Luật Làm Thơ Hiện đại - Website Của Thân Thị Hoàng Oanh
Có thể bạn quan tâm
- Trang chủ
- Thành viên
- Trợ giúp
- Liên hệ
HOÀNG OANH

Đăng nhập
Tên truy nhập Mật khẩu Ghi nhớ   Quên mật khẩu ĐK thành viênBẠN ĐẾN THĂM
VISITORS
I LOVE YOU
4 khách và 0 thành viênCÁC Ý KIẾN MỚI NHẤT
TÀI NGUYÊN WEB
OẲN TÙ TÌ
EM NGÀN NĂM
ĐIỆU DÂN VŨ
Xứng danh trường Hồ Văn CườngBIỂN NHỚ

Mai em đến
Xin biển đừng êm dịu
Thôi thì thầm
giai điệu du dương…
LỜI HAY

DU LỊCH VIỆT NAM
Gốc > KINH NGHIỆM SƯ PHẠM > Về sáng tác thơ văn >Tạo bài viết mới Luật làm thơ hiện đại
Luật Bằng Trắc
Bằng là những từ có dấu huyền và không dấu. Trắc là những từ có dấu sắc, hỏi, ngã, nặng. Ký hiệu Trắc là T, bằng là B
1/THƠ LỤC BÁT
Lục bát là thể thơ thông dụng nhất, vì cách gieo vần tương đối đơn giản. Lục = sáu chữ --- chữ 2 bằng, 4 trắc, 6 bằng Bát = tám chữ --- chữ 2 bằng, 4 trắc, 6 bằng, 8 bằng x B x T x B (v1) x B x T x B (v1) x B (v2) x B x T x B (v2) x B x T x B (v2) x B (v3) Ví dụ: Câu 6: Trăm năm | trong cõi | người ta Câu 8: Chữ tài | chữ mệnh | khéo là | ghét nhau Câu 6: Trải qua | một cuộc | bể dâu Câu 8: Những điều | trông thấy | mà đau | đớn lòng (Kiều)
2/THƠ BÁT NGÔN 8 CHỮ
Bát Ngôn là thể thơ tám chữ, tức là mỗi dòng trong đoạn thơ sẽ có tám chữ. Làm thơ Bát ngôn dễ dàng hơn những thể thơ khác rất nhiều vì không bị luật thơ gò bó như những thể loại khác:
Câu đầu tiên của bài thơ thì có thể tự do mà làm, vì không phải theo khuôn khổ nào hết. Câu hai và ba thì chữ cuối của câu hai và câu ba phải theo cùng vần là trắc trắc, hoặc bằng bằng, cứ hai cặp trắc lại đến hai cặp bằng cho đến hết bài thơ. Câu cuối cùng cũng tương tự câu đầu. không cần phải vần với câu nào hết, nhưng nếu chữ cuối của câu cuối có thể vần với chữ cuối câu đầu thì sẽ hay hơn. Vì Bát ngôn không có quá gò bó, từ ngữ bạn dùng sẽ làm bài thơ trở nên hay hơn, chỉ cần uốn nắn, uyển chuyển dùng từ sẽ tạo ra một bài thơ thật hấp dẫn.
3/THƠ THẤT NGÔN 7 CHỮ
Thất ngôn đơn giản là thể thơ gồm bốn câu mỗi đoạn, và mỗi câu được mang bảy chữ, được sắp theo luật như sau: Bốn câu được chia thành hai cặp: Một cặp mang thanh x T x B x T x (trắc, bằng, trắc) Một cặp mang thanh x B x T x B x (bằng, trắc, bằng)
Thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật gồm có 4 câu, mỗi câu 7 chữ, về phối thanh hay luật bằng trắc hoàn toàn giống thơ thất ngôn bát cú. Về gieo vần thì có 3 cách: Gieo vần vào tiếng cuối các câu 1-2-4 (tiếng cuối câu 3 bắt buộc thanh trắc) Ví dụ: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son
Cách này thường được các cao nhân thời xưa xử dụng nhiều nhất. Gieo vần chéo: vào tiếng cuối các câu 1-3 (tiếng cuối các câu 2-4 phải là thanh trắc) hay các câu 2-4 (tiếng cuối các câu 1-3 phải là thanh trắc). Ví dụ: Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân
Cách này thường được Hồ Chí Minh sử dụng. Gieo vần ôm: Tiếng cuối câu 1 vần với tiếng cuối câu 4, tiếng cuối câu 2 vần với tiếng cuối câu 3. Ví dụ: Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi đi Qua những sân cung rộng hải hồ Có phải A Phòng hay Cô Tô ? Lá liễu dài như một nét mi Cách này ít người sử dụng.
Nói chung thơ này giống với thơ thất ngôn bát cú. Hai cặp này có thể đặt xen kẽ, hoặc đối xứng tùy ý, miễn sao nghe êm tai là được. Trong từng câu, những chữ mang thanh trắc bằng bắt buộc phải là các chữ 2, 4, và 6 của mỗi câu. Như vậy chữ thứ 2 và thứ 6 luôn mang cùng một thanh còn chữ thứ 4 thì ngược lại theo đúng luật thơ.
4/THƠ 6 CHỮ Luật: Ở mỗi câu thơ , chữ thứ 3 là bằng thì chữ thứ 6 là trắc , và ngược lại . Vần: +1. Vần chéo Quê hương là gì hở mẹ Mà cô giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hở mẹ Ai đi xa cũng nhớ nhiều trích : Đỗ Trung Quân +2. Vần ôm Nếu bước chân ngà có mỏi Xin em tựa sát lòng anh Ta đi vào tận rừng xanh Vớt cánh vông vàng bên suối
5/THƠ NGŨ NGÔN
Cũng giống như thơ 4 chữ, nếu chữ thứ 2 trong câu là bằng thì chữ thứ 4 là trắc và ngược lại. Cách gieo vần của thể thơ này cũng được chia làm hai loại thường được gọi là cách gieo vần ôm, và cách gieo vần tréo. Cách gieo vần ôm x B x T x (v1) x T x B x (v2) x B x T x (v2) x T x B x (v1) Cách gieo vần tréo x B x T x (v1) x T x B x (v2) x B x T x (v1) x T x B x (v2) Ví dụ: Đoạt sóc Chương Dương độ Cầm hồ Hàm Tử quan Thái bình nghi nổ lực Vạn cổ thử giang san.
6/THƠ TỨ NGÔN
Thơ tứ ngôn là loại thơ có thể gọi là đơn giản nhất bởi vì luật bằng trắc chỉ được áp dụng cho chữ thứ 2 và chữ thứ 4 trong câu mà thôi. Nếu chữ thứ 2 là bằng thì chữ thứ 4 là trắc và ngược lại nếu chữ thứ 2 là trắc thì chữ thư 4 là bằng.
Cách gieo vần của thể thơ này cũng được chia làm hai loại thường được gọi là cách gieo vần tiếp, và cách gieo vần tréo. Tuy nhiên vẫn còn một cách gieo vần nữa, cách này ít ai dùng đến, là cách gieo vần ba tiếng.
Cách gieo vần tiếp x B x T (v1) x B x T (v1) x T x B (v2) x T x B (v2) Cách gieo vần tréo x B x T (v1) x T x B (v2) x B x T (v1) x T x B (v2) Cách gieo vần ba tiếng x B x T (v1) x T x B (v1) x B x T (tự do) x T x B [v1]
THƠ TỰ DO HIỆN ĐẠI
I-Những đặc trưng nổi bật của Thơ Tự Do : 1-Về mặt hình thức : -Số chữ trong mỗi câu không hạn định : ít nhất một từ, và nhiều thì có thể trên một chục từ. -Số câu cũng không hạn định, và không chia ra thành khổ 4 câu như cũ nữa -Không có những khái niệm về Niêm , Luật, Đối . -Về Vần : cũng không có một luật lệ cố định nào. Nói chung là vần muốn gieo ở đâu cũng được cả.
