Diệt Chủng – Wikipedia Tiếng Việt

Holocaust ảnh hưởng lớn lao đến cách hiểu của dư luận quốc tế về khái niệm diệt chủng như một kiểu giết người hàng loạt dựa trên bản sắc dân tộc.[1][2]
Một phần của loạt bài viết về
Diệt chủng
Các vấn đề
  • Danh sách diệt chủng
  • Phủ nhận
  • Thảm sát
  • Cưỡng hiếp
  • Kích động
  • Trong tương quan với chủ nghĩa thực dân / tận diệt môi trường / chiến tranh
  • Thủ phạm, nạn nhân, kẻ bàng quan
  • Ngăn ngừa
  • Tâm lý học
  • Chính trị của việc công nhận
  • Nguy cơ
    • Giai đoạn
  • Loại hình
    • Chống bản địa
    • Văn hóa
    • Giấy
    • Công lợi
  • Nghiên cứu
    • Đại cương
    • Thư mục
    • IAGS
    • INoGS
  • Giáo dục
Chủ đề liên quan
  • Triệt sản cưỡng chế
  • Thanh lọc sắc tộc
  • Diệt tộc
  • Thuyết ưu sinh
  • Đồng hóa cưỡng chế
Thể loại
  • x
  • t
  • s

Diệt chủng (tiếng Anh: Genocide) là một khái niệm với nhiều ý nghĩa khác nhau, thường được hiểu đơn giản là sự tiêu diệt cố ý một phần hoặc toàn bộ cộng đồng con người.

Năm 1948, Công ước về Ngăn ngừa và Trừng phạt tội Diệt chủng của Liên Hợp Quốc định nghĩa diệt chủng là:

... bất kể những hành vi nào sau đây có chủ đích diệt chủng, một phần hoặc toàn bộ, một nhóm dân tộc, sắc tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo, vì tư cách thuộc nhóm đó:

  • (a) Giết các thành viên của nhóm;
  • (b) Gây ra tổn thương đáng kể về tinh thần và thể chất đối với các thành viên của nhóm;
  • (c) Cố ý áp đặt lên một nhóm người các điều kiện sinh tồn nhằm gây ra sự hủy diệt về thể chất của nhóm đó, dù là toàn bộ hay một phần;
  • (d) Áp đặt các biện pháp nhằm ngăn chặn sinh sản trong nội bộ nhóm;
  • (e) Cưỡng bức chuyển giao trẻ em từ nhóm này sang nhóm khác.

Nguồn gốc

[sửa | sửa mã nguồn]

Diệt chủng là một từ Hán-Việt bắt nguồn từ hai chữ Hán 滅 (HV: diệt, tức "tiêu diệt") và 種 (HV: chủng, tức "chủng tộc, nòi giống") (Đào Duy Anh, 1950). Sách báo, ấn phẩm tiếng Việt thường dùng từ này để dịch thuật ngữ genocide trong các nguồn tiếng Anh. Luật sư người Ba Lan Do Thái Raphael Lemkin là người đề xướng thuật ngữ genocide giữa năm 1941 và 1943,[3][4] kết hợp giữa gốc từ tiếng Hy Lạp γένος (genos, "chủng tộc, con người") và hậu tố tiếng Latinh -caedo ("giết chóc").[5]

Với tư cách là một sinh viên luật, Lemkin bắt đầu có hứng thú với chủ đề này sau khi tìm hiểu về cuộc diệt chủng Armenia.[6] Ông nộp bài viết nháp Axis Rule in Occupied Europe đầu năm 1942, sau được chấp thuận và xuất bản vào năm 1944 đồng thời với thời điểm những sự thật về Holocaust bắt đầu được phơi bày bên ngoài châu Âu.[3] Đề xuất của Lemkin nhằm hình sự hóa tội diệt chủng tham vọng hơn nhiều so với việc đơn thuần lên án một dạng giết người hàng loạt đặc biệt; ông cho rằng luật chống diệt chủng có thể thúc đẩy các xã hội trở nên khoan dung và đa nguyên hơn.[5] Phản ứng của ông trước tội ác của chế độ Đức Quốc xã khác biệt rõ rệt so với một học giả luật quốc tế khác là Hersch Lauterpacht, người cho rằng điều cốt yếu là phải bảo vệ các cá nhân khỏi những hành vi tàn bạo, bất kể họ có bị nhắm tới với tư cách là thành viên của một nhóm hay không.[7]

