Đèo Tam Điệp – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm

Đèo Tam Điệp là tổ hợp đèo trên núi Tam Điệp ở ranh giới tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa, Việt Nam.[1][2][3]
Núi Tam Điệp là dãy núi nằm ở vùng ranh giới giữa thành phố Tam Điệp tỉnh Ninh Bình và thị xã Bỉm Sơn cùng huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa. Dải núi chạy ra biển theo hướng tây bắc – đông nam và có 3 ngọn. "Tam Điệp" là tên chữ được gọi trong sử sách và địa lý cổ Việt Nam, địa danh mốc trên con đường thiên lý cổ thời phong kiến từ Thăng Long vào Nam. Đèo Ba Dội là tên Nôm của đèo Tam Điệp, xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương, trong tiếng Việt cổ có nghĩa là ba đợt, ba lớp.
Vị trí
[sửa | sửa mã nguồn]Thời phong kiến, con đường Thiên lý, hay có nơi còn gọi là đường "dịch trạm", đường Cái Quan, đường "triều chính" chạy xuyên qua đèo Tam Điệp. Quốc lộ 1 ngày nay qua Tam Điệp, có đoạn không trùng với đường thiên lý cổ, mà vượt qua núi Tam Điệp ở Dốc Xây, ranh giới giữa Ninh Bình và Thanh Hóa. Đoạn đường này do người Pháp mở từ đền Dâu (thành phố Tam Điệp, Ninh Bình) đến đền Sòng (thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa) vào đầu thế kỷ XX để "nắn" thẳng đường Thiên lý, tránh phải đi qua đèo Tam Điệp cổ cheo leo. Dốc Xây không phải phải là đèo Tam Điệp cổ vì đoạn đường qua dốc Xây chỉ có thể mở được bằng kĩ nghệ hiện đại: Bộc phá phá núi, lấp khe sâu, vực thẳm và kĩ nghệ làm đường ở trình độ cao. Năm 1998 - 1999, nhà nước Việt Nam mới đục xuyên núi để làm một con đường hầm qua núi ở Dốc Xây để đi lại hai chiều thuận lợi. Trước kia do không đủ điều kiện, phương tiện để bạt được quả núi hiểm trở ở Dốc Xây và một số đồi núi khuất khúc phía trong, nên phải đi vòng qua đèo Tam Điệp.


Ba đèo
[sửa | sửa mã nguồn]- Đèo giữa là con đường thiên lý cổ băng qua đỉnh núi cao nhất và cũng là đỉnh đèo cao nhất (khoảng 110 m). Ở đây có tấm bia khắc bài thơ "Quá Tam Điệp sơn" của vua Thiệu Trị làm năm 1842 khi đi tuần du qua núi Tam Điệp. Ngày nay, con đường thiên lý cổ chỉ còn là một lối mòn nhỏ, nhiều chỗ cây cối mọc um tùm.
- Đèo phía Bắc: cao khoảng 75–80 m
- Đèo phía Nam: cao khoảng 80–90 m
Trước kia đèo giữa là nơi phân ranh giới giữa hai trấn Thanh Hoa nội và Thanh Hoa ngoại đời Hậu Lê, giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa đời Nhà Nguyễn. Nhưng ngày nay, do phân chia lại địa giới, đèo giữa và đèo phía nam thuộc đất thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa. Chỉ còn đèo phía bắc thuộc thành phố Tam Điệp.
Như vậy, đường thiên lý cổ từ Thăng Long đi đến thành phố Tam Điệp, đến đền Dâu, cách Hà Nội 111 km, thì đi vòng về phía đông nam Quốc lộ 1 ngày nay, lách qua một số núi đá vôi để vượt qua ba đỉnh đèo Tam Điệp, đến đền Sòng tiếp tục đi vào đồng bằng Thanh Hóa. Đền Dâu và đền Sòng là 2 đầu của cái võng đường Thiên lý cổ qua đèo Tam Điệp. Đoạn võng này dài hơn đoạn đường Quốc lộ nắn thẳng ngày nay từ đền Dâu đến đền Sòng khoảng gần 5 km.