2-Về mặt nội dung : -Thường có nhiều âm thanh, hình tượng, màu sắc đa dạng và phong phú, biểu thị bởi những cách dùng từ hết sức mới lạ, mang tính cách tân, không hàm chứa những hình ảnh cũ kỹ sáo mòn, như trăng vàng, hồ thu, giọt sầu, Tương giang, Dịch thuỷ ....nữa. Thậm chí những từ chỉ các cơ quan sinh dục, các bộ phận thân thể nhạy cảm của cả nam lẫn nữ, những vật thể bình thường hay tầm thường của cuộc đời (gốc cây, hòn sỏi,....), những sinh vật bé bỏng, li ti, gớm ghiếc (theo quan điểm cũ) như ruồi, nhện gián, nhặng .... cũng thấy sử dụng, miêu tả thường xuyên
-Thường có những khái niệm trừu tượng, siêu thực , hoang tưởng, phi vật thể, đôi khi quái dị, đan xen vào nhau thay thế cho những hình tượng cụ thể quen thuộc cũ -Lời kết đôi khi, hoặc thường khi được bỏ ngỏ, không tròn trịa, có đầu có đuôi như thơ cũ. Để tuỳ người đọc muốn kết luận ra sao thì ra, hoặc hình dung tiếp theo hướng nào cũng được cả.
-Ý thơ thì hết sức đa dạng, không gò gẫm trong bất cứ một khuôn khổ nào, một cách phối trí cố định nào. Nhưng đa phần đều đề cập đến những vấn đề cốt lõi của nhân sinh, của kiếp người. Cũng vẫn trăn trở đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi muôn thuở : Người là ai ? Từ đâu đến ? Sẽ về đâu ? Sống ở đời này để làm gì ? Cõi cực lạc, an bình ở chốn nào ? Đi đường nào để tìm về những cội nguồn hoan lạc ấy ? Người cư xử với người như thế nào cho phải cách ? Quan hệ giữa vô biên và bản ngã là thứ quan hệ gì ? Có hay không có mối quan hệ ấy ? Và thật ra thì có vô biên hay không ? v.v.... Những chủ đề cao siêu như vậy, cách thể hiện lại khác thường, nên Thơ Tự Do thường được hiểu một cách đơn giản và sai lầm như là một loại thơ rối rắm, tối nghĩa, khó tiếp thu, khó nhận thức, khó cảm thụ, khó đọc, và khó nhớ. Thật ra thì không phải như vậy !
II-Thơ Tự Do dễ viết hay khó viết ? Từ những đặc trưng của thể loại Thơ Tự Do nêu trên , có thể rút ra được một số kết luận như sau :
1-Một là, Thơ Tự Do rất dễ viết : Thậm chí dễ viết đến nỗi ai viết cũng được, chỉ cần là tay ngang, amateur, tài tử, nghiệp dư cũng viết được Thơ Tự Do một cách dễ dàng Có nhiều nhà thơ nghiệp dư, mỗi ngày có thể sáng tác được hàng chục, thậm chí hàng vài chục bài thơ tự do (!), một cách vô cùng thoải mái, mà khỏi cần mất công học hỏi Thi Pháp, vần luật, tiết tấu gì hết (!). Chỉ cần mỗi một điều là có hứng, là cao hứng, nghĩ một đề tài nào đấy, và cứ để xuôi dòng tư tưởng, mạnh tay phóng bút. Viết xong cũng chẳng cần phải mất công gọt giũa bao giờ (!) Tóm lại : Thơ Tự Do rất dễ viết. Nhưng cũng chính vì sự dễ dàng ấy mà thường là người viết chỉ cho ra những sản phẩm loại hai, loại ba, hoặc sản phẩm dạng thô mà thôi. Hiếm khi thấy được một bài Thơ Tự Do đạt tính biểu cảm cao độ, và cũng hiếm khi thấy được những bài Thơ Tự Do hoàn chỉnh. Hiếm, nghĩa là vẫn có, nhưng hoạ hoằn lắm mới có vậy.
