Tiểu Luận - Phê Bình - Lục Bát Tuổi Vàng
Có thể bạn quan tâm
| Lục bát tuổi vàng |
|
May 02nd, 20155/2/2015 0 Comments Phần mở đầu: THƠ LÀ GÌ? Phàm là người làm thơ thì ai cũng cần phải hiểu biết thơ là gì? Những đặc điểm của thơ là gì? Làm thơ Lục Bát thì phải biết thơ Lục Bát có những luật gì? Có những thủ pháp để làm một bài thơ Lục Bát hay? Những lỗi thường thấy trong thơ Lục Bát? Chúng ta sẽ lần lượt giải quyết các câu hỏi này! Vậy Thơ là gì? Thực ra có không ít người làm thơ nhưng khi hỏi thơ là gì thì lại chẳng biết trả lời ra sao Trả lời câu hỏi này không đơn giản! bản thân tôi cũng đã phải tìm mãi mới ra được câu trả lời thích đáng. Tra trong từ điển giải thích tiếng Việt thấy viết: Thơ là thể loại văn vần. nói thế thì đơn giản quá! Hỏi các thi hữu thì một số người giải thích như từ điển, một số người còn không để ý thơ là gì, Có thi hữu còn suýt đánh tôi vì tưởng tôi “hỏi đểu”. Mầy mò mấy tháng trời, đến khi gặp cuốn TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ VĂN HỌC tôi mới tìm được câu trả lời và giải thích xác đáng. Nhân đây tôi lưu ý thi huynh nên tìm mua quyển này, nó sẽ giúp ích rất nhiều cho thi huynh trong làm thơ.Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc, giầu hình ảnh và nhất là có vần điệu”Phân tích định nghĩa trên thì thơ có 3 đặc trưng cơ bản : * Đặc trưng thứ nhất là có vần điệu * Đặc trưng thứ hai là ngôn ngữ hàm xúc * Đặc trưng thứ ba là giầu hình ảnh. Ta hãy lần lượt đi sâu vào từng đặc trưng cơ bản của thơ Phần thứ nhất: THI NHẠC Trong 3 đặc điểm cơ bản của thơ thì đặc điểm thứ nhất chính là nói tới Thi nhạc Tính nhạc trong thơ còn gọi là Thi nhạc. Thi nhạc và âm nhạc có gì giống và khác nhau? Âm nhạc là hình thức nghệ thuật dùng âm thanh làm phương tiện diễn đạt tư tưởng và tình cảm. Những âm thanh này được phát ra từ những nhạc cụ thông qua bàn tay điêu luyện của nhạc công tạo ra những âm thanh có cung bậc khác nhau khi trầm, khi bổng, khi ngân nga dài ngắn… Thi nhạc là nhạc cảm, xuất phát từ tâm hồn của nhà thơ. Những cung bậc trong thơ là cung bậc cảm xúc của lòng người, nó được thoát ra từ thanh, vần, điệu của ngôn ngữ. Có thể nói: Thanh, vần, điệu là những dụng cụ để hòa tấu nhạc trong thơ. Cảm thụ thi nhạc còn trìu tượng và khó hơn cảm thụ âm nhạc. Cảm thụ thi nhạc phải cảm thụ bằng lòng, bằng hồn chứ không phải bằng tai. Nếu các bạn đọc một bài thơ mà thấy hồn mình hòa vào hồn của bài thơ thì bạn sẽ cảm thấy cái tuyệt vời của thơ Thi nhạc được tạo bởi 3 yếu tố chính là: Thanh, vần và điệu. Ta sẽ đi lần lượt vào từng yếu tố. 1 -THANH Thanh là gì? Thanh là cung bậc của âm! Vậy là ta phải bắt đầu từ âm rồi. rắc rối quá nhỉ? Nhưng nếu ta không quan tâm đến âm thì sao hiểu được cội nguồn của thanh và vần Vậy âm là gì? Âm có âm tiếng và âm tiết Âm tiếng là cái mà tai có thể nghe được. Âm tiết là những chữ cái. Tiếng việt có 23 chữ cái, được chia làm 2 nhóm nguyên âm và phụ âm Nhóm nguyên âm gồm có 6 chữ cái: A,E,I,O,U, Y Nhóm phụ âm có 18 chữ cái: B,C,D,Đ,G,H.K.L.M.N.P,Q,R,S,T,V,X Ngoài ra còn các nguyên âm dấu: Ă,Â,Ô.Ơ.Ê,Ư Và các phụ âm ghép: NG, NGH, NH, KH, CH, TR, GI, PH… Trong các phụ âm, có những phụ âm chỉ đứng ở đầu chữ. Có những phụ âm có thể đứng ở đầu chữ, có thể đứng ở cuối chữ, được gọi là nhóm phụ âm cuối. Nhóm phụ âm cuối lại được chia làm 2 nhóm: * Nhóm phụ âm cuối vang : m, n, ng, nh * Nhóm phụ âm cuối tắc : p, t, c, ch Âm được phát ra nhờ cơ quan phát âm là miệng. Cơ quan miệng được tạo bởi các bộ phận là họng, lưỡi, môi và răng. Âm chịu ảnh hưởng khi thì bộ phận này nhiều hơn bộ phận kia, khi thì bộ phận kia nhiều hơn bộ phận này. Âm tiếng là một tổ hợp gồm một hay nhiều nguyên âm kết hợp với một hay nhiều phụ âm tạo thành 1 chữ. (Một âm tiết đứng riêng trong câu cũng là một chữ). Chữ được phát ra từ miệng thành một âm. Nghĩa là mỗi âm được biểu diễn bằng một chữÂm là tiếng gốc, giọng bằng phẳng, không lên cao, không xuống thấp, không dài, cũng không ngắn. ví dụ: Can, Cang, Cung … Khi Âm cộng thêm một dấu thì trở thành Thanh. Ví dụ: - Can, Càn, Cán, Cạn, Cản, Cãn - Cang, Càng, Cáng, Cạng, Cản, Cãn - Cung, Cùng, Cúng, Cụng, Củng, Cũng… Nhìn vào mặt chữ, Âm không có dấu nên khi phát ra cung bậc không cao , thấp, không ngân dài hay ngắn. Khi âm có thêm dấu thì âm lên, xuống, cao, thấp, dài, ngắn khác nhau. Vậy Thanh là cung bậc của Âm Trong tiếng Việt có 6 dấu là Huyền, Sắc, Nặng, Hỏi, Ngã và Thanh Không (Âm không có dấu được coi là Thanh Không) Chính vì vậy nói Âm và Thanh tuy hai mà là một, một mà là hai. Nói như vậy để khi nào dùng đến Thanh thì ta lấy 6 dấu đễ phân biệt thanh độ, khi nào dùng đến âm thì ta lấy mẫu tự đầu để phân biệt cùng gốc với tiếng kia hay không Ví dụ:Hoa, hông, han…hòa, hồng, hàn… hội, họp … là những tiếng có thanh độ khác nhau nhưng đồng âm với nhau vì chúng từ một gốc là chữ H Trong tiếng Việt,Thanh được chia làm hai