại giáodục như sau: Bảng 2: Đặc điểm các thời đại giáo dụcĐặc điểm Giáo dục 1.0 Giáo dục 2.0 Giáo dục 3.0 Giáo dục 4.0 (trước 1980) (1980) (1990) (2000 đến nay)Mục đích Giáo dục Tuyển dụng Tạo ra tri thức Sáng tạo và tạo ra giá trịChương Đơn ngành (single- Liên ngành (inter- Đa ngành (multi- Xuyên ngànhtrình đào tạo disciplinary) disciplinary) disciplinary) (trans-disciplinary)Công nghệ Bút + giấy PC+Laptop Internet + thiết bị di Internet kết nối vạn động vậtGiảng dạy Một chiều Hai chiều Nhiều chiều Mọi nơiĐảm bảo Chất lượng học thuật Chất lượng giảng ĐBCL theo luật quy ĐBCL theo nguyênchất lượng dạy định tắcTrường Mô hình offline Mô hình offline và Mạng lưới, hệ thống Hệ sinh thái onlineĐầu ra Người lao động có Người lao động có Người đồng kiến tạo Người sáng tạo và kỹ năng tri thức tri thức khởi nghiệpNguồn: https://vnuhcm.edu.vn/dao-tao_33376864/giao-duc-dai-hoc-trong-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-4-0/3939386864.html Qua các đặc điểm phát họa của nền giáo dục 4.0, rõ ràng thấy được công tác đào tạo ở quymô hệ sinh thái các trường. Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển cần phải đẩy mạnh công tác liênkết đào tạo, đặc biệt là các ngành khối công nghệ kỹ thuật. Phân tích hiện trạng cho thấy, chúng tachỉ đạt ở mức độ độ giáo dục 2.0 và một phần giáo dục 3.0; chất lượng đào tạo chưa đáp ứng đượcyêu cầu thực tế. Trong một vài năm trở lại đây, Phân hiệu đã có nhiều thúc đẩy mạnh mẽ trong việc mời rộngmạng lưới liên kết đào tạo (gồm mời giảng và chuyển giao chương trình đào tạo) từ các cơ sở giáodục theo hướng đào tạo nghề nhằm thực hiện mục tiêu trở thành cơ sở đào tạo theo hướng ứngdụng. Bên cạnh đó, việc mời các doanh nghiệp và cá nhân có kiến thức chuyên sâu về thực tế thamgia quá trình giảng dạy (đặc biệt là hướng dẫn thực tập tốt nghiệp đã gần như giao toàn quyền chodoanh nghiệp) đã được Phân hiệu triển khai. Những kết quả bước đầu cho thấy sinh viên đã cónhững chuyển biến tích cực trong việc tiếp nhận tri thức và kỹ năng làm việc thực tế. Tuy nhiên,công tác này chỉ mang tính chất nhất thời mà muốn lâu dài thì cần thể hiện rõ ràng vào các kếhoạch đào tạo, cũng như cần có những ký kết hợp tác với các đơn vị bên ngoài nhằm thúc đẩy mụctiêu trở thành một cơ sở đại học ứng dụng tại Tây Nguyên.4. Các giải pháp cho Phân hiệu trong đào tạo nguồn nhân lực khối ngành kỹ thuật theo địnhhướng ứng dụngViệc đào tạo nhân lực khi còn ngồi ở ghế nhà trường, cần chú trọng vào công tác đào tạo thực hànhthực tế, các kỹ năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Nhà trường cần phân tích và định hướngcác luồng hướng nghiệp, giúp sinh viên xác định được hướng nghề nghiệp phù hợp với năng lực.Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực theo định hướng ứng dụng công nghệ 4.0 hiện này,chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau:- Chương trình đào tạo và công tác đào tạo: Cần mạnh dạn thay đổi khung chương trình đào tạocác khối ngành kỹ thuật theo định hướng ứng dụng. Khảo sát, lấy ý kiến doanh nghiệp để làmthước đo cho việc lựa chọn các học phần phù hợp cho từng ngành nghề khác nhau. Bổ sung mộtsố học phần cần thiết để nâng cao kỹ năng thực hành, hành chế những học phần mang tính hànlâm, học thuật, nâng cao kỹ năng mềm, thái độ làm việc