Theo Lemkin, định nghĩa cốt lõi của diệt chủng là “sự tiêu diệt một dân tộc (nation) hoặc một nhóm sắc tộc (ethnicity)”, theo đó các thành viên của nhóm không bị nhắm tới với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, mà với tư cách là thành viên của một tập thể. Mục tiêu của tội diệt chủng “sẽ là sự tan rã của các thể chế chính trị và xã hội, của văn hóa, ngôn ngữ, cảm tình dân tộc, tôn giáo và sự hữu tồn về kinh tế của các nhóm dân tộc”.[8] Đây không phải là những tội ác tách biệt, mà là khía cạnh khác nhau của cùng một tội ác diệt chủng.[9] Định nghĩa của Lemkin về “dân tộc” (nation) đủ rộng để có thể áp dụng cho hầu như mọi loại hình tập thể con người, kể cả những tập thể được xác định dựa trên một đặc điểm rất nhỏ nhặt.[10] Ông coi diệt chủng là một quá trình mang tính thực dân cố hữu, và trong các trước tác sau này, ông đã phân tích những gì ông mô tả là các cuộc diệt chủng thực dân diễn ra ở các thuộc địa châu Âu cũ, bao gồm lãnh thổ thuộc Liên Xô và Đức Quốc xã.[5] Hơn nữa, định nghĩa của ông về các hành vi diệt chủng – thay thế kiểu mẫu dân tộc của nạn nhân bằng kiểu mẫu của thủ phạm – rộng hơn nhiều so với năm loại hành vi sau này được liệt kê trong Công ước Diệt chủng.[5] Lemkin cho rằng diệt chủng đã xảy ra ngay từ buổi đầu lịch sử loài người và truy nguyên các nỗ lực hình sự hóa nó về thời các nhà phê phán sự lạm quyền của chủ nghĩa thực dân Tây Ban Nha như Francisco de Vitoria và Bartolomé de las Casas.[11] Tòa án Quốc gia Tối cao Ba Lan, cơ quan mà đã kết án sĩ quan SS Arthur Greiser tội diệt chủng vào năm 1946, là cơ quan đầu tiên đề cập đến thuật ngữ này trong một bản án sử dụng định nghĩa nguyên gốc của Lemkin.[12]

Pháp lý

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Công ước Diệt chủng và Luật hình sự quốc tế

Phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]
Chính sách trục xuất người Đức khỏi Đông Âu là một trong những ví dụ về bạo lực nhà nước bị cố ý loại bỏ khỏi định nghĩa diệt chủng.[13]

Theo bản hiến chương pháp lý dùng để khởi tố các lãnh đạo Đức Quốc xã trước Tòa án Quân sự Quốc tế tại Nürnberg thì tội danh tàn bạo (atrocity crime) chỉ có thể được khởi tố theo tiêu chuẩn công lý quốc tế nếu chúng được thực hiện trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh xâm lược bất hợp pháp. Các cường quốc tiến hành truy tố tại phiên tòa không sẵn sàng kiềm chế hành động của chính phủ đối với chính công dân của mình.[14]

Lemkin đã đệ trình đề xuất hình sự hóa diệt chủng của mình lên Liên Hợp Quốc mới được thành lập vào năm 1946.[14] Công ước gặp phải phản kháng gay gắt hơn so với dự đoán của Lemkin bởi lẽ hầu hết quốc gia đều lo ngại rằng chính sách của chính họ – bao gồm đối sách với các dân tộc bản địa, chủ nghĩa thực dân Châu Âu, phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ và chính sách dân tộc của Liên Xô – có nguy cơ cấu thành tội diệt chủng. Trước khi công ước được thông qua, các cường quốc phương Tây và Liên Xô đã thực hiện một số sửa đổi nhằm khiến công ước khó có thể được thực thi và chỉ có thể được áp dụng đối với hành động của các đối thủ địa chính trị chứ không nhắm vào mình.[15] Chỉ có rất ít quốc gia từng bị thuộc địa hóa được đại diện, và “phần lớn nhà nước không muốn nạn nhân của họ có quá nhiều quyền uy – kể cả trong quá khứ, hiện tại, lẫn tương lai”.[16]

Kết quả là định nghĩa ban đầu của Lemkin bị thu hẹp bất đắc dĩ,[17] điều mà ông thầm coi là một thất bại lớn.[15] Quan niệm chống chủ nghĩa thực dân của Lemkin về diệt chủng đã bị biến tướng thành một cách hiểu có lợi cho các cường quốc thực dân.[18][19] Trong số các hình thức bạo lực được khoan hồng khỏi sự kỳ thị diệt chủng có hành vi tiêu diệt nhóm chính trị – điều mà Liên Xô đặc biệt bị quy trách nhiệm vì họ là tác nhân chính ngăn chặn việc đưa điều này vào công ước.[20][21][17] Mặc dù Lemkin cảm kích vai trò của các tổ chức phi chính phủ do phụ nữ lãnh đạo trong việc bảo đảm công ước được thông qua, các hình thức bạo lực về giới như cưỡng ép mang thai, hôn nhân và ly hôn hoàn toàn bị cắt bỏ.[22] Ngoài ra, việc cưỡng bức di dời dân cư – do Liên Xô và các đồng minh tiến hành, được các cường quốc phương Tây dung túng, nhắm vào hàng triệu người Đức ở Trung và Đông Âu – cũng không được đưa vào định nghĩa cuối cùng.[23] Hành vi diệt chủng văn hóa cũng bị cắt bỏ, bất chấp lập luận của Lemkin cho rằng nó và diệt chủng về cơ bản là hai cơ chế cùng hướng tới một mục tiêu.[24][17]

Công ước Diệt chủng

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Công ước Diệt chủng
Các quốc gia tham gia Công ước Diệt chủng   Đã ký và được phê chuẩn   Chấp thuận hoặc kế thừa   Chỉ ký
Các quốc gia chấp nhận quyền tài phán của Tòa án Hình sự Quốc tế đối với tội danh diệt chủng (tô xanh nước biển)

Hai năm sau khi thông qua một nghị quyết khẳng định việc hình sự hóa tội diệt chủng, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng vào ngày 9 tháng 12 năm 1948.[25] Công ước có hiệu lực từ ngày 12 tháng 1 năm 1951 sau khi 20 quốc gia phê chuẩn không có bảo lưu.[26]