Núi Tam Điệp là dải cuối cùng của vòng cung đá vôi Hòa Bình ăn ra gần sát biển. Phía trên nối liền với núi rừng của Hòa Bình - Sơn La. Phía dưới chạy ra gần lợi nước Biển Đông. Phía tây bắc giáp Hòa Bình, có ngọn núi cao tới 570 m. Riêng trong địa phận thành phố Tam Điệp và huyện Yên Mô (Ninh Bình), giáp giới hai huyện Hà Trung và Nga Sơn (Thanh Hóa), núi Tam Điệp dài trên 20 km, rộng từ 2 đến 7 km, với những ngọn núi cao trên dưới 200 m. Đây là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Thời thuộc Nhà Hán, đèo Tam Điệp được gọi là Cửu Chân Quan, là cửa ải giữa quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay) và quận Giao Chỉ (Bắc Bộ ngày nay).
Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại (năm 43), căn cứ Cấm Khê mất, một số nghĩa quân lui xuống vùng Tam Điệp - Thần Phù để tiếp tục cuộc chiến đấu.
Đầu thế kỷ X, Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đã dựa vào sự hiểm trở của Tam Điệp để xây dựng và bảo vệ lực lượng ở Thanh Hóa, rồi tiến ra đánh bại quân xâm lược Nam Hán ở thành Đại La (năm 931) và sông Bạch Đằng (năm 938)
Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông- Nguyên (thế kỷ XIII), triều đình Nhà Trần đã sử dụng bức trường thành Tam Điệp để bảo vệ hậu phương Ái Châu - Diễn Châu (Thanh Hóa và Nghệ An) và làm chỗ dựa cho căn cứ Thiên Trường - Trường Yên.
Năm 1527, Nhà Mạc thay Nhà Hậu Lê. Nhà Mạc tách lấy hai phủ Trường Yên và Thiên Quan của thừa tuyên Sơn Nam làm Thanh Hoa ngoại trấn. Vì lúc ấy, Nhà Mạc chiếm giữ từ dãy núi Tam Điệp trở ra Bắc để chống lại Nhà Hậu Lê (Nhà Lê Trung Hưng) đóng đô ở Thanh Hóa). Vua Lê Trang Tông (1533- 1548) đã đắp lũy ở Tam Điệp để chống quân Mạc.
Cuối năm 1788, 29 vạn quân Thanh tràn vào chiếm đóng Thăng Long. Nhà Tây Sơn lúc đó chỉ có 1 vạn quân đồn trú ở Thăng Long và Bắc Hà. Ngô Thì Nhậm – một tướng tài của Tây Sơn chủ trương rút quân về lập phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn cho quân bộ chẹn ở núi Tam Điệp phòng thủ, quân thủy đóng đồn tại hải phận Biện Sơn (Thanh Hóa). Ngày 20 tháng Chạp (tức ngày 15 tháng 1 năm 1789), đại quân do vua Quang Trung chỉ huy từ Phú Xuân (Huế ngày nay) ra đến Tam Điệp nghỉ lại cho quân lính ăn Tết Nguyên đán trước. Từ đêm giao thừa đến mồng 5 tháng 1 năm Kỉ Dậu (ngày 30 tháng 1 năm 1879) quân Tây Sơn kéo ra đại phá quân Thanh ở Thăng Long, kết thúc thắng lợi cuộc tiến công chiến lược thần tốc. Tại đèo Tam Điệp hiện nay vẫn còn dấu tích lịch sử núi Vương Ngự nơi vua Quang Trung đóng quân.
Năm 1842, vua Thiệu Trị đi tuần du qua đèo Tam Điệp đã làm bài thơ "Quá Tam Điệp sơn", 10 tháng sau bài thơ được khắc bia đá, dựng ngay cạnh con đường Thiên lý cổ băng qua đỉnh núi ở giữa, cao nhất. Hiện nay, tấm bia đá đã được tìm thấy trên đỉnh đèo. Năm 1984, người ta đã tìm thấy dấu vết nền nhà bia cũ và cho dựng bia vào đúng vị trí nhà bia cổ. Đỉnh núi có tấm bia này là điểm phân chia địa phận giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa.
Đèo Tam Điệp đã được Nhà nước CHXHCN Việt Nam xếp hạng là Di tích lịch sử năm 1985.
Hiện trạng
[sửa | sửa mã nguồn]Hiện nay, đường đèo cổ không còn dùng trong giao thông vì đã có đoạn đường mới từ đền Dâu đến đền Sòng đi lại thuận tiện hơn, nó chỉ còn là một con đường nhỏ mang tên đường Thiên Lý.