cho người học, hợp tác và mời các doanhnghiệp các khối ngành liên quan vào mô hình giảng dạy của nhà trường để sinh viên cập nhật đượcnhững kiến thức thực tế. Thay đổi phương pháp đào tạo nhân lực, hướng tới việc phát triển nănglực và bổ sung đầy đủ kiến thức theo phương pháp tiên tiến là việc cần phải làm, đào tạo nhân sựtheo định hướng phát triển của công ty là không thể thiếu, đó là một trong những yêu cầu quantrọng, giúp cho doanh nghiệp có được nguồn nhân lực như kỳ vọng. Giải pháp đào tạo nhân sự sẽrõ ràng và hợp lý hơn, phù hợp với quy mô và phong cách, văn hóa doanh nghiệp hiện tại. Cầngắn kết chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp theo từng thời kỳ để quy hoạch nguồnnhân lực tại đơn vị đúng và xứng tầm với vị trí công việc và hoạt động phát triển như: Vị trí củanhân viên tại phòng ban là gì? Nhiệm vụ công việc của nhân viên như thế nào? Nhu cầu và nguyệnvọng? Những kỹ năng còn thiếu sót? Đồng thời, cần có công cụ thích hợp để khảo sát nhu củangười lao động và người sử dụng lao động để đưa ra được các chính sách đào tạo và nhân lực theođúng định hướng của doanh nghiệp. Từ đó các giải pháp đào tạo nguồn nhân lực chắc chắn sẽmang lại lợi ích to lớn cho kế hoạch phát triển kinh tế lâu dài. Hiện nay có rất nhiều chương trìnhđào tạo nhân sự mà doanh nghiệp, các tổ chức đào tạo có thể tham khảo như Đào tạo Inhouse, đàotạo Public, Team Building, Dự án, Đơn hàng…và cả giải pháp đào tạo trực tuyến. Tạo điều kiệnđể người học tự học và tự phát triển cũng nên là một trong những chính sách cần có. Việc cungcấp các tài liệu kỹ năng định kỳ qua email, hoặc tổ chức các chương trình thi đua có thưởng, cũnglà cách để nhân viên tự đốc thúc việc học và hành ngay tại doanh nghiệp.Ngày nay, những lĩnh vực kỹ thuật công nghệ thường có tính liên ngành, xuyên ngành và cáchmạng công nghiệp 4.0 ngày càng xóa nhòa ranh giới giữa các ngành kỹ thuật công nghệ, và nhờnhững ứng dụng của các công nghệ mới đã mở ra nhiều cơ hội việc làm, cơ hội kinh doanh và cơhội phát triển cho mọi người, mọi cơ quan tổ chức. Chính những bước tiến đáng kinh ngạc trênmột số lĩnh vực trụ cột của Cách mạng 4.0 như CNTT, trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa … đã vàđang đặt ra những yêu cầu cấp bách, đòi hỏi Khoa, nhà trường cần sớm thực hiện đổi mới, trongcả hoạt động đào tạo lẫn nghiên cứu khoa học. Cụ thể, chương trình đào tạo sẽ phải thay đổi theohướng tích hợp, liên ngành (interdisciplinary), tập trung ưu tiên vào một số lĩnh vực nền tảng vàcông nghệ lõi (hay công nghệ nguồn). Nội dung đào tạo cũng cần được thiết kế lại, theo hướngchú trọng kiến thức cơ bản, sâu, rộng và tích hợp nhiều môn học nhằm nâng cao hiệu quả sáng tạovà khả năng thích ứng của sinh viên gắn với thực tế, ví dụ: Ví dụ, trong lĩnh vực công nghệ thôngtin, một số chuyên ngành và kỹ năng, kiến thức mới cần được các trường nghiên cứu, bổ sung như:Cơ điện tử; công nghệ thông tin, trong đó đặc biệt chú trọng lĩnh vực khoa học dữ liệu, an ninh,an toàn thông tin...