nhóm: Thanh bằng và thanh trắc Thanh bằng là thanh mang dấu Không và dấu Huyền Thanh Trắc là thanh mang những dấu: Sắc, Nặng, Hỏi, Ngã Thanh rất quan trọng trong thi nhạc. Thể loại thơ nào cũng có thanh luật riêng (kể cả thơ tự do) Ví dụ: Thơ Lục Bát có có những thanh luật sau: - Chữ thứ 2, 6 và 8 ở các câu phải là thanh bằng - Chữ thứ 4 trong các câu phải là thanh trắc - Chữ thứ 6 và chữ thứ 8 trong câu bát, nếu chữ này mang dấu không thì chữ kia phải mang dấu huyền hoặc ngược lại. Nói về âm và thanh ta nên chú ý thanh ngân, vang của từng chữ. Thanh độ ngoài phụ thuộc vào các dấu còn chịu ảnh hưởng của phụ âm cuối Cụ thể: - Thanh không dấu đoản hơn thanh có dấu huyền - Âm không có phụ âm vang ngắn hơn có phụ âm vang - Âm có phụ âm N ngắn hơn âm có phụ âm NG và NH - Âm có phụ âm tắc ngắn hơn âm không có phụ âm Khi làm thơ ta cũng nên chú ý phân bố trong câu càng nhiều thanh càng hay. Thanh tôi muốn nói ở đây là các dấu. Ví dụ thơ Lục bát, trong câu Bát, chữ thứ nhất, tam, tứ, ngũ, thất có thể là thanh trắc thì ta phân bố càng đầy đủ các dấu sắc , nặng, hỏi, ngã thì câu thơ sẽ mang đầy đủ các cung bậc cao thấp, ngân nga của âm Nói về Âm và Thanh đến đây thì chưa hết, mới chỉ là đôi điều cần biết nhất nhưng cũng gọi là tạm đủ để làm thơ. Bây giờ ta chuyển sang Vần 2 - VẦN VÀ VẬN Như đã nói: Thanh, vần (Vận) và điệu là 3 yếu tố tạo nên thi nhạc. trong 3 yếu tố ấy thì vần (vận) là yếu tố quan trọng nhất và là yếu tố làm cho thơ khác văn. Văn không vần(vận) gọi là Tản văn. Văn có vần (Vận) người Trung Quốc gọi là Vận văn, Việt Nam ta gọi là Văn vần, là Thơ. Vần và vận là hai khái niệm. Tuy hai mà là một, một mà là hai. Vì hai khái niệm có giống và có khác nhau. Nói là “ Hai mà là một” vì vần và vận có cùng một sứ mệnh là được dùng để làm thơ Nói là “Một mà là hai” vì Vần là là con đẻ của ngôn ngữ việt, còn vận là con đẻ của ngôn ngữ Hán. VẬN Vận là khái niệm của người Trung Quốc. Chữ Hán không có vần! Người Trung Quốc xưa nay dùng vận để làm thơ cũng như người Việt dùng vần để gieo vần cho thơ vậy. Người Trung Quốc khái niệm Vận như sau: Vận là những tiếng đồng âm với nhau hoặc nghe na ná như nhau. Những tiếng đồng âm với nhau được gọi là vận chính Những tiếng nghe na ná như nhau gọi là vận thông Khi làm thơ, người ta ưu tiên dùng vận chính, trường hợp bất khả kháng mới dùng vận thông. Khi dùng vận thông thì ưu tiên dùng vận càng gần càng hay, vì khi đọc lên càng na ná Nhưng thế nào là na ná thì lại là cả một vấn đề. Nghe na ná thì có phần trừu tượng quá. Chẳng khác gì hỏi một người đẹp : Nhà cô ở đâu, cô đỏng đảnh đáp: Nhà tôi nóc chổng lên trời, cổng nhìn ra đường. Đi tìm được nhà cô ấy tất phải mất nhiều công sức, thì giờ mà khó tránh được lầm đường lạc lối. Hoặc trong một câu thơ người thì nói vận thế này là được, người thì bảo vận như thế nghe không, na ná thế là tranh luận, bàn cãi, có khi chì triết, mất mặt nhau vì Vận. Tôi đã chứng kiến những học giả tranh luận nhau về vần ao và iu trong bài Thu Vịnh của Nguyễn Khuyến: Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu Nhiều người cho rằng vần như thế đọc lên không những không na ná mà nghe chói cả tai. Không ít người cho rằng bậc thầy như Nguyễn Khuyến thì gieo vần không thể sai. Để giúp người làm thơ khỏi lạc đường, tới đích nhanh chóng và đỡ cãi vã, các học giả Trung Hoa đã soạn ra những sách Quan Vận. Đời Tùy có sách Thiết Vận. Đời Đường có sách Đường Vận, Quảng Vận. Đời Tống có sách Lễ Bộ Vận Lược. Đời Nguyên có sách Trung Nguyên Âm Vận. Đời Thanh có sách Bội Văn Vận Phủ. Sách Quan Vận được các triều đình dùng làm chuẩn tắc cho thi vận trong việc khảo thí. Để khỏi bị lạc vận, người làm thơ thường có sách Quan Vận bên mình, khi cần thì mở ra tra cứu. Các cụ nhà ta ngày xưa làm thơ bằng chữ Hán và chữ Nôm, nhưng chủ yếu vẫn là chữ Hán. Thi cử trong các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều dùng chữ Hán. Chữ Hán, Chữ nôm đều là chữ tượng hình, cứ nhìn mặt chữ là đọc chứ không có vần như chữ Quốc Ngữ ngày nay. Thơ nôm xuất hiện vào đời Trần, nhưng trên 700 năm, đến nay vẫn chưa có một quyển sách nghiên cứu về thi vận. Các cụ làm thơ chữ Hán hay chữ Nôm đều dựa vào Thư Vận của Trung Hoa. Đối với các cụ, làm thơ nôm chỉ là một món tiêu khiển trong chốc lát, không được đem ra thi thố nên vần có chỉnh hay không các cụ không quan tâm một cách thích đáng. Do đó có ngững bài thơ rất hay nhưng đôi vần khi đọc lên nghe vẫn không na ná. Như một số cặp thơ sau: Lác đác rừng phong hạt móc sa Ngàn Vu hiu hắt khí thu mờ… Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa Người đồng châu trước biết bao xa… Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu… Các cụ làm thơ thì theo cách thức của người Trung Quốc, tức là dựa vào thư vận của Trung Quốc. Còn những nhà thơ mới của chúng ta làm thơ tiếng việt thì dựa vào các thi phẩm của các cụ lưu truyền lại, rồi người đi trước rước người đi sau, ban đầu thì dùng vận, sau thì dùng vầnBởi chữ Hán và chữ nôm không có Vần nên dùng Vận để làm thơ. Tiếng Việt có Vần nên dùng Vần để làm thơ. Thật may mắn cho chúng ta là dùng Vần làm thơ dễ hơn dùng Vận nhiếu. Vì cứ nhìn vào mặt chữ ta thấy ngay chữ này cùng Vần với chữ kia, cùng Vần Chính hay là Vần Thông. Những Vần chính khi đọc lên, âm giống nhau. Những Vần Thông khi đọc lên nghe. Mức độ “na ná” phụ thuộc vào các âm tiết trong Vần. Hai vần có càng nhiều âm tiết giống nhau thì âm phát ra tất nghe càng “na ná” mà không cần đọc lên rồi lắng tai nghe xem hai tiếng có “na ná” hay không.