Một dolus specialis – tức “chủ đích tiêu diệt” – là mens rea (yếu tố chủ quan của tội phạm) cần thiết để cấu thành tội diệt chủng.[27] Vấn đề hiểu thế nào cho đúng về việc tiêu diệt một nhóm “với tư cách là một nhóm”, cũng như cách chứng minh chủ đích cần thiết, đã gây nhiều khó khăn cho các tòa án. Hệ thống pháp lý cũng gặp khó khăn trong việc xác định dấu hiệu phạm tội nhắm vào các cá nhân trong nhóm đến mức độ nào thì mới kích hoạt Công ước Diệt chủng.[28][29][30]

Hai cách tiếp cận chính đối với yếu tố chủ đích là: tiếp cận dựa trên mục đích, theo đó thủ phạm thể hiện rõ mong muốn tiêu diệt nhóm; hoặc tiếp cận dựa trên nhận thức, theo đó thủ phạm hiểu rõ rằng sự tiêu diệt nhóm được bảo vệ sẽ là hệ quả từ hành vi của mình.[31][32] Chủ đích là yếu tố khó chứng minh nhất đối với các công tố viên;[33][34] thủ phạm thường tuyên bố rằng họ chỉ tìm cách loại bỏ nhóm đó khỏi một lãnh thổ nhất định, thay vì tiêu diệt nhóm đó với tư cách là một nhóm,[35] hoặc cho rằng các hành vi diệt chủng chỉ là thiệt hại phụ của một hoạt động quân sự.[36]

Các hành vi như âm mưu thực hiện diệt chủng, âm mưu phạm tội diệt chủng, kích động diệt chủng và đồng lõa diệt chủng cũng bị hình sự hóa.[37] Công ước không cho phép hồi tố đối với các sự kiện xảy ra trước năm 1951.[37] Ngoài ra, các bên ký kết có nghĩa vụ phải ngăn chặn diệt chủng và truy tố những kẻ phạm tội.[38]

Nhiều nước thậm chí đưa tội diệt chủng vào pháp luật quốc gia với mức độ tương thích Công ước tùy thuộc.[39] Định nghĩa về tội diệt chủng của Công ước đã được các tòa án hình sự quốc tế ad hoc và Quy chế Roma – văn kiện thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) – tiếp nhận nguyên văn.[40] Tội diệt chủng cũng tồn tại trong luật tập quán quốc tế và vì vậy không thể áp dụng đối với những quốc gia không phải là bên ký kết Công ước.[41]

Khởi tố

[sửa | sửa mã nguồn]
Vụ án diệt chủng Rohingya tại Tòa án Công lý Quốc tế

Thời Chiến tranh Lạnh, diệt chủng vẫn chỉ bị giới hạn ở mức độ hùng biện vì hai siêu cường lúc bấy giờ là Hoa Kỳ và Liên Xô cảm thấy rủi ro trước nguy cơ chính mình bị khởi tố và vì vậy không tự tin khi chĩa mũi dùi pháp lý vào đối phương.[42] Bất chấp áp lực chính trị nhằm buộc tội “cuộc diệt chủng Xô Viết”, chính phủ Hoa Kỳ đã từ chối lên án Liên Xô vì lo sợ bị phản đòn.[43] Các cơ quan chức năng cũng tỏ ra miễn cưỡng trong việc truy tố thủ phạm của nhiều vụ diệt chủng, mặc dù một số quốc gia đã thành lập các ủy ban điều tra phi tư pháp.[44]

Sau thất bại trong việc ngăn chặn diệt chủng Bosnia và diệt chủng Rwanda những năm 1990, Liên Hợp Quốc đã thành lập các tòa án hình sự quốc tế ad hoc để xét xử các cá nhân phạm tội diệt chủng cùng nhiều loại tội phạm quốc tế khác.[45][46] Những tòa án kiểu vậy đạt được một số thành tựu nhất định song tranh cãi đã dẫn đến việc thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) vào năm 2002, thu hút nhiều quốc gia gia nhập, trừ một số cường quốc hàng đầu như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ.[47][46]

Nghiên cứu diệt chủng

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Nghiên cứu diệt chủng

Sự bùng nổ của diệt chủng Bosnia, diệt chủng Rwanda và khủng hoảng Kosovo khiến ngành nghiên cứu diệt chủng trở nên đình đám vào thập niên 1990.[48] Trái với các học giả trước đây, vốn mặc nhiên cho rằng các xã hội tự do dân chủ ít có nguy cơ thực hiện diệt chủng, các nhà xét lại thuộc tổ chức International Network of Genocide Scholars nhấn mạnh cách mà các tư tưởng phương Tây mở đường tới diệt chủng.[49] Các vụ diệt chủng đối với người bản địa trong khuôn khổ chủ nghĩa thực dân châu Âu ban đầu không được thừa nhận là một hình thức diệt chủng.[50] Những người tiên phong trong nghiên cứu chủ nghĩa thực dân định cư, như Patrick Wolfe, đã làm rõ logic diệt chủng của các dự án định cư ở những nơi như châu Mỹ và Úc, qua đó thúc đẩy việc xem xét lại chủ nghĩa thực dân.[51] Tuy nhiên, phần lớn nghiên cứu về diệt chủng vẫn tập trung vào một bộ chuẩn hạn chế gồm các vụ diệt chủng của thế kỷ 20, trong khi nhiều trường hợp khác chưa được nghiên cứu đầy đủ hoặc bị lãng quên.[52] Nhiều học giả nghiên cứu diệt chủng quan tâm đồng thời đến sự khách quan của chủ đề này và sự rút ra những hiểu biết có thể giúp ngăn chặn các vụ diệt chủng trong tương lai.[53]