- Quản trị trường đại học: Trong thời đại 4.0, thì trong quản trị trường đại học cũng phải có sựthay đổi để đáp ứng nhu cầu thực tế. Nếu trong cuộc cách mạng công nghiệp 3.0, người ta nói đếnđại học nghiên cứu thì cách mạng công nghiệp 4.0, các đại học nghiên cứu hàng đầu đã chuyểndịch từ đại học nghiên cứu đến đại học ứng dụng, đổi mới sáng tạo. Vì vậy, cần phải có sự thayđổi trong triết lý đào tạo và cơ cấu lại các chương trình đào tạo, ví dụ: một số triết lý đào tạo củacác trường theo định hướng ứng dụng: “Thực học - Thực hành - Thực danh - Thực nghiệp (Đạihọc Nguyễn Tất Thành) gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với việc làm, tuyển sinh với tuyển dụng. Đạihọc FPT với sứ mệnh “Cung cấp năng lực cạnh tranh toàn cầu cho đông đảo người học, góp phầnmở mang bờ cõi trí tuệ đất nước”, triết lý giáo dục “Giáo dục đào tạo là tổ chức và quản trị việc tựhọc của người học”, Đại học FPT hướng tới xây dựng mô hình của một trường Đại học thế hệ mới;gắn liền đào tạo với thực tiễn cuộc sống và nhu cầu nhân lực của đất nước, góp phần đưa Giáo dụcViệt Nam tiến tới ngang tầm các nước trên thế giới. Trường đại học EDX, triết lý đào tạo gồm 8tốt Đầu vào tuyển chọn tốt : Chương trình đào tạo tốt, Phương pháp đào tạo tốt, Giảng viên đàotạo tốt, Cơ sở vật chất tốt, Thương hiệu tốt, Quản lý tốt, Đầu ra tốt. Trong đó, Phương pháp đàotạo tốt: Phương pháp đào tạo tại đại học edX hoàn toàn khác biệt với các trường đại học khác. Đạihọc truyền thống học để biết, đại học edX học để làm được việc. Triết lý đào tạo là “Làm trướchọc sau”. Sinh viên edX, mỗi năm được làm việc toàn thời gian tại doanh nghiệp 3 tháng, 5 thánglàm bán thời gian và 3 tháng làm từ xa có nhận lương. Ngoài ra, sinh viên vẫn học đầy đủ 9 thánglý thuyết để phục vụ công việc thực tế. Ngoài ra, Đại học edX được đánh giá là doanh nghiệp cóuy tín lớn là đối tác chiến lược của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội. Một trong nhữnghiệp hội uy tín và năng động nhất Hà Nội. Đại học edX đã hai năm liên tiếp trở thành những doanhnghiệp tiêu biểu….Như vậy, đào tạo theo định hướng ứng dụng thì Cơ sở đào tạo nguồn nhân lựccũng phải trở thành một doanh nghiệp trong hệ thống mạng lưới doanh nghiệp của quốc gia gópphần hỗ trợ công tác khởi nghiệp, định hướng khởi nghiệp cho sinh viên.- Các kỹ năng mềm: Ngoài kiến thức nền tảng, kiến thức của ngành và chuyên ngành, ngoại ngữ,CNTT và kỹ năng mềm như hiện nay, chương trình đào tạo phải trang bị được cho người học tầmnhìn, kỹ năng thu thập, xử lý và kiểm soát thông tin, có khát vọng đổi mới sáng tạo và tinh thầnkhởi nghiệp….Bên cạnh đó, không chỉ là giáo dục khai phóng, chúng ta còn phải tích hợp và cóđịnh hướng đào tạo STEM (STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị chongười học những kiến thức, kỹ năng liên quan đến (các lĩnh vực) khoa học, công nghệ, kỹ thuật vàtoán học theo cách tiếp cận liên môn và người học có thể áp dụng để giải quyết những vấn đềtrong cuộc sống hằng ngày. Thay vì dạy bốn môn học nhưng các đối tượng tách biệt và rời rạc,STEM kết hợp chúng thành một mô hình học tập gắn kết dựa trên các ứng dụng thực tế) trong cáckhối ngành kỹ thuật-công nghệ và phát triển bền vững. STEM cung cấp các hành trang cho nguồnnhân lực trong các lĩnh vực kỹ thuật, và tư duy của phát triển bền vững trang bị tầm nhìn cho ngườihọc.