GIỚI THIỆU & ĐỊNH NGHĨA BENCHMARKING | Đậu Đỏ

“Thật là khờ khạo nếu bạn nói rằng bạn học hỏi từ những kinh nghiệm của mình, tôi thích rút ra bài học cho mình từ những sai lầm của người khác và không phải trả giá vì sai lầm của mình hơn” -Otto Von Bismark

Khái niệm Benchmarking được khởi đầu từ giải thưởng chất lượng quốc gia Malcolm Baldrige (Mỹ) nhằm cải tiến chất lượng quá trình quản lý, kinh doanh. Trong quá trình hình thành và phát triển, kỹ thuật benchmarking được rất nhiều cá nhân và tổ chức định nghĩa và khái niệm Benchmarking cũng đã thay đổi so với mục đích sử dụng ban đầu của nó. Đầu tiên, Benchmarking mang ý nghĩa nghiên cứu những đối tượng thành công lâu dài để học hỏi, phấn đấu. Thuật ngữ Benchmarking ngày nay mang ý nghĩa một tiêu chuẩn tham khảo mà các đối tượng khác có thể so sánh được. Benchmarking không phải là ý tưởng mới, nhưng nó đã trở thành một trong những công cụ quản lý chủ yếu của công tác Quản lý Chất lượng Toàn diện (TQM). Benchmarking, hay còn gọi là phép đối chuẩn, hứa hẹn  đem lại nhiều thông tin đầy giá trị cho quá trình cải tiến chất lượng nói riêng và cả toàn bộ quá trình quản lý tổ chức. Vấn đề cốt lõi của Benchmarking không phải chú trọng vào các quá trình mà đối thủ đang sử dụng trong lĩnh vực chuyên ngành mà xác định cơ hội cải tiến liên tục theo cách tiết kiệm và hiệu quả nhất.

Thuật ngữ Benchmarking khởi đầu từ những người khảo sát trắc địa: benchmark là 1 điểm chuẩn được đặt trên 1 độ cao biết trước để đo độ cao của những vật thể khác.

Ngày nay, benchmarking được áp dụng vào trong tổ chức và có ý nghĩa rộng hơn vào khoảng cuối thập niên 70: đó là quá trình xác định những điểm các tổ chức khác làm tốt hơn và làm theo những gì người ta đã làm để mình cũng có thể tốt như vậy.

Benchmarking là quá trình xác định những điểm các tổ chức khác làm tốt hơn và làm theo những gì người ta đã làm để mình cũng có thể tốt như vậy, hay đó là “1 quá trình nghiên cứu, tìm kiếm 1 cách hệ thống những thực tiễn tốt nhất, những ý tưởng tiên phong, những quy trình sản xuất tạo nên hiệu quả cao nhất dẫn đến các kết quả vượt trội”, là một quá trình liên tục quay vòng theo chu trình PDCA (Plan – kế hoạch, Do -tiến trình, Check – kiểm tra, Act – hành động). Giai đoạn lập kế hoạch tập trung vào các quyết định chọn lựa chức năng, quá trình để nghiên cứu và phương pháp sử dụng. Giai đoạn tiến hành tập trung vào việc tự nghiên cứu để xác định rõ đặc điểm các quá trình đã lựa chọn. Giai đoạn kiểm tra là việc so sánh thực trạng của công ty với kết quả nghiên cứu từ những dữ liệu của công ty lấy làm chuẩn so sánh. Đây gọi là phân tích mức chênh lệch. Những chênh lệch này có thể là chênh lệch tích cực hoặc tiêu cực. Giai đoạn hành động bắt đầu dự án làm giảm những khoảng chênh lệch “tiêu cực” hoặc duy trì những khoảng chênh lệch “tích cực”.

Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về benchmarking khác nhau, mỗi tổ chức tùy theo hoạt động của mình mà có các định nghĩa benchmarking khác nhau. Ví dụ như:

“Benchmarking là quá trình xác định, chia sẻ, vận dụng kiến thức và các phương pháp thực hành tốt nhất. Nó tập trung vào việc làm thế nào để cái tiến quá trình bằng cách vận dụng các thực hành xuất sắc nhất hơn là chỉ đơn thuần đo lường các hiệu quả. Tìm hiểu, học hỏi và áp dụng các thực tiễn tạo ra cơ hội lớn để đạt được các lợi thế trong chiến lược, hoạt động và tài chính”(APQC – American Productivity and Quality Centre, 2006)

“Benchmarking là quá trình liên tục đánh giá sản phẩm, dịch vụ thực hành dựa vào các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất hoặc so với các công ty được xem là dẫn đầu ngành” (David T. Kearn, cựu chủ tịch tập đoàn Xerox)

“Benchmarking là quá trình công ty so sánh các kết quả đạt được, sản phẩm, dịch vụ của mình với các tổ chức khác được cho là tốt nhất trong cùng lĩnh vực” (Woodmen of the World)

“Là quá trình tìm kiếm những hoạt động thực tiễn có giá trị dẫn đường cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.” (Robert C. Camp, Xerox, 1989). Camp kết hợp quá trình tìm kiếm và áp dụng vào thực tế những sáng kiến tốt nhất với việc đưa ra những lý do áp dụng chúng để cải tiến quá trình làm việc nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Năm 1994, Price thêm vào định nghĩa của Capm bằng một quá trình ‘cởi mở và kết hợp đánh giá các dịch vụ và các quá trình’ với mục tiêu ‘cạnh tranh hoặc cải tiến những những biện pháp tốt nhất đang thực hiện’.

Hãng Ford cho rằng đó là phương pháp có hệ thống nhằm học hỏi từ những công ty khác và áp dụng những kiến thức học được.

 Nhóm Benchmarking AT&T thì cho rằng đó là một quá trình liên tục đánh giá tình trạng hoạt động kinh doanh hiện tại và so sánh với các công ty hàng đầu. Việc áp dụng những kiến thức học được sẽ làm cơ sở để xây dựng chiến lược hoạt động để bắt kịp và vượt hơn những đối thủ cạnh tranh hay những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành.

 

 

 

 

Share this:

  • Facebook
  • X
Like Loading...

Related

28/06/2008 Categories: Quality Control Management . Tags:Benchmarking . Author: Đậu Đỏ

2 Comments

  1. Comment by Myra on 02/09/2017 1:29 pm

    І want t᧐ to thаnk y᧐u fоr thіѕ vеry go᧐d read!! I certainly enjoyed evey ⅼittle Ьіt ߋf іt. I have yօu book-marked to look att new tһings yoս post…

    Reply
  2. Comment by top tim kiem on 21/06/2019 10:38 pm

    An impressive share! I’ve just forwarded this onto a colleague who was conducting a little research on this. And he in fact bought me lunch because I discovered it for him… lol. So let me reword this…. Thank YOU for the meal!! But yeah, thanx for spending the time to discuss this matter here on your site.

    Reply

Comments RSS TrackBack Identifier URI

Leave a comment Cancel reply

Δ

Từ khóa » Khái Niệm Benchmarking