Định nghĩa

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Định nghĩa diệt chủng
Tuy cuộc phong tỏa Biafra gây ra cái chết cho ít nhất 1 triệu người, không có đồng thuận nào coi đây là một vụ diệt chủng vì chính phủ Nigeria khẳng định mục đích của họ là dập tắt nổi loạn.[54]

Định nghĩa diệt chủng tạo ra nhiều lùm xùm mỗi khi một vụ án mới nảy sinh và kéo theo đó là các tranh luận xoay quanh độ xác tín của các cáo buộc xung quanh nó. Nhà xã hội học Martin Shaw viết: "Ít có ý tưởng nào quan trọng trong tranh luận công chúng như vậy, song cũng hiếm có trường hợp nào mà ý nghĩa và phạm vi của một ý tưởng then chốt lại ít được thống nhất rõ ràng đến thế."[55][56] Quan điểm về diệt chủng thường dao động từ "một tội ác vô cùng hiếm gặp và rất khó để chứng minh", đến ý kiến cho rằng nó có thể được tìm thấy – theo cách nói giảm nói tránh – trong hầu hết các cuốn sách lịch sử.[57]

Tuy một bộ phận học giả và giới vận động chính trị sử dụng định nghĩa như được đồng thuận trong Công ước Liên Hợp Quốc,[18] nhiều người khác lại cho rằng diệt chủng đồng nghĩa với giết người quy mô lớn,[58] hoặc chủ trương phân biệt nó với các kiểu giết người khác dựa trên tính chất vô tội,[1] bất lực hoặc sự thiếu vắng khả năng tự vệ của nạn nhân.[59] Hầu hết các cuộc diệt chủng diễn ra vào thời chiến;[60][61] theo đó, rất khó để có thể phân biệt giữa diệt chủng/chiến tranh có động cơ diệt chủng với chiến tranh không có động cơ diệt chủng.[61] Bên cạnh đó, diệt chủng khác biệt với các hình thức bạo lực hoặc áp bức nhằm thay đổi hành vi của các nhóm, thay vì tiêu diệt.[62][63]

Diệt chủng văn hóa hay diệt tộc là những hành động nhắm vào việc phá hủy sự tái sản xuất của ngôn ngữ, văn hóa hoặc lối sống của một nhóm người.[64] Mặc dù không được đưa vào Công ước Diệt chủng, đa số học giả nghiên cứu về diệt chủng cho rằng cả diệt chủng văn hóa và bạo lực cấu trúc nên được bao gồm trong định nghĩa về diệt chủng nếu chúng được thực hiện với ý đồ tiêu diệt nhóm bị nhắm tới.[65] Nhiều định nghĩa về diệt chủng mang tính xã hội học có sự trùng lặp với tội ác chống lại loài người ở khía cạnh như tiêu diệt (extermination), tức việc giết chóc trên quy mô lớn hoặc gây ra cái chết một cách có chủ đích như một phần của cuộc tấn công có hệ thống nhằm vào dân thường.[66] Mặc dù đã được Lemkin đưa vào khái niệm ban đầu và được một số học giả ủng hộ, các nhóm chính trị và xã hội vẫn bị loại khỏi Công ước Diệt chủng.[67][68] Hệ quả là, các thủ phạm thường tìm cách né tránh sự kỳ thị gắn với tội diệt chủng bằng cách gán nhãn mục tiêu của họ là kẻ thù chính trị hoặc quân sự.[68]

Phê phán khái niệm và các phương án khác

[sửa | sửa mã nguồn]
Thiệt hại phụ do hoạt động quân sự, đơn cử như không kích, nằm ngoài định nghĩa diệt chủng thông lệ bất chấp số lượng người chết.[69]

Hầu hết các vụ giết hại thường dân vào thế kỷ thứ 20 không phải là do diệt chủng.[70] Nhiều thuật ngữ đã được đề xuất để bao hàm các khái niệm nằm ngoài định nghĩa hẹp của diệt chủng. Thanh lọc sắc tộc (ethnic cleansing) – sự trục xuất cưỡng chế đối với một cộng đồng người khỏi lãnh thổ của họ – đã nhận được sự tín nhiệm rộng rãi, song nhiều học giả coi nó trùng lặp nhiều với khái niệm diệt chủng, ngay cả khi không dùng tới định nghĩa gốc của Lemkin.[71]

Genocide/Diệt chủng là thuật ngữ định tính cố hữu về mặt đạo đức,[72] bởi lẽ nó được coi là đỉnh điểm của cái ác con người.[73] Quan điểm cho rằng tội ác diệt chủng đứng đầu trong hệ thống phân cấp các tội ác tàn bạo – tệ hơn cả tội ác chống lại loài người hay tội ác chiến tranh – là một vấn đề gây tranh cãi.[74] Nó ngầm định cho rằng việc bảo vệ nhóm quan trọng hơn việc bảo vệ cá nhân,[75][76] và chủ đích của nhà nước quan trọng hơn sự thống khổ của các nạn nhân dân sự.[77] A. Dirk Moses và một số học giả khác cho rằng việc ưu tiên vấn đề diệt chủng sẽ làm giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của các hành vi tương đương khác gây ra thương vong cho dân thường như phong tỏa, oanh tạc và các "thiệt hại phụ" khác.[78][79]

Nguyên nhân

[sửa | sửa mã nguồn] Chúng tôi đã bị khiển trách vì không phân biệt giữa những kẻ Armenia vô tội và những kẻ có tội; song điều đó hoàn toàn là không thể, xét đến thực tế rằng những kẻ vô tội hôm nay có thể trở thành có tội vào ngày mai. Việc bảo đảm an toàn cho Thổ Nhĩ Kỳ đã khiến mọi mối quan tâm khác không còn được xét đến.