- Đội ngủ giảng viên và chuyên viên: Đổi mới phương thức đào tạo gắn liền với công tác quảntrị đại học, do đó cần phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số vào trong hoạtđộng giảng dạy và nâng cao năng lực và chất lượng của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý. Đội ngũgiảng viên giáo phải có những năng lực mới, năng lực sáng tạo và do đó đòi hỏi phải có nhữngphẩm chất mới trên cơ sở chuẩn hóa, thông qua các hoạt động đào tạo, tự đào tạo và bồi dưỡngkiến thức chuyên môn. Vì vậy, nhà trường cần thực thi các chính sách đồng hành cùng giảng viêntrong hỗ trợ nâng cao trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, nghiên cứu. Đồng thời, cần có chính sáchthu hút nguồn cán bộ giảng viên có chất lượng cao về làm việc và giảng dạy tại Phân hiệu, đặc biệtlà nguồn nhân lực khối ngành kỹ thuật.- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Phương thức đào tạo cũng phải chuyển sang lấy việc học (thay vì dạy)làm trung tâm, thông qua cá nhân hóa quá trình học, đa dạng hóa phương thức học, trong đó cótăng cường các công cụ học trực tuyến hoặc trải nghiệm với môi trường thực tiễn và thiết bị ảo(phòng thực hành, phòng thí nghiệm, phòng mô phỏng, phòng nghiên cứu đổi mới sáng tạo, phòngchế tạo và trưng bày sản …)- Quan hệ hợp tác và nghiên cứu khoa học: Bên cạnh đào tạo và thích ứng, chuyển giao côngnghệ, để tiếp cận với trình độ của thế giới và làm chủ các công nghệ, Nhà trường cần có chiến lượcđể xây dựng bằng được các nhóm nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cốt lõilàm nền tảng trong đào tạo, ứng dụng và cần có giải pháp khác biệt, cụ thể hơn trong thời gian tớinhằm tập hợp nguồn lực, trí tuệ để thực hiện đổi mới giáo dục và đào tạo đại học theo định hướngứng dụng, nhanh chóng đầu tư cho các nhóm nghiên cứu để gây dựng và phát triển các lĩnh vựckỹ thuật – công nghệ chủ chốt của cách mạng công nghiệp 4.0 phù hợp với xu thế hiện nay ở trongnước và quốc tế. Ngoài ra, áp lực không ngừng phải đổi mới và xu hướng chu trình sản phẩm đangngày càng trở nên ngắn lại, nhà trường cần nỗ lực tự chủ để tìm kiếm nguồn kinh phí hỗ trợ nghiêncứu. Đồng thời, phương thức tổ chức nghiên cứu cũng đòi hỏi phải có sự phối hợp hiệu quả giữacác nhóm liên ngành, liên trường…trong hoạt động hợp tác nghiên cứu, đào tạo ở bậc sau đại họclẫn đào tạo cử nhân, kỹ sư chất lượng cao… và không thể tách rời nhiệm vụ nghiên cứu với mụcđích phát triển và thương mại hóa sản phẩm nhờ kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với khối doanhnghiệp.Cần sự kết hợp 3 “nhà”: Nhà trường – Nhà khoa học – Nhà DN trong đào tạo nhân lực phục vụCMCN 4.0. Hiện tại, chủ yếu là phía DN có nhu cầu gắn kết với nhà trường - nhà khoa học, cònnhà trường, nhất là các trường công lập, chỉ tập trung công tác đào tạo chứ chưa chủ động hợp tácvới DN. Các trường đại học ở Việt Nam cần học tập, kinh nghiệm đào tạo của các trường đại họcở nước ngoài, trong việc xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo gắn rất chặt với DN. Nhờ nhữngtrung tâm đó, sinh viên được học tập ở môi trường rất thật; các DN liên kết với các trường để tìmnguồn nhân lực tương lai. Hoạt động của trung tâm đổi mới sáng tạo ở trường phải thiết thực vàđi cùng với nhịp thở cuộc sống, thoát ly lý thuyết thuần tuý. Từ đây, cần xây dựng môi trường dạyvà học mà phải gắn rất chặt với môi trường kinh doanh, với thực tiễn đặt hàng của xã hội…- Quan hệ doanh nghiệp: Khối ngành kỹ thuật cần hợp tác sâu rộng và toàn diện với các