2-Hai là, viết Thơ Tự Do cho hay là rất khó : thậm chí vô cùng khó. Tại sao ? Thật không dễ trả lời câu hỏi này, cũng không dễ trình bày khái niệm này để ai cũng có thể quán triệt xuyên suốt, nhưng có thể tóm tắt gọn gàng như sau : Thơ Tự Do là thành tựu của thi ca hiện đại, là hội tụ của tất cả những gì cổ điển và cổ điển nhất, từ đó mà đưa đến những cách tân, vượt ra ngoài mọi thủ tục, mọi trình tự, mọi lề luật. Do đó, Thơ Tự Do là đỉnh cao thâm nghiêm nhất, vòi vọi nhất, mà người viết muốn viết thành công, không thể không hao tổn công phu, khó nhọc vậy Người xưa nói :”Nghề chơi cũng lắm công phu”. Không thể có cái gì ít tốn công sức mà lại đạt thành tựu to lớn một cách dễ dàng được cả. Có thể dùng một số hình ảnh thí dụ để dễ so sánh, dễ hiểu hơn như sau : Theo ngôn ngữ kiếm hiệp của KIM DUNG, nếu ai có đọc Tiếu Ngạo Giang Hồ, sẽ thấy Kim Dung đưa ra quan điểm “Vô chiêu thắng hữu chiêu”. Trong đó, ông lập luận rằng :
-Cấp 1 : Những người không biết gì về võ nghệ, khi đánh nhau chỉ có thể đạt mức đánh ... võ rừng, nghĩa là đánh ... loạn xạ, không đâu ra đâu cả, và tất nhiên là hiệu quả sẽ không cao.
-Cấp 2 : Đối với những người đã dày công học tập, rèn luyện võ nghệ, thì mỗi khi ra đòn đều đúng theo chiêu thức, phương pháp. Tất nhiên hiệu quả đạt được sẽ cao hơn gấp bội.
-Cấp 3 : Ở trình độ võ nghệ thượng thừa, sau khi trang bị trong mình đủ các loại võ công, bí kíp, người ra đòn lại đánh theo kiểu “vô chiêu”, nghĩa là chẳng cần chiêu thức nào hết, nhưng mỗi khi vung tay cất chân, đều tự nhiên theo đúng phép tắc tinh luyện, những đòn đánh thì cứ như thể là mây trôi nước chảy vậy. Tất nhiên hiệu quả của “vô chiêu” hơn hẳn “hữu chiêu”.
Đem khái niệm này áp dụng vào Thi ca có thể hiểu được dễ dàng :
-Người không biết gì về Thi Pháp, Vần Luật, Tiết Tấu giống như người không biết võ, khi làm thơ (bất luận thơ gì) sẽ chỉ đạt hiệu quả của nhóm cấp1. -Những người làm thơ cổ , thơ Lục bát, thơ Đường, thơ Mới , đều phải học tập và nắm vững những quy luật về Thi Pháp, Vần Luật, Tiết Tấu của mỗi loại thơ. Có thể coi như nhóm cấp 2. -Còn những người sau khi hiểu rõ các quy luật nói trên, quay trở lại làm Thơ Tự Do, chẳng khác nào những võ sư cao thủ sử dụng vô chiêu vậy. Hiệu quả sẽ rất ghê gớm. Đó là nhóm cấp 3 vậy.