— Lời thú của Talaat Pasha trên Berliner Tageblatt, ngày 4 tháng 5 năm 1916[80][81]

Cách hiểu thông tục về diệt chủng chịu ảnh hưởng nặng nề từ Holocaust; theo đó những nạn nhân vô tội bị nhắm tới vì lòng thù hận phi lý chứ không phải vì lý do chính trị.[1] Diệt chủng không phải là mục đích tự thân, mà là phương tiện để đạt mục đích khác – thường được thủ phạm lựa chọn sau khi các phương án khác thất bại.[82] Chiến tranh có thể trở thành yếu tố tạo điều kiện quan trọng nhất cho diệt chủng,[83] vì nó cung cấp hung khí, sự biện minh về mặt ý thức hệ, sự phân cực giữa đồng minh và kẻ thù, cũng như vỏ bọc bề ngoài để tiến hành bạo lực cực đoan.[84][85] Một tỷ lệ lớn các vụ diệt chủng xảy ra trong quá trình các đế quốc mở rộng và củng cố quyền lực.[86] Nhiều học thuyết khám phá cách mà văn hóa, loại hình chế độ, chia rẽ xã hội theo các lằn ranh (đặc biệt là sắc tộc), và quá trình hiện đại hóa tác động thế nào đến diệt chủng, song bằng chứng hiện nay vẫn còn hạn chế.[87] Một số mối đe dọa cụ thể đối với tầng lớp tinh hoa đang nắm quyền được cho là có tương quan với diệt chủng, bao gồm những nỗ lực thay đổi chế độ thành công lẫn thất bại thông qua ám sát, đảo chính, cách mạng và nội chiến.[88]

Hầu hết các cuộc diệt chủng không được hoạch định từ trước mà nảy sinh thông qua một quá trình cực đoan hóa tiệm tiến, leo thang thành diệt chủng khi nhóm bị nhắm đến phản kháng.[89][90] Thủ phạm gây ra diệt chủng lo sợ – thường là phi lý – rằng nếu họ không ra tay trước thì họ sẽ trở thành nạn nhân.[91][92] Bất chấp mục đích công lợi của thủ phạm,[93] yếu tố ý thức hệ là cần thiết để giải thích vì sao diệt chủng lại được xem là giải pháp đáng mong muốn cho vấn đề an ninh xã hội.[93][91] Những người không tham chiến bị gây hại vì toàn bộ một cộng đồng bị quy kết tội lỗi tập thể: họ bị xác định theo chủng tộc, nhưng lại bị nhắm tới do bị cho là mối đe dọa đối với an ninh của thủ phạm.[94] Nạn nhân bị nhìn nhận như những “tha nhân” và thường bị cố ý ghẻ lạnh trước khi diệt chủng bắt đầu thông qua các biện pháp như phủ nhận quyền công dân.[95]

Trái với lầm tưởng phổ biến, diệt chủng hầu như không liên quan đến các ý thức hệ cực đoan như chủ nghĩa Quốc xã.[96]

Mặc dù nhiều học giả nhấn mạnh vai trò của ý thức hệ trong diệt chủng, hầu như chưa có sự đồng thuận học thuật nào về cách thức mà ý thức hệ góp phần dẫn đến kết cục bạo lực.[97] Một vấn đề khác xoay quanh việc liệu diệt chủng có phải do những ý thức hệ chính trị lệch lạc gây ra hay tồn tại một tiến trình liên tục giữa các ý thức hệ chính trị diệt chủng và các ý thức hệ chính trị thông thường.[98] Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào các ý thức hệ cực đoan, đáng chú ý là chủ nghĩa Quốc xã, chủ nghĩa Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, như là nguyên nhân dẫn đến diệt chủng. Mặc dù các chế độ như vậy chịu trách nhiệm cho một số vụ thảm sát hàng loạt cực đoan nhất, song tương đối ít các vụ diệt chủng có liên quan đến chúng và ngay cả những trường hợp đó cũng không nhất thiết được thực hiện vì mục tiêu của chế độ.[99] Một số học giả nhấn mạnh tới sự tách rời đạo đức như một nguyên nhân mang tính ý thức hệ của các hành động tàn bạo, nhưng trái với lập luận này, nhiều thủ phạm biện minh cho tội ác của mình trên cơ sở đạo đức, viện dẫn sự trả thù, lòng trung thành và nghĩa vụ.[100]