Đôi khi các nhà thơ của chúng ta khi bí vần lại giở chiêu dùng vận học ở các cụ ra gieo vần làm thơ. Có lẽ chính vì vậy ngày nay các học giả, các nhà thơ khi thì dùng từ Vần khi thì dùng từ Vận, không phân biệt, miễn là dùng để gieo vần thì gọi là Vần cũng được, gọi là Vận cũng được. theo tôi như thế là chưa chính xác. Vì có những chữ không cùng Vần với nhau mà khi đọc lên nghe cũng “na ná”, tức là chúng là những Vận Thông mặc dù mức độ “na ná “” không bằng Vần Thông. Ví dụ như: Anh và Inh: Ông, Ong và Ung. Như nhà thơ Quách Tấn, tác giả cuốn Thi Pháp Thơ Đường viết: “Không thể đem Vận ra áp dụng để tìm Vần”(trang 58) Tóm lại: Vần và Vận là những thuật ngữ văn học thuộc hai nền ngôn ngữ khác nhau. Vận là khái niệm của người Trung Hoa, được xác lập qua ngôn ngữ âm thanh. (Những tiếng nghe giống hoặc na ná thì cùng Vận). Còn Vần là khái niệm của người Việt, được xác lập qua chữ viết. Vì ngôn ngữ Việt và ngôn ngữ Hán là ngôn ngữ độc âm (mỗi chữ viết ra đọc lên thành một tiếng) và có nhiều điểm tương đồng khác nên Vần và Vận cũng có nhiều điểm tương đồng, có những không tương đồng. Chúng đều được sinh ra để làm thơ. Trên tôi đã nói về Vận. Mặc dù chưa nhiều nhưng cũng đủ để ai muốn biết những gì cần biết về Vận. Giờ tôi xin chuyển sang Vần VẦN. Vần là gì? Trong văn học “Vần” là thuật ngữ ! Cuốn từ điển giải thích thuật ngữ văn học định nghĩa: Vần là một phương tiện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở các vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ. Ví dụ: Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng… (Kiều – Nguyễn Du) Giọt mưa thu dạ khách đầy vơi Nhắn ai góc biển chân trời… (Tản Đà) Trong thơ, Vần thực hiện ba chức năng: 1 – Tách biệt các dòng thơ và tạo sự liên kết giữa các dòng 2 – Tạo âm hưởng, tiếng vang trong thơ 3 – Tạo tâm thế “đợi chờ vần” đối với các tiếng xuất hiện sau đó ở vị trí nhất định nhằm làm nổi bật ý nghĩa của từ hiệp vần Các chữ gieo và hiệp vần Vần thơ chủ yếu giống nhau ở Vần Cái (còn gọi là Khuôn Vần), khác nhau ở phụ âm đầu Phân biệt theo vị trí gieo vần, vần được chia làm hai loại: Vần chân và vần lưng *Vần chân (còn gọi là cước vận) là vần được gieo vào cuối dòng, có tác dụng đánh dấu sự kết thúc một dòng thơ và tạo sự liên kết giữa các dòng thơ. Vần chân là hình thức gieo vần phổ biến nhất trong thơ ca, từ cổ đến kim, từ Âu sang Á đều dùng cách gieo vần này. Phương pháp gieo vần chân cũng rất đa dạng: gieo cách vần; gieo liên vần, gieo hỗn hợp… Gieo cách vần là gieo cứ cách một dòng lại gieo một vần như trong thơ Đường luật: Buồn bực thay Tre nép dưới tường Kẻ chen, kẻ lấn thật thê thương Nhà cao ngất ngưởng che hình bóng Cỏ dại tùm lum mọc lấn vườn Đắc chí tiểu nhân cười khả ố Lỡ thời Hảo Việt chí còn cương Sử xanh mãi mãi còn ghi lại Nổi tiếng một thời khắp bốn phương (Cây Tre cảm tác – NTH) Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu (Đất nước – Nguyễn Đình Thi) Gieo liên song vần là gieo vần liền nhau tưng cặp: Đơn bóng lẽ bao năm dài cách biệt Niềm thầm kín xót xa ai có biết Tình trái ngang đè nặng nổi thương tâm Cố nhân ơi... lạnh lẽo bước thăng trầm .... Gieo vần hỗn hợp là trong một bài thơ, khi thì gieo liên vần, khi thì gieo cách vần thường được dùng làm trong thơ tự do • Vần lưng (còn gọi là vần yêu) là vần được gieo ở giữa dòng thơ. Ngay từ thủa ban đầu, khi sáng tạo ra những câu tục ngữ, ca dao, người Việt ta đã dùng vần lưng để gieo vần. Vần lưng, hình thức cũng rất đa dạng và phong phú, như: Vần lưng và sát nhau; Vần lưng cách nhau 1,2,3,4…chữ. ví dụ: * Vần lưng và sát nhau: o Bút sa, gà chết o Có tật, giật mình o Cơm treo, mèo nhịn đói o Một câu nhịn, chín câu lành o Khôn cho người ta rái Dại cho người ta thương * Vần lưng cách nhau một chữ: o May tay hơn hay thuốc o Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con o Cơn mưa đằng đông Vừa trông vừa chạy Cơn mưa đằng tây Vừa cày vừa ăn *Vần lưng cách nhau hai chữ o tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão o Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm * Vần lưng cách nhau ba chữ: - Càng thắm thì càng mau phai Thoang thoảng hoa nhài thì lại thơm lâu - con có lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng con khóc nỉ non *Vần lưng cách nhau bốn chữ, năm chữ: Mưa mưa mãi ngoài hiên rơi tí tách Giọt mưa thu dạ khách đầy vơi Nhắn ai góc biển chân trời Nghe mưa ai có nhớ lời nước non (Tản Đà) Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào. (Nguyễn Bính – Tương tư) Vần lưng là một hiện tượng đặc sắc của vần luật Việt Nam, tạo nên tính chất giầu nhạc điệu của câu thơ và tiếng Việt Về mặt cấu trúc ngôn ngữ. Vần được định nghĩa như sau:“Vần là một nhóm gồm 1 hay 2 nguyên âm kết hợp với 1 hay 2 phụ âm tạo thành. Tự nó có thể thành một chữ, hay phải có một hoặc 2 phụ âm đứng trước nó mới tạo thành chữ”. Ví dụ: Oang là một vần, khi đi với chữ H thành chữ Hoang (Tan hoang) Oan là một vần, khi di với chữ Kh thành chữ Khoan (Mũi khoan) Nguyên Âm A là một vần khi đi với chữ L thành chữ La (na ná), khi đứng một mình trong câu là chữ A (A ha) Nhóm nguyên âm OA đi với phụ âm H thành chữ Hoa (Bông hoa) khi đứng một mình là chữ Oa (Khóc oa oa) Chú ý: 1) Khi một vần có thêm một dấu thì thành vần khác. Ví dụ: Vần A khác vần À; Vần Oa khác vần Òa; Vần Oan khác vần Oàn; Vần Oang khác vần Oàng… 2) Những nguyên âm dấu mặc dù cùng xuất phát từ một nguyên âm gốc nhưng chúng là những nguyên âm riêng biệt, khi kết hợp với cùng một phụ âm thì tạo nên các vần hoặc chữ khác nhau. Ví dụ: A; Ă; Â là 3 nguyên âm khác nhau. An; Ăn; Ân là 3 vần khác nhau. Chúng là những vần thông không phải vần chính 3) Nguyên âm đóng vai trò chính trong vần. Không có nguyên âm thì không thành vần. Trong những vần có hai hay nhiều nguyên âm: - Nếu không có dấu thì sự hòa âm của hai nguyên âm là như nhau. Ví dụ: các vần oa và oan, oang sự hòa âm của hai nguyên âm của âm o và âm a là như nhau - Nếu có dấu thì sự hòa âm của hai nguyên âm là khác nhau, trọng âm rơi vào âm có dấu. khi đọc nguyên âm nào có dấu dược nhấn mạnh hơn. Ví dụ: trong chữ Hòa âm O được nhấn mạnh hơn âm A. Chữ Huề âm Ê được nhấn mạnh hơn âm U Dựa vào thanh độ, vần được chia làm hai loại: Vần Bằng và Vần Trắc Vần Bằng là Những vần mang dấu huyền và không dấu. Vần bằng thể hiện thanh độ dài ngắn của âm: ví dụ: Vần Oàng ngân dài hơn vần Oang Vần Trắc là Những vần mang dấu: sắc, nặng, hỏi, ngã. Vần trắc thể hiện thanh độ cao thấp của âm theo thứ tự: Sắc – Hỏi - Ngã – Nặng Dựa vào mức độ hòa âm, vần lại chia ra làm 2 loại: Vần Chính và Vần Thông Vần Chính là sự phối âm ở mức độ cao giữa các tiếng được gieo vần, trong đó bộ phận vần cái (kể từ nguyên âm chính đến cuối âm tiết) hoàn toàn giống nhau. Nên khi âm phát ra nghe giống nhau Nói một cách khác, những vần nào có cùng vần cái và đồng thanh với nhau thì đồng 1 bộ vần. Bộ vần ấy được gọi là Vần Chính. Ví dụ: Ai về thăm mẹ quê ta Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm Bầm ơi có rét không bầm Heo heo gió núi lâm thâm mưa phùn (Tố Hữu – Bầm ơi) Ta và Xa đương nhiên là cùng vần chính. Bầm và thâm cũng cùng vần chính vì có cùng vần cái và đồng thanh Như vậy mỗi một vần bằng chỉ có 2 vần chính, một vần trắc có 4 vần chính Ví dụ: vần oang và vần oàng là hai vần chính và thuộc vần bộ vần bằng. Vần Oáng, vần oảng, vần oãng, vần oạng là các vần chính thuộc bộ vần trắc. Vần thông là vần được tạo nên bởi sự hòa phối âm thanh giữa các tiếng được gieo vần, trong đó bộ phận vần cái (kể từ nguyên âm chính đến cuối âm tiết) không được lặp lại hoàn toàn mà có thể khác nhau chút ít. Nên khi âm phát ra nghe na ná Nói một cách cụ thể, nhìn vào mặt chữ, vần thông là những vần không đầy đủ so với vần cái, tức là nó có thể thiếu 1 hoặc 2 âm tiết, vì vậy khi đọc nghe nó na ná. Ví dụ: Trong chữ Hoàng, Oàng là Vần Cái. Các vần Oan, Oàn, Oa, Òa, An, Àn, Ong, Òng, On, Òn, Ang, Àng đều là những vần thông. Tuy nhiên mức độ hòa âm của các vần trên so với vần Oàng là khác nhau. Tức là khi đọc lên tuy nghe na ná nhưng mức độ na ná khác nhau. Những vần nào thiếu ít âm tiết hơn thì vần ấy gần Vần Cái hơn. GHI CHÚ: Tương tự, cố giáo sư Trần Cảnh Hảo đề xướng ra phép dùng khuôn và các đấu để biết những tiếng nào cùng bộ vần với nhau như sau: Trước tiên ông đưa ra khái niệm KHUÔN là gì? Khuông là một nhóm chữ do 1 hay 2 nguyên âm kết hợp với 1 hay 2 phụ âm tạo thành vần, tự nó có thể thành một chữ hay có 1 hay 2 phụ âm mới thành một chữ. Ví dụ: trong các chữ Ban, Kinh, Cương, Luôn… thì An, Inh, ƯƠng, Uôn… là Khuôn Những chữ nào đồng khuôn và đồng thanh với nhau là đồng một bộ vần. ví dụ: Ban, Bàn, Bản, Bãn, Bán, Bạn là những tiếng đồng khuôn. Ban và Bàn đồng một bộ vần và thuộc loại vần bằng. Còn Bán, Bản, Bãn, Bạn đồng một bộ vần với nhau và thuộc loại vần trắc Vần chính là những vần đồng khuôn Vần thông là những vần “Đồng khuôn dị bản” Những vần “Đồng khuôn dị bản” là những vần có cùng một khuôn nhưng thiếu 1 hoặc 2 âm tiết. ví dụ: Vần Uông và vần Uôn, vần Ông. Vần Uôn khác vần Uông ở chỗ thiếu chữ . vần Ông khác với vần Uông ở chỗ thiếu chữ U.Vậy khuôn Uôn và khuôn Ông là dị bản