doanhnghiệp, đơn vị tuyển dụng lao động với mục đích nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong chươngtrình đào tạo: mời doanh nghiệp tham gia giảng dạy học phần thực hành, kiến tập, thực tập nghềnghiệp theo các tiêu chí cụ thể của doanh nghiệp tránh tình trạng như hiện nay trong thời gian thựctập sinh viên lãng phí thời gian, doanh nghiệp cảm thấy bị làm phiền và không có hiệu quả cho cảhai bên. Tập trung hợp tác có uy tín và chất lượng với một số doanh nghiệp lớn cho từng khốingành kỹ thuật (CNTT, Xây dựng, CNSH, Điện). Hợp tác trên phương diện đào tạo, giảng dạy,phối hợp nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đồng thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu vàtuyển dụng sinh viên. Khoa Kỹ thuật - Nông nghiệp, ngoài các trường hợp tác truyền thống củaĐHĐN cần phải dịch chuyển xu hướng hợp tác với các trường khu vực phía Nam như Đại họcNguyễn Tất Thành, Đại học Thủ dầu 1, Đại học Kiên Giang, Đại học Trà Vinh...14/06/2019Cách mạng Công nghiệp 4.0Cơ hội và thách thức 114/06/2019Mô hình của CMCN 4.0 và ứng dụng Sự mô phỏng Vạn vật kết hóa (thực tế nối (internet of things – ảo – VR)Sự tự động hóa IoTs) (Robotics) Siêu an ninh mạngBig Data Điện toán đám mâyCN trí thông minh 4.0 CN tương tác thực nhân tạo (AI) tế (VR) 214/06/2019XÃ HỘI TRONG CMCN 4.01. Thế giới được kết nối và trao đổi thông tin qua Internet/wifi với nhau kể cả với conngười. Robots sẽ là bạn đồng nghiệp chứ không còn là công cụ giúp việc.2. Công nghệ thực tế ảo đang xóa dần ranh giới giữa thế giới thật và thế giới ảo. Tốc độtính toán ngày càng tăng nhanh, các hệ thống thực tế ảo ngày càng giống thật.3. Tất cả mọi công việc có thể hoàn tất bởi các hệ thống thông minh hay robots đều sẽđược thay thế. Các hệ thống thông minh và robots sẽ có khả năng quyết định, hànhđộng độc lập và tự động để hoàn tất công việc giao phó nhanh chóng. Con người chỉcan thiệp khi các hệ thống thông minh này không có khả năng quyết định mà thôi(critical, bad and ill-defined situations).4. Công nghệ sẽ giúp con người sống lâu hơn và chất lượng cuộc sống cũng cao hơndo đó nhu cầu phục vụ cũng sẽ tăng theo. 314/06/2019 414/06/2019Nhà trường cần phải làm gì?1. Tăng cường đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tích hợp,giảm tải kiến thức hàn lâm, tăng cường học ngoại khóa, thực hành,thực tập tạo sự hứng thú và rèn luyện các kỹ năng đối với ngườihọc.2. Tăng cường liên kết với các DN, các trường đại học quốc tế đểxây dựng CTĐT, tận dụng các phòng thí nghiệm, nhà máy của DNtheo hình thức hợp tác công – tư;3. Thay đổi hình thức dạy – học truyền thống sang hình thức kếthợp giữa truyền thống và e-learning, sử dụng ứng dụng CNTT vàodạy học: để người học có thể học bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu… 514/06/2019Nhà trường cần phải làm gì?4. Tăng cường cung cấp, hướng dẫn sinh viên sử dụng cácnguồn học liệu số5. Tích cực trang bị cho các em sinh viên các kiến thức CNTTvà kỹ năng có liên quan để đáp ứng nhu cầu xã hội trong nềncông nghiệp 4.0.6. Trang bị trình độ ngoại ngữ đủ để có thể làm việc ở mọi nơitrong tư cách của công dân toàn cầu.7. Tạo ra các không gian sáng tạo và các trung tâm Khởinghiệp 6

    Pages:
  • 1 - 50
  • 51 - 56
Click to View FlipBook Version

Từ khóa » Elearning Udck đăng Nhập