Một sự điều chỉnh đối với các lý thuyết nêu trên nhấn mạnh việc sử dụng các phạm trù đạo đức thông thường, chẳng hạn như tự vệ và trừng phạt tội phạm, để biện minh cho diệt chủng.[101] Tự vệ là sự biện minh cho bạo lực được thừa nhận rộng rãi nhất; vì vậy, trong các vụ diệt chủng, nạn nhân thường bị thủ phạm nhìn nhận như một mối đe dọa, mặc dù họ là những thường dân không có vũ trang.[102] Phần lớn các vụ diệt chủng rốt cuộc bắt nguồn từ việc những kẻ gây tội nhận thức rằng sự tồn tại của chính họ đang bị đe dọa ở mức độ sống còn, mặc dù niềm tin này thường bị phóng đại và đôi khi chỉ tồn tại trong tưởng tượng.[103][104][105] Các nạn nhân của diệt chủng bị bỉ bai là những kẻ phản bội, tội phạm hoặc kẻ thù của nhân dân; họ bị biến thành vật tế thần cho nhiều dạng sai trái khác nhau – có thật hoặc tưởng tượng – khiến diệt chủng trông như một hình thức trừng phạt hay trả thù chính đáng.[106] Một số học giả viện dẫn những cách giải thích mang tính duy lý cho các hành động tàn bạo,[93] chẳng hạn như lợi ích vật chất[107] kiểu như cướp bóc hay chiếm đoạt đất đai.[108]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c Moses 2023, tr. 19.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMoses2023 (trợ giúp)
  2. ^ Shaw 2015, Conclusion of Chapter 4.
  3. ^ a b Irvin-Erickson 2023, tr. 7.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFIrvin-Erickson2023 (trợ giúp)
  4. ^ Kiernan 2023, tr. 2.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernan2023 (trợ giúp)
  5. ^ a b c d Irvin-Erickson 2023, tr. 14.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFIrvin-Erickson2023 (trợ giúp)
  6. ^ Pruitt 2021, tr. 2.
  7. ^ Ochab & Alton 2022, tr. 19–20.
  8. ^ Bachman 2022, tr. 48.
  9. ^ Shaw 2015, tr. 39.
  10. ^ Irvin-Erickson 2023, tr. 15.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFIrvin-Erickson2023 (trợ giúp)
  11. ^ Irvin-Erickson 2023, tr. 11.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFIrvin-Erickson2023 (trợ giúp)
  12. ^ Irvin-Erickson 2023, tr. 7–8.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFIrvin-Erickson2023 (trợ giúp)
  13. ^ Weiss-Wendt 2017, tr. 267–268.
  14. ^ a b Irvin-Erickson 2023, tr. 20.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFIrvin-Erickson2023 (trợ giúp)
  15. ^ a b Irvin-Erickson 2023, tr. 20–21.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFIrvin-Erickson2023 (trợ giúp)
  16. ^ Bachman 2021b, tr. 1021.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBachman2021b (trợ giúp)
  17. ^ a b c Curthoys & Docker 2008, tr. 13–14.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCurthoysDocker2008 (trợ giúp)
  18. ^ a b Irvin-Erickson 2023, tr. 22.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFIrvin-Erickson2023 (trợ giúp)
  19. ^ Bachman 2021b, tr. 1020.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBachman2021b (trợ giúp)
  20. ^ Weiss-Wendt 2017, tr. 4.
  21. ^ Bachman 2022, tr. 53.
  22. ^ Irvin-Erickson 2023, tr. 8.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFIrvin-Erickson2023 (trợ giúp)
  23. ^ Weiss-Wendt 2017, tr. 267–268, 283.
  24. ^ Bachman 2022, tr. 62.
  25. ^ Weiss-Wendt 2017, tr. 3.
  26. ^ Weiss-Wendt 2017, tr. 158.
  27. ^ Schabas 2010, tr. 136, 138.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSchabas2010 (trợ giúp)
  28. ^ Ozoráková 2022, tr. 292–295.
  29. ^ Irvin-Erickson 2023, tr. 13.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFIrvin-Erickson2023 (trợ giúp)
  30. ^ Schabas 2010, tr. 136.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSchabas2010 (trợ giúp)
  31. ^ Lemos, Taylor & Kiernan 2023, tr. 35.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLemosTaylorKiernan2023 (trợ giúp)
  32. ^ Jones 2023, tr. 49–50.
  33. ^ Kiernan, Madley & Taylor 2023, tr. 4, 9.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernanMadleyTaylor2023 (trợ giúp)
  34. ^ Ochab & Alton 2022, tr. 28, 30.
  35. ^ Bachman 2022, tr. 57.
  36. ^ Bachman 2022, tr. 47.
  37. ^ a b Kiernan, Madley & Taylor 2023, tr. 2.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernanMadleyTaylor2023 (trợ giúp)
  38. ^ Ochab & Alton 2022, tr. 32.
  39. ^ Schabas 2010, tr. 123.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSchabas2010 (trợ giúp)
  40. ^ Ozoráková 2022, tr. 281.
  41. ^ Ochab & Alton 2022, tr. 23, 31–32.
  42. ^ Weiss-Wendt 2017, tr. 9.
  43. ^ Weiss-Wendt 2017, tr. 266.