của khuôn Uông Ngoài những vần chính, vần thông khi đọc lên nghe giống hoặc na ná thì còn có những vần khác tuy không cùng vần nhưng đọc lên nghe cũng na ná. Người ta gọi đó là những vần gần giống. Trong làm thơ, những vần này khi hiệp với vần gieo thì mức độ hòa âm không thể bằng được vần chính hoặc vần thông. Ví dụ: Vần anh và vần inh, vần ung và vần ông, ong. Trường hợp hòa vần như vậy người ta gọi là cưỡng vần, ép vần! Để nhận diện qua mặt chữ những vần nào gần giống với vần nào mà không cần đọc lên rồi lặng tai nghe mới biết được ( như các cụ ngày xưa làm thơ chữ Hán,Nôm) tôi có một số phương pháp sau: 1)phương pháp nguyên âm gốc và nguyên âm dấu Trong tiếng việt có một số nguyên âm dấu, những nguyên âm này xuất phát từ một nguyên âm gốc. ví dụ: - Nguyên âm Ă và Â có gốc là nguyên âm A - Nguyên âm O và Ơ có gốc là nguyên âm O - Nguyên âm Ê xuất có gốc là nguyên âm E - Nguyên âm Ư xuất có gốc là nguyên âm U Những nguyên âm có cùng gốc khi là vần thì là những vần thông. Ví dụ: O và Ơ; O và Ô; E và Ê; U và Ư Khi chúng kết hợp với một hay hai phụ âm giống nhau tạo thành những vần thông với nhau. Ví dụ: Ang và Âng; An và Ăn; Ong và Ông; On và Ơn: Em và Êm; Ung và Ưng 2) Phương pháp Nguyên âm nhóm Như đã nói trong phần “Âm và Thanh (trang…)Những Âm được phát ra thành tiếng khác nhau nhờ cơ quan miệng và phụ thuộc vào sự hoạt động của các bộ phận là lữơi, miệng, họng và răng. Căn cứ vào sự hoạt động của cơ quan miệng các nguyên âm chia ra các nhóm sau: * Nhóm 1- Nguyên âm không tròn môi: a, i, ê, e, iê, ia, * Nhóm 2- Nguyên âm tròn môi: u, ô, o, uô, ua… * Nhóm 3 - Nguyên âm họng: ư, ơ, â, ă, ươ, ưa Và các nhóm phụ âm: * Nhóm phụ âm cuối vang : m, n, ng, nh * Nhóm phụ âm cuối tắc : p, t, c, ch a) Những nguyên âm cùng nhóm khi kết hợp với một phụ âm cuối cùng nhóm thì tạo ra các vần gần giống: VD: - Các nguyên âm nhóm 2: U, Ô, O, UÔ, UA khi kết hợp với phụ NG tạo thành các vần Ung, Ông, Ong, Uông, Uang thì các vần này là các Vần gần giống - Các nguyên âm nhóm 1: A, I, E… khi kết hợp với phụ NG tạo thành các vần Ang, Ing, Eng, … thì các vần này là các Vần gần giống nhau b) Mỗi nguyên âm khi kết hợp với với những phụ âm cuối cùng nhóm thì tạo ra những vần gần giống nhau. VD: Các vần: An Am, Ang, Anh. là các vần gần giống nhau ; Các vần Ấp, Ắc,Ắt; Áp; Ách là các Vần gần giống nhau … Tuy nhiên, các vần gần giống nhau này mức độ hòa âm khác nhau xa và không thể bằng các vần thông. Tóm lại: Vần là yếu tố quan trọng nhất, góp phần hình thành nên một bài thơ. Nó không những tạo nên tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ mà còn là yếu tố quan trọng nhất trong việc tạo thi nhạc. Sự hòa vần giữa từ gieo vần và từ hiệp vần được chia làm bốn mức độ khác nhau: - Mức độ 1: Vần chính - Mức độ 2: Vần thông - Mức độ 3: Vần gần giống (Vần cưỡng, vần ép) - Mức độ 4: Lạc vần Các bậc thầy trong làng thơ từ cổ chí kim vẫn khuyên rằng: Khi dùng vần cho thơ hãy ưu tiên dùng vần chính. Nếu không dùng được vần chính thì hãy đùng vần thông. Trường hợp bất khả kháng thì mới dùng những vần gần giống(vần cưỡng, vần ép). Một bài thơ khi đã lạc vần dù hay về ý thì cũng bị coi là hỏng. Tôi cho rằng đây là những lời khuyên vàng cho bất cứ một người nào cần bút làm thơ, đáng để người làm thơ ghi lòng tạc dạ. Để giúp các bạn giảm thiểu tối đa mắc lỗi lạc vần hoặc cưỡng vần, tôi có một cẩm lang như sau: Điều kiện cần và đủ để hai vần hoà được với nhau mà không bị cưỡng hoăc lạc vần là chúng phải đồng thanh và đồng âm Còn thế nào là hai vần đồng thanh và đồng âm thì các bạn phải nghiên cứu kỹ phần âm và thanh mà tôi đã trình bày ở phần “âm và thanh” Về phần Vần tôi cho rằng như vậy là cũng tạm đủ. Bây giờ xin chuyển sang yếu tố thứ 3 của thi nhạc là Thi Điệu THI ĐIỆU Thi điệu là thủ pháp chứ không phải là luật thơ Điệu cũng là danh xưng của thể thơ: Điệu Lục Bát gọi là thơ Bục Lát, điệu Thất Ngôn, Ngũ Ngôn, Tự Do… gọi là thơ Thất Ngôn, Ngũ Ngôn, Tự Do…Cũng là một chữ điệu, song một bên danh xưng, một bên là âm tiết Vậy Điệu là gì? Điệu là nhịp điệu, là tiết tấu, là âm tiết. Thi Điệu lấy câu làm âm tiết. Câu lại có âm tiết của câu, gọi là cú điệu. Mỗi cú điệu lại có thể có nhiều âm tiết gọi là nhịp. Thơ càng nhiều nhịp càng hay. Mỗi nhịp thơ mang một ý nghĩa, một hình tượng nào đó. Nên câu thơ càng nhiều nhịp càng làm giầu ý thơ, càng gia tăng hình ảnh, mầu sắc, âm thanh, thi vị cho thơ. Tất nhiên thơ không phải cứ ngắt nhiều nhịp đã là hay. Thi nhạc còn hay ở âm thanh và vần. Muốn Thi Nhạc đạt đến mức thượng thặng thì âm thanh phải du dương, vần phải chỉnh chu, điệu phải nhịp nhàng, khi lên cao, khi xuống thấp phải hài hòa. Khi đọc thơ phải chú ý đến nhịp, sau mỗi nhịp phải dừng một chút, mức độ dừng dài ngắn khác nhau. Trong một dòng thơ có thể không cần phải dùng các dấu câu (chấm,phẩy…) nhưng người đọc phải hiểu sau mỗi nhịp thơ có một