Bài thơ "Cửu Chân Quan" của Ngô Thì Sĩ khắc ở vách núi phía nam Kẽm Đó vào thế kỷ XVIII cùng với một số đoạn lũy quanh Kẽm Đó, lũy của nghĩa quân Tây Sơn về lập phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn, đã bị san phá để khai thác đá hay trồng sắn, trồng khoai, làm lối đi.
Trong thơ ca
[sửa | sửa mã nguồn]Ca dao:
Ăn trầu nhớ miếng cau khô Trèo lên Ba dội nhớ cô bán hàngTrong thơ Nguyễn Du:
Đạp mây núi Ba Dội Kẻ lãng khách lại qua Trong mắt thu đất lớn Ngoài khơi thấy biển xa.Trong thơ Hồ Xuân Hương:
Một đèo, một đèo lại một đèo Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo Cửa son đỏ loét tùm hum nóc Hòn đá xanh rì lún phún rêu Hiền nhân quân tử ai mà chẳng Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.Vào mùa hạ năm 1842, trong chuyến tuần du phía Bắc, Vua Thiệu Trị một vị vua lãng mạn cũng đã từng qua đây và đã đề thơ vào bia đá. Bài thơ ấy đến nay được bảo vệ bằng một lầu bia cao 4m giữa đỉnh đèo.
Giữa lối xanh um núi chất chồng Tầng tầng phóng bước cưỡi Cầu Long Chẳng như Vương Ôc chừa lối tắt Còn giống La Phù biệt lối thông Đón gặp thẳm xa xuôi một ngọn Vươn cao trùng điệp biết bao vòng Thanh, Ninh hai trấn đây ranh giới Đúc diệu kỳ quan, lượn khắp vùngTham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Trương Đình Tưởng, Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2004
- ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
- ^ Bản đồ tỷ lệ 1:50.000 tờ F-48-92-D. Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, 2004.
- ^ Thông tư 14/2014/TT-BTNMT ngày 19/03/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Ban hành Danh mục địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, kinh tế - xã hội phục vụ công tác thành lập bản đồ tỉnh Thanh Hóa. Thuvien Phapluat Online, 2016. Truy cập 25/11/2018.
| ||
|---|---|---|
| Di sản thế giớiTràng An - Hoa Lư |
| |
| Các thắng cảnhbiển, hồ, rừng, núi |
| |
| Di tích quốc giatiêu biểu |
| |
| Các công trìnhkiến trúc khác |
| |
| Lễ hội, làng nghềĐặc sản ẩm thực |
| |
| ||
|---|---|---|
| Khu du lịch Sầm Sơn | Bãi biển Sầm Sơn · Lễ hội Sầm Sơn · Đền Độc Cước · Đền Cô Tiên · Hòn Trống Mái · Núi Trường Lệ | |
| Các điểm du lịch biển khác | Bãi biển Hải Hòa · Bãi biển Hải Tiến · Khu du lịch sinh thái Quảng Cư · Cửa biển Thần Phù · Lạch Bạng · Khu du lịch Nghi Sơn · Hòn Mê | |
| Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên | VQG Cúc Phương · VQG Bến En · VQG Xuân Liên · KBT Pù Hu · KBT Pù Luông · KBT Tam Quy | |
| Điểm du lịch sinh thái | Suối cá Cẩm Lương · Suối cá Cẩm Liên · Suối cá Văn Nho · Cửa Đạt · Am Tiên · Động Từ Thức · Động Kim Sơn · Động Long Quang · Động Tiên Sơn · Động Ngọc Hoàng · Hang Con Moong · Hang Co Luồng · Núi Nưa · Núi Hàm Rồng · Núi Nhồi · Núi Nấp · Bãi cò Tiến Nông · Rừng Thông Đông Sơn · Khu rừng bảo vệ cảnh quan Đền Bà Triệu · Đèo Tam Điệp | |