  44. ^ Stone 2013, tr. 150.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFStone2013 (trợ giúp)
  45. ^ Pruitt 2021, tr. 131.
  46. ^ a b Irvin-Erickson 2016, tr. 231.
  47. ^ Pruitt 2021, tr. 131, 141, 143.
  48. ^ Kiernan et al. 2023, tr. 17–18.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernan_et_al.2023 (trợ giúp)
  49. ^ Kiernan et al. 2023, tr. 23–24.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernan_et_al.2023 (trợ giúp)
  50. ^ Kiernan, Madley & Taylor 2023, tr. 6–10.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernanMadleyTaylor2023 (trợ giúp)
  51. ^ Kiernan và đồng nghiệp 2023, tr. 9.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernanMadleyTaylor2023 (trợ giúp)
  52. ^ Bachman & Ruiz 2024, tr. viii.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBachmanRuiz2024 (trợ giúp)
  53. ^ Jones 2023, tr. 24.
  54. ^ Moses 2021, tr. 443–444.
  55. ^ Shaw 2015, tr. 38.
  56. ^ Williams 2020, tr. 8.
  57. ^ Gurmendi Dunkelberg 2025.
  58. ^ Shaw 2014, tr. 4.
  59. ^ Shaw 2015, Sociologists redefine genocide.
  60. ^ Mulaj 2021, tr. 15.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMulaj2021 (trợ giúp)
  61. ^ a b Shaw 2014, tr. 6–7.
  62. ^ Shaw 2014, tr. 7.
  63. ^ Kiernan, Madley & Taylor 2023, tr. 11–12.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernanMadleyTaylor2023 (trợ giúp)
  64. ^ Bachman 2022, tr. 56–57.
  65. ^ Bachman 2021a, tr. 375.
  66. ^ Kiernan et al. 2023, tr. 3–4.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernan_et_al.2023 (trợ giúp)
  67. ^ Kiernan et al. 2023, tr. 3.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernan_et_al.2023 (trợ giúp)
  68. ^ a b Bachman 2022, tr. 45–46, 48–49, 53.
  69. ^ Moses 2023, tr. 22–23.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMoses2023 (trợ giúp)
  70. ^ Moses 2023, tr. 25Lỗi sfnm: không có mục tiêu: CITEREFMoses2023 (trợ giúp); Graziosi & Sysyn 2022, tr. 15Lỗi sfnm: không có mục tiêu: CITEREFGraziosiSysyn2022 (trợ giúp).
  71. ^ Shaw 2015, Chương 5.
  72. ^ Lemos, Taylor & Kiernan 2023, tr. 31–32.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLemosTaylorKiernan2023 (trợ giúp)
  73. ^ Lang 2005, tr. 5–17.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLang2005 (trợ giúp)
  74. ^ Mulaj 2021, tr. 11.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMulaj2021 (trợ giúp)
  75. ^ Sands 2017, tr. 364.
  76. ^ Jones 2023, tr. 11.
  77. ^ Moses 2023, tr. 16.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMoses2023 (trợ giúp)
  78. ^ Moses 2021, tr. 1.
  79. ^ Bachman 2022, tr. 118.
  80. ^ Ihrig 2016, tr. 162–163.
  81. ^ Moses 2023, tr. 32.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMoses2023 (trợ giúp)
  82. ^ Kathman & Wood 2011, tr. 737–738.
  83. ^ Moyd 2022, tr. 233.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMoyd2022 (trợ giúp)
  84. ^ Moyd 2022, tr. 236–239.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMoyd2022 (trợ giúp)
  85. ^ Pruitt 2021, tr. 60.
  86. ^ Lemos, Taylor & Kiernan 2023, tr. 49.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLemosTaylorKiernan2023 (trợ giúp)
  87. ^ Pruitt 2021, tr. 56–60.
  88. ^ Nyseth Nzitatira 2022, tr. 52–53.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFNyseth_Nzitatira2022 (trợ giúp)
  89. ^ Jones 2023, tr. 48–49.
  90. ^ Maynard 2022, tr. 102–103.
  91. ^ a b Stone 2013, tr. 146.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFStone2013 (trợ giúp)
  92. ^ Moyd 2022, tr. 245.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMoyd2022 (trợ giúp)
  93. ^ a b c Maynard 2022, tr. 308.
  94. ^ Moses 2021, tr. 329.
  95. ^ Pruitt 2021, tr. 62–63.
  96. ^ Maynard 2022, tr. 97.
  97. ^ Maynard 2022, tr. 307.
  98. ^ Maynard 2022, tr. 95.
  99. ^ Maynard 2022, tr. 96–97.
  100. ^ Maynard 2022, tr. 98–100, 102.
  101. ^ Maynard 2022, tr. 103.
  102. ^ Maynard 2022, tr. 105.
  103. ^ Stone & Jinks 2022, tr. 258.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFStoneJinks2022 (trợ giúp)
  104. ^ Moses 2023, tr. 16–17, 27.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMoses2023 (trợ giúp)
  105. ^ Nyseth Nzitatira 2022, tr. 52.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFNyseth_Nzitatira2022 (trợ giúp)
  106. ^ Maynard 2022, tr. 108–109.
  107. ^ Maynard 2022, tr. 108.
  108. ^ Kiernan 2023, tr. 6.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKiernan2023 (trợ giúp)