đấu câu ẩn ở đó. Cho nên người đọc thơ cũng là người nghệ sỉ. Muốn cho bài thơ giầu thi nhạc thì nhịp thơ cũng phải luôn thay đổi, đừng để trùng điệu. trùng điệu nhiều sẽ làm nghèo thi nhạc, làm điệu thơ chỉ đều đều một giọng như hô: Một hai, một hai, một hai… vậy Nếu bài thơ không có nhịp điệu, cứ dòng này nối với dòng kia một mạch thì không tránh được sự nhàm chán Thơ Đường luật thường ngắt nhịp ở chữ thứ 4 (gọi là nhịp 4/3). Thơ lục bát thường ngắt nhịp ở các chữ 2/4/6 trong câu lục, thường ngắt nhịp ở các chữ 2/4/6/8 trong câu bát (gọi là nhịp 2/2/2 và 2/2/2/2) tuy nhiêm đó không phải là luật mà chỉ là thường thấy. Nếu trong toàn bài, câu nào cũng ngắt nhịp như vậy thì là trùng diệu, không tránh khỏi sự nhàm chán. Ta nên thay đổi cách ngắt nhị liên tục, câu trước thế này thì câu sau thế khác. VD: Trong thơ Lục Bát, câu trước nhịp 2/2/2 thì câu bát nhịp 4/4 hoặc 3/3/2…Có thế mới tạo được sự đột biến cho thơ. Nhịp thơ không đơn điệu mà khi nhanh, khi chậm.VD: NÚI DỤC THÚY Trơ trơ trích thạch / bến Vân Sàng Hỏi núi chờ ai / đã mấy sương Uốn éo đầu gành / ba mặt sóng Phá tung cửa động / một chùa Hang Bóng mây thấp thoáng / hồn Diên /Hạo Vách đá lờ mờ / nét Phạm /Trương Cũng muốn bể dâu / bàn chuyện cũ Gió thu hiu hắt / bóng hoa vàng (Nguyễn Đình Giác) Khi đọc câu đầu (cặp Phá Thừa), đến chữ Thạch dừng một chút rồi đọc tiếp chữ Bến. Còn câu thứ 2 đến chữ Ai phải đừng lâu hơn. Vì sao? Vì nếu diễn giải 2 câu thơ trên ra văn xuôi thì như sau: Hòn đá mồ côi trơ trơ ở bến Vân Sàng. Hỏi Đá đứng chờ ai đó? Và chờ đã bao mưa nắng? Câu thứ nhất ẩn một dấu phẩy sau chữ Thạch nên dừng lại chút ít. Còn câu thứ 2 sau chỗ ngắt nhịp và cuối câu ẩn dấu chấm hỏi (?) nên phải dừng lâu hơn. Trong cặp Trạng (câu 3 và câu 4) các giả dùng phép đảo ngữ. nếu xuôi ngữ thì viết như sau: Ba mặt sóng uốn éo đầu gành; một chùa hang phá tung cửa động. Vì có sự đảo ngữ nên ngắt nhịp ở nơi giữa 2 thành phần chủ ngữ và vị ngữ. Còn cặp Luận (câu 5 và 6) tác giả dùng phép “Liên cương”( liên kết). Câu 3 lấy chữ “thấp thoáng” để nối với hồn núi Diên và núi Hạo nên ngắt nhịp ở sau chữ thứ 4 (thoáng). Diên và Hạo là tên hai quả núi, hai danh từ. Giữa hai danh từ này ẩm dấu phảy nên phải ngắt nhịp. Sau ngắt nhịp tất nhiên phải dừng một chút khi đọc. Ta cũng cần chú ý đến Âm điệu cũa chữ Thoáng và chữ Mờ. Chữ Thoáng kết thúc bằng phụ âm Sáng nên khi đọc có độ ngân dài hơn, người đọc có thể ngâm dài hơn bình thường để diễn cảm. Chữ Mờ kết thúc là một nguyên âm nên khi đọc không có độ ngân Các ví dụ ngắt nhịp: Râu hùm/ hàm én/ mày ngài Vai năm tấc rộng/ thân mười thước cao Kiều – Nguyễn Du Khi chén rượu/ khi cuộc cờ Khi xem hoa nở/ khi chờ trăng lên Kiều – Nguyễn Du Bài thơ/ dầu mỡ lấm lem Đôi mắt lúng liếng/ vợ khen…/tôi cười Nụ hôn - N.T.H Sông e biển cạn / bù thêm nước Non sợ trời nghiêng / đỡ lấy mây Tùng Thiện Vương Đắc chí / tiểu nhân cười khả ố Lỡ thời / hảo việt chí còn cương Cây Tre cảm tác – N.T.H Trên đây là một vài ví dụ để các bạn thấy được sự đa dạng và phong phú trong các ngắt nhịp. Vẫn còn nhiều cách ngắt nhịp khác nữa như 1/5; 2/4 trong câu lục. 3/5; 3/3/2 trong câu bát của thơ Lục Bát. Và 1/6; 3/4 trong thơ Đường Luật Các thủ pháp ngắt nhịp cho câu thơ: 1 – Nếu nhịp trước kết thúc là một thanh bằng thì nhịp sau kết thúc là thanh trắc. và ngược lại 2 – Trong một câu có hai nhiều cùng một từ loại. ( từ loại là danh từ, tính từ, động từ, trạng từ…) vì giữa hai danh từ, hai động từ, tính từ… phải có một dấu phảy, khi đọc dến dấu phảy phải ngừng nghỉ một chút 3 – Trong câu có nhiều ý. Theo luật ngữ pháp thì trong câu có nhiều ý, sau mỗi ý phải có một dấu phảy hoặc dấu chấm. Khi đọc đến dấu đều phải ngừng nghỉ để tách ý. (Chú ý là trong thơ không bắt buộc phải đánh dấu chấm phảy, dấu khi đó gọi là dấu ẩn) Tóm lại; Yếu tố tạo nên Thi nhạc là điệp âm, điệp vận với các hình thức đa dạng chúng: bằng, trắc, vận, liêm, đối, yếu tố tượng thanh, ngữ điệu… Yếu tố tạo nên hồn của thi nhạc là sự liên tưởng của tổ chức âm thanh với cảm giác âm nhạc (nhạc cảm) trong lòng người. Đó là sự liên hệ giữa âm hưởng, nhịp điệu với điệu của tâm hồn Hẹn gặp lại các bạn với vấn đề thi nhạc trong phần Thủ Pháp Lục Bát ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN THỨ HAI CỦA THƠ: NGÔN NGỮ HÀM SÚC Ngôn ngữ hàm súc là ngôn ngữ khúc triết, giàu hình ảnh… truyền được cảm xúc mạnh mẽ đến người đọc, khiến người đọc thấy được : “ngôn tại ý ngoại”. Một bài thơ ngắn có thể chỉ hai câu, dài có thể đến vô cùng . Truyện Kiều có 3254 câu. Nhưng dù ngắn, dù dài đến đâu thì trong thơ cũng không nên thừa hay thiếu một chữ nào. Đặc điểm của thơ là số chữ giới hạn trong câu thơ theo luật, các câu lại liên kết với nhau (Liêm) bằng các thanh (bằng, trắc) và vần. Ví dụ: thơ Lục Bát quy định cứ 1 câu 6 lại 1 câu 8 chữ. Các câu phải liền với nhau bằng cách gieo vần ôm hoặc vần chân. Các