Vì vậy, Thơ Tự Do tiếng rằng tự do, không theo quy luật nào cả, nhưng lại là loại thơ khó nhất, dễ viết thật, nhưng viết cho hay lại là ... khó nhất. Và đương nhiên, đây không phải là thể loại dành cho những người mới nhập môn như thường được dân gian hiểu lầm. Có thể nói, chỉ những ai lăn lộn với Thi Ca lâu ngày chầy tháng, mới hy vọng có thành tựu với Thơ Tự Do mà thôi.
III-Một bài “Thơ Tự Do hay” đòi hỏi những gì ? 1-Phải tinh gọn : -Không được thừa những gì “dư thừa”, tuyệt đối tránh những từ “thì, và, là, mà, cũng, vẫn, để, nhưng, vì, vì thế, dù, dẫu ....v.v.....” -Không được trùng lặp về cả từ lẫn ý ( Xin lưu ý là Điệp Ngữ là một thủ thuật Mỹ từ pháp như ánh sao trên trời, còn Trùng lặp chỉ là một cách diễn đạt tầm thường , như chân vịt trên mặt bùn vậy : Cả hai thứ “sao trên trời” và “chân vịt trên mặt bùn” đều có 5 cánh, nhưng khác nhau nhiều, nhiều lắm !!!) -Không sử dụng những từ “lạc lõng” trong một tổng thể thống nhất.
2-Phải phong phú : -Không được thiếu những thứ không thể thiếu : hình ảnh, âm thanh, màu sắc, ẩn dụ, dẫn suy v.v....
Nhắn tin cho tác giả Thân Thị Hoàng Oanh @ 18:11 29/04/2017 Số lượt xem: 5845 Số lượt thích: 1 người (Thân Thị Hoàng Oanh)Làm thơ hiện đại
Thân Thị Hoàng Oanh @ 15h:55p 29/04/17   ↓ ↓ Gửi ý kiến- Bí kíp văn chương (27/02/17)
- ĐÔI ĐIỀU VỀ "THƠ HAY" (17/02/17)
- Tại sao thơ …? (07/02/17)
- Cuộc trò chuyện giữa một thầy giáo và một học sinh (20/01/17)
- Định nghĩa về thơ của những cây bút thơ (16/10/16)
Từ khóa » Tiểu Luận Về Cách Gieo Vần Trong Thơ Hiện đại
-
Tiểu Luận Cách Gieo Vần Trong Thơ Hiện Đại
-
ết Tiểu Luận Về Cách Gieo Vần Trong Thơ Hiện Đại Từ Năm 2000 ...
-
Vần Và Nhịp Trong Thơ Việt Nam đương đại - Tài Liệu Text - 123doc
-
Kỹ Thuật Thơ Việt Nam Hiện đại Và Tiêu Chuẩn đánh Giá Một Bài Thơ
-
[PDF] Vần, Nhịp Và Phương Thức Tạo Nghĩa Trong Thơ - VNU
-
Tiểu Luận - Phê Bình - Lục Bát Tuổi Vàng
-
Nhịp điệu Trong Thơ Tự Do Của Mai Văn Phấn (Khóa Luận Tốt Nghiệp ...
-
Luận án Ngôn Ngữ Học Lục Bát Và Ngôn Ngữ Thơ Lục Bát đồng đức Bốn
-
Đặc điểm Ngôn Ngữ Thơ Mai Văn Phấn (Luận Văn Thạc Sĩ) – Phan Thị ...
-
Tiếp Nhận Truyện Kiều Dưới Góc Nhìn “Thi Trung Hữu Nhạc” 1
-
Từ đồng Dao đến Thơ Hiện đại: Trường Hợp Trần Dần
-
Cách Làm Thơ Hiện đại
-
Nghệ Thuật Gieo Vần Trong Ca Dao - Dân Ca Xứ Nghệ - TailieuXANH
-
Sự Vận động Thể Loại Của Luật Tuyệt Trong Tiến Trình Thơ Trung đại ...