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]

Sách chuyên khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Asquith, Linda (2019). Rebuilding Lives After Genocide: Migration, Adaptation and Acculturation (bằng tiếng Anh). Springer. ISBN 978-3-030-14074-8.
  • Bachman, Jeffrey S. (2022). The Politics of Genocide: From the Genocide Convention to the Responsibility to Protect (bằng tiếng Anh). Rutgers University Press. ISBN 978-1-9788-2147-7.
  • Basso, Andrew R. (2024). Destroy Them Gradually: Displacement as Atrocity (bằng tiếng Anh). Rutgers University Press. ISBN 978-1-9788-3130-8.
  • Ihrig, Stefan (2016). Justifying Genocide: Germany and the Armenians from Bismarck to Hitler. Harvard University Press. ISBN 978-0-674-50479-0.
  • Irvin-Erickson, Douglas (2016). Raphael Lemkin and the Concept of Genocide (bằng tiếng Anh). University of Pennsylvania Press. ISBN 978-0-8122-9341-8.
  • Jones, Adam (2023). Genocide: A Comprehensive Introduction (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 4). Taylor & Francis. ISBN 978-1-000-95870-6.
  • Maynard, Jonathan Leader (2022). Ideology and Mass Killing: The Radicalized Security Politics of Genocides and Deadly Atrocities (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. ISBN 978-0-19-108266-5.
  • Moses, A. Dirk (2021). The Problems of Genocide: Permanent Security and the Language of Transgression (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. ISBN 978-1-009-02832-5.
  • Naimark, Norman M. (2017). Genocide: A World History. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-976527-0.
  • Ochab, Ewelina U.; Alton, David (2022). State Responses to Crimes of Genocide: What Went Wrong and How to Change It. Springer International Publishing. ISBN 978-3-030-99162-3.
  • Pruitt, William R. (2021). An Introduction to the Criminology of Genocide (bằng tiếng Anh). Springer Nature. ISBN 978-3-030-65211-1.
  • Rechtman, Richard (2021). Living in Death: Genocide and Its Functionaries (bằng tiếng Anh). Fordham University Press. ISBN 978-0-8232-9788-7.
  • Sands, Philippe (2017). East West Street: On the Origins of Genocide and Crimes Against Humanity (bằng tiếng Anh). Weidenfeld & Nicolson. ISBN 978-1-4746-0191-7.
  • Shaw, Martin (2014). Genocide and International Relations: Changing Patterns in the Transitions of the Late Modern World (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-11013-6.
  • Shaw, Martin (2015). What is Genocide? (bằng tiếng Anh). John Wiley & Sons. ISBN 978-0-7456-8710-0.
  • Weiss-Wendt, Anton (2017). The Soviet Union and the Gutting of the UN Genocide Convention (bằng tiếng Anh). University of Wisconsin Press. ISBN 978-0-299-31290-9.
  • Williams, Timothy (2020). The Complexity of Evil: Perpetration and Genocide (bằng tiếng Anh). Rutgers University Press. hdl:20.500.12657/52460. ISBN 978-1-9788-1431-8.

Tập san học thuật

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Bachman, Jeffrey S. (2021a). "Situating Contributions from Underrepresented Groups and Geographies within the Field of Genocide Studies". International Studies Perspectives. 22 (3): 361–382. doi:10.1093/isp/ekaa011.
  • Barsalou, Judy; Baxter, Victoria (tháng 1 năm 2007). "The Urge to Remember: The Role of Memorials in Social Reconstruction and Transitional Justice" (PDF). Stabilization and Reconstruction. Series 5. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2015.
  • Gurmendi Dunkelberg, Alonso (ngày 22 tháng 1 năm 2025). "How to Hide a Genocide: Modern/Colonial International Law and the Construction of Impunity". Journal of Genocide Research (Forum: Israel-Palestine: Atrocity Crimes and the Crisis of Holocaust and Genocide Studies): 1–24. doi:10.1080/14623528.2025.2454739.
  • Kathman, Jacob D.; Wood, Reed M. (2011). "Managing Threat, Cost, and Incentive to Kill: The Short- and Long-Term Effects of Intervention in Mass Killings". Journal of Conflict Resolution. 55 (5): 735–760. doi:10.1177/0022002711408006.
  • Lindert, Jutta; Kawachi, Ichiro; Knobler, Haim Y.; Abramowitz, Moshe Z.; Galea, Sandro; Roberts, Bayard; Mollica, Richard; McKee, Martin (2019). "The long-term health consequences of genocide: developing GESQUQ - a genocide studies checklist". Conflict and Health. 13 (1): 14. doi:10.1186/s13031-019-0198-9. ISSN 1752-1505. PMC 6460659. PMID 31011364.
  • Lindert, Jutta; Knobler, Haim Y.; Kawachi, Ichiro; Bain, Paul A.; Abramowitz, Moshe Z.; McKee, Charlotte; Reinharz, Shula; McKee, Martin (2017). "Psychopathology of children of genocide survivors: a systematic review on the impact of genocide on their children's psychopathology from five countries". International Journal of Epidemiology: 246–257.
  • Luft, Aliza (2020). "Three Stories and Three Questions about Participation in Genocide". Journal of Perpetrator Research. 3 (1): 196–. doi:10.21039/jpr.3.1.37. ISSN 2514-7897.
  • McDoom, Omar Shahabudin (2020). "Radicalization as cause and consequence of violence in genocides and mass killings". Violence (bằng tiếng Anh). 1 (1): 123–143. doi:10.1177/2633002420904267. ISSN 2633-0024.
  • Ozoráková, Lilla (2022). "The Road to Finding a Definition for the Crime of Genocide – the Importance of the Genocide Convention". The Law & Practice of International Courts and Tribunals. 21 (2): 278–301. doi:10.1163/15718034-12341475. ISSN 1569-1853.
  • Shaw, Martin (2025). "The Genocide that Changed the World". Journal of Genocide Research: 1–15. doi:10.1080/14623528.2025.2556575. hdl:10230/71505.
  • Sysyn, Frank E.; Theriault, Henry C. (2017). "Editors' Introduction: Starvation and Genocide". Genocide Studies International. 11 (1): 1–7. doi:10.3138/gsi.11.1.00.
  • Watenpaugh, Keith David (2022). "Kill the Armenian/Indian; Save the Turk/Man: Carceral Humanitarianism, the Transfer of Children and a Comparative History of Indigenous Genocide". Journal of the Society for Armenian Studies. 29 (1): 35–67. doi:10.1163/26670038-12342771.
  • Williams, Timothy; Jessee, Erin (2024). "Perpetrators as Victims? Inclusivity and Proximity in Post-Genocide Cambodia and Rwanda". Journal of Genocide Research: 1–24. doi:10.1080/14623528.2024.2411879.

Từ khóa » Diệt Chủng Trong Tiếng Anh Là Gì