thanh bằng trắc được quy định ở những vị trí cụ thể trong câu; Thể thơ Đường Luật quy định mỗi bài có 8 câu, mỗi câu có 7 chữ, các thanh được quy định tại vị trí “bất luận”, các vần gieo cuối các câu 2,4,6,8. Các câu được liêm với nhau từng một đôi một: câu 2 với câu 3; câu 4 với 5; câu 6 với 7; câu 1 với 8 . Thể thơ Lục Ngôn, Ngũ Ngôn, Bát Ngôn… thì trong toàn bài mỗi câu chỉ có 6, 5,8 chữ và mỗi thể có luật thơ riêng. Riêng thơ tự do còn đang mò mâm, tự hoàn thiện và phát triển. Còn đang có cuộc tranh cãi; Thế nào là thơ tự do? thơ tự do có những luật gì? Thơ tự do có phải gieo vần không… Thể thơ là danh xưng và cũng là điệu thơ: Điệu Lục Bát, điệu Thất Ngôn, điệu Ngũ Ngôn… cũng là một chữ điệu nhưng một bên là danh xưng, một bên là tiết tấu. Trong một thể thơ nếu một bài thơ có câu thừa một chữ hay thiếu một chữ thì câu thơ đó như một kẻ ngoại đạo, một đứa con lạc loài! Một câu thơ không đúng luật thì như một đứa con ốm yếu cần phải có thuốc chữa! Chính vì những liêm luật khắt khe của thơ nên đòi hỏi lời thơ phải hàm súc, nói ít hiểu nhiều, ngôn tại ý ngoại. Trong ngôn ngữ; mỗi từ đều có một nghĩa đen và rất nhiều nghĩa bóng. Chính nghĩa bóng của từ giúp thơ trở nên đa chiều, bóng bảy chứ không thô mộc như nghĩa đen. Câu thơ đòi hỏi phải khúc triết, cô đúc nhưng cũng cần phải đầy đủ thành phần ngữ pháp như một câu văn. Tức là một câu đơn giản cũng phải có đủ ba thành phần: Chủ ngữ, vị ngữ và động từ. Nếu là câu phức hợp thì có thêm những tứ khác như tình tứ, trạng từ liên tứ, giới từ… trợ ngữ, bổ ngữ… bổ nghĩa cho câu. Nếu ta gặp trường hợp làm một câu thơ mà thể hiện một cách thông thường mà dài quá khổ, thiếu chữ hoặc sai thanh luật thì sao?. Để khắc phục những vấn đề này và làm câu thơ hàm súc, giàu đẹp lời, hình ảnh, giàu nhạc cảm các bậc tiền bối đã truyền lại cho chúng ta rất nhiều thủ pháp. Sau đây là một số thủ pháp đáng chú ý nhất: 1 - Phương pháp dùng ẩn dụ: Ẩn dụ là phương pháp dùng ngôn từ tạo ra những cách nói có hình ảnh, những cách nói lời ít ý nhiều Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo thay chồng con khóc nỉ non (ca dao) 2 - Phương pháp dùng ẩn ngữ: Bằng phương pháp này tác giả không cần phải phô đầy đủ các thành phần trong câu mà người đọc vẫn cảm nhận được thành phần ẩn. Một chủ thể có thực hiện nhiều hành động liên tiếp . Một hình ảnh có nhiều sắc thái … ví dụ: Có người quê tận đất mũi Cà Mau Có người đến từ địa đầu xứ Lạng Sài Gòn, Hà Nội, Thái Nguyên , xứ Quảng Xa quê hương theo tiếng gọi tìm dầu. Trong khổ thơ trên câu thứ 3 nếu viết theo cách thông thường thì phải là: Có người đến từ Sài Gòn, có người đến từ Hà Nội, có người tới từ Thái Nguyên, có người tới từ xứ Quảng. Tuy nhiên, với cách viết như trên, câu thơ ngắn gọn, giàu nhạc điệu, Cụm từ “Có người tới từ” ẩn nhưng người đọc vẫn thấy nó trước mỗi danh từ địa phương trên 3 - Phương pháp đảo ngữ, đảo từ. * Phương pháp đảo ngữ là đảo thành phần của câu. So với cách viết, cách nói thông thường phương pháp này gây cảm giác thú vị nơi độc giả. Và nhiều khi giúp tác giả sắp xếp các chữ đúng thanh luật Ví dụ: Uốn éo đầu gành / ba mặt sóng Phá tung cửa động / một chùa Hang (Nguyễn Đình Giác) Trong hai câu thơ này tác giả dùng phép đảo ngữ. nếu xuôi ngữ thì viết như sau: Ba mặt sóng uốn éo đầu gành; Một chùa hang phá tung cửa động. Vì có sự đảo ngữ nên ngắt nhịp ở nơi giữa 2 thành phần chủ ngữ và vị ngữ. * Phương pháp đảo từ: phương pháp này nhiều khi giải quyết vấn đề thanh luật rất hiệu quả. Ví dụ: non nước → nước non; giàu đẹp → đẹp giàu; yêu thương → thương yêuVí dụ: Muội mê gì cũng nhớ nơi mà về (Lương Xuân Khôi ) Ở câu này, tác giả đảo mê muội →muội mê để đúng thanh luật mà không ảnh hưởng chút gì ý nghĩa của câu thơ. 4- Phương pháp dùng hình tượng văn học, dân ca.Trong văn học và ca dao, dân ca Việt Nam có nhiều hình ảnh trở thành biểu tượng văn học. Ví dụ gặp hình ảnh con cò thì người đọc liên tưởng đến ngay những người phụ nữ Việt Nam hay lam hay làm chịu thương chịu khó thờ chồng nuôi con: Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo thay chồng con khóc nỉ non. Hình ảnh cây thông là biểu tượng cho bậc trí nhân quân tử. Cây thông vững vàng trong phong ba bão táp thì người quân tử vững vàng trước biến cố cuộc đời nhiều tác giả thường ví von mình như cây thông. Kiếp sau xin chớ làm người . Làm cây thông đứng giữa trời mà reo (Nguyễn Công Trứ) (Tôi còn nhớ lời Lôi Phong- một anh hùng thời cách mạng văn hóa Trung Quốc: Thà làm cây tùng cây bách giữa phong ba bão táp còn hơn là làm cây liễu ven hồ)Hoặc những hình ảnh như: Dậu mùng tơi; Giàn trầu, lũy tre, đồng lúa, cánh diều, cô Tấm, cô Cám, Trí Phèo, Thị Nở… một hình tượng này đưa được vào thơ có thể thay thế cả một câu truyện 5 - Phương pháp ví von so sánh So sánh là biện pháp ngôn từ thường gặp. Chúng luôn luôn gây được ấn tượng mạnh mẽ và chuyển tới người đọc những thông điệp đằng sau câu chữĐây là phương pháp được tác giả, thi nhân ưa dùng. Tác giả thường đưa đối tượng, hình ảnh, nhân vật mà bài thơ của mình so sánh với những hình tượng, hình ảnh, nhân vật đã nổi tiếng được nhiều người biết đến hoặc đã trở thành biểu tượng, thành ngữ.Ví dụ: Trong như tiếng hạc bay qua Đục như tiếng suối mới sa nửa vời Tiếng khoan như tiếng thoảng ngoài Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa. (Nguyễn Du) Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra (Ca dao) Mẹ như con tằm rút ruột nhả tơ Mẹ tôi như nhánh lúa gầy…. 