| Di tích và di chỉ khảo cổ | Đông Sơn · Núi Đọ · Cồn Chân Tiên · Khu di tích lò gốm Tam Thọ · Di chỉ Đa Bút | |
| Di tích lịch sử | Đền thờ Mai An Tiêm · Đền Bà Triệu · Đền thờ Lê Hoàn · Đền thờ Dương Đình Nghệ · Thành nhà Hồ · La Thành Tây Đô · Đàn Nam Giao nhà Hồ · Đền Đồng Cổ · Đền thờ Lê Lai · Lam Kinh · Thái miếu nhà Hậu Lê · Phủ Trịnh và Nghè Vẹt · Khu lăng miếu Triệu Tường · Nhà Thờ Trạng Quỳnh · Đền thờ Lê Văn Hưu · Chiến khu Ba Đình · Chiến khu Ngọc Trạo · Bến phà Ghép · Cụm di tích lịch sử Nam Ngạn · Cầu Hàm Rồng · Cầu Đò Lèn · Nghè Xuân Phả | |
| Di tích tôn giáo, tín ngưỡng | Đền Sòng · Phủ Na · Am Tiên •Phủ Sung · Chùa Vồm · Chùa Thanh Hà · Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh | |
| Làng nghề | Làng Nhồi · Chiếu Nga Sơn · Làng đúc đồng Trà Đông · Làng mộc Đạt Tài | |
| Lễ hội văn hóa | Lễ hội Sầm Sơn · Lễ hội Lam Kinh · Lễ hội Mường Xia · Lễ hội Pôồn Pôông · Lễ hội cầu ngư (Hậu Lộc) · Lễ hội đền Sòng · Trò Xuân Phả · Trò Chiềng · Dân ca, dân vũ Đông Anh · Hò sông Mã | |
| Ẩm thực | Nem chua Thanh Hóa · Bánh đa nem Cầu Bố · Bánh gai Tứ Trụ · Bánh răng bừa · Chè lam Phủ Quảng · Mía đen Kim Tân · Dừa Thanh Hóa · Bưởi Luận Văn · Quế Thanh · Rượu Nga Sơn · Gỏi nhệch Nga Sơn · Hến làng Giàng · Nước mắm Du Xuyên | |
| Du lịch Việt Nam 7 khu du lịch quốc gia • An Giang • Bắc Ninh • Cà Mau • Cần Thơ • Cao Bằng • Đà Nẵng • Đắk Lắk • Điện Biên • Đồng Nai • Đồng Tháp • Gia Lai • Hà Nội • Hà Tĩnh • Hải Phòng • Thành phố Hồ Chí Minh • Hưng Yên • Khánh Hòa • Lai Châu • Lạng Sơn • Lào Cai • Lâm Đồng • Nghệ An • Ninh Bình • Phú Thọ • Quảng Ngãi • Quảng Ninh • Quảng Trị • Sơn La • Tây Ninh • Thái Nguyên • Thanh Hóa • Bản mẫu:Du lịch Huế • Tuyên Quang • Vĩnh Long • | ||
| ||
|---|---|---|
| Đông Bắc sông Hồng |
| |
| Tây Bắc |
| |
| Bắc Trung bộ |
| |
| Nam Trung bộ |
| |
| Tây Nguyên |
| |
| Nam bộ |
| |
| Di tích đặc biệt ● Hang động ● Thác nước ● Đèo ● Chùa ● Đình ● Đền ● Nhà thờ ● Tháp cổ ● Tháp Chăm | ||
Từ khóa » đèo Ba Dội Tam điệp
-
Đèo Ba Dội - Một địa Danh Văn Hóa Lịch Sử Tiêu Biểu
-
Tam Điệp – Ba Dội: Một Vùng Non Nước Hữu Tình
-
Đèo Tam Điệp Là Gì? Chi Tiết Về Đèo Tam Điệp Mới Nhất 2021
-
Thắng Cảnh Quốc Gia đèo Ba Dội, Hồ Cánh Chim… Lâm Nguy
-
Đèo Ba Dội (Đèo Tam Điệp) - Thị Xã Bỉm Sơn - Wikimapia
-
Đèo Ba Dội, Thanh Hóa
-
Cảnh đẹp Thiên Nhiên Bình Dị Từ Đèo Ba Dội - Thanh Hóa Review
-
Thăm đường Thiên Lý - đèo Ba Dội: Nghe Chuyện Kể Người Xưa
-
Đỉnh đèo Ba Dội - Tam Điệp, Bim Son, Thanh Hóa
-
Top 14 đèo Tam điệp
-
Chùm ảnh: Đào Xuyên Núi đá, Mở Hầm Cao Tốc Qua đèo Tam Điệp
-
đèo Tam Điệp - Cồ Việt Mobile
-
Từ điển Tiếng Việt "đèo Tam điệp"
-
Thị Xã Tam Điệp, Đèo Tam Điệp - Hội Trường Sơn
-
Tìm Hiểu Về Thành Phố Tam Điệp
-
Đèo Tam Điệp - Hoàng Quang Thuận