6 - Phương pháp dùng điển cố Dụng điển là lấy sự tích nơi minh sử đời xưa, mượn chữ, mượn ý trong câu văn thơ cũ, trong cổ ngữ… đem vào tác phẩm để nói được sự kín đáo, bóng bẩy được gọn gàng nhất những tình ý mà số chữ hũu hạn của câu thơ không thể nói được đầy đủ: Ví dụ 1: Lúc túng toan lên bán cả trời Trời cười thằng bé nó ham chơi (Tú Xương)Câu thơ trên có xuất xứ từ câu “bán trời không văn tự” Ví dụ 2 : Ải soi Thường Quân vừa cắt gánh Thuyền tên Gia Cát vội phăn neo (Phan Văn Trị)Câu trên dùng tích Mạnh Thường Quân thời chiến quốc chạy nạn, khi qua ải biên giới, trời còn tối, cổng thành còn đóng, không qua được. Một tùy tùng giả tiếng gà gáy, gà quanh đấy gay theo, lính canh tưởng trời sắp sáng liền mở cửa. Nhờ vậy Mạnh Thường Quân qua ải trước khi quân truy đuổi đến nơi.Câu sau dụng điển Gia Cát Lượng đời Tam Quốc dùng mưu nhân trời còn sương mù, mang thuyền rơm đến sát hại trại quân Tào khua chiêng đánh trống. Quân Tào tưởng quân Ngô kéo đến, nhưng vì sương mù không nhìn thấy gì, chỉ đứng trên bờ bắn xuống nơi có tiếng chiêng trống. Sương tan, Gia Cát Lượng r1ut quân về thu được nhiều tên mà không mất một chút công sức.Nguyễn Du viết Truyện Kiều dùng đến vài trăm điển tích. Đó cũng là thành tích xuất chúng của Nguyễn Du. Nhờ cách dụng điển câu thơ được hàm súc và thâm viễn.Ngày nay cũng có nhiều câu dụng điển: “ Nhớ lại khi xưa chuyện Mỵ Châu Trái tim lầm lẫn để lên đâu Nỏ thần sơ ý trao tay giặc Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” (Tố Hữu)Và…. 7 - Phương pháp dùng đối ngẫu: Đối ngẫu là một trong những cú pháp giúp câu thơ “viễn ý thâm”. Đó là một đặc điểm của thơ ngũ ngôn, thất ngôn bát cú và thất ngôn, ngũ ngôn tứ tuyệt. Đó cũng là tinh hoa thi pháp của các thể thơ Thất và Ngũ Ngôn. Ta thấy ở các thể thơ khác và các nhà thơ hiện đại ít dùng phép đối ngẫu đó là vì nhà thơ không tận dụng, Nếu có tâm dụng thì đều có thể dùng được cả. Nguyễn Du viết Truyện Kiều bằng thơ lục bát nhưng cũng có nhiều câu sử dụng phép đối ngẫu rất tài tình. Pháp dùng ngẫu đối của Nguyễn Du thường dùng là tiểu đối: Người quốc sắc, kẻ thiên tài Tình trong như đã, mặt ngoài còn e. Hay: Sông Tương một dải nông sờ Kẻ trông đầu nọ, kẻ chờ cuối kia.Các nhà thơ ngày nay khi làm thơ lục bát cũng dùng tiểu đối: Ví dụ:…Trong ca dao chúng ta cũng thường gặp: Lươn ngắn lại chê chạch dài Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm. Hay: Khi khó hết thảo hết ngay Ơn cha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng quênTrong tục ngữ phương ngôn chúng ta thường thấy: - Khôn nhà, dại chợ - Đi đến nơi, về đến chốn - Ăn trầu đỏ môi- ăn xôi ngon miệng - Có ăn có chọi mới gọi là trâu - Không trước không sau ai cầu mà tới. Nêu những ví dụ trên chứng tỏ ngoài thơ Ngũ Ngôn và thơ Thất ngôn Đường luật, thơ nào cũng có thể sử dụng được những phép đối. Vì phép đối đúng là một tinh hoa của thư pháp; Tôi khuyên các nhà thơ nên sử dụng cho thơ mình. Ngoài các thi pháp trên còn rất nhiều, rất nhiều thi pháp giúp cho câu thơ và bài thơ hàm súc. Như phương pháp chơi chữ, Phương pháp châm biếm, phương pháp trích dẫn…Các bạn có thể học các bậc tiến bối, bậc thầy. 0 Comments TIỂU LUẬN Ý và TỨ THƠ12/17/2014 2 Comments Ý & TỨ THƠ NGUYỄN TRỌNG HOÀ Ý và tứ thơ là nội dung của bài thơ. Ý là gì? Ý là khởi nguồn cho thơ. Khi gặp một cảm xúc mãnh liệt thì nhà thơ có ý tưởng lưu lại cảm xúc đó. Lúc này ý mới chỉ là suy nghĩ trừu tượng trong đầu. Tứ là việc nhà thơ dùng những kỹ năng thơ của mình để diễn đạt (thể hiện) những cảm xúc, ý thơ của mình bằng hình ảnh, ngôn ngữ hàm xúc và có vần điệu thành bài thơ. Một bài thơ hay là bài thơ có ý đẹp lời hay. Lời thơ phải phản ánh được trung thực cảm xúc thơ và có sức truyền cảm mạnh đến người đọc. Ý thơ được chia làm 4 tiêu chuẩn chính: - Thơ biểu tình (gọi là thơ tình). Tình ở đây được hiểu theo nghĩa rộng. Không chỉ là tình yêu trai gái mà còn là sự yêu ghét, hờn giận, tình yêu con người với con người, tình yêu với thiên nhiên, Tổ quốc, quê hương… - Thơ thuyết lý: là thơ có những giá trị kinh điển. - Thơ tả cảnh. - Thơ tức sự. Có khi ý chỉ là đơn thuần, có ý nghĩa tình riêng tình, lý riêng lý. Cảnh riêng cảnh và sự riêng sự. Cũng có khi ý là sự phức hợp của một tiêu chuẩn này với 1,2 hoặc 3 tiêu chuẩn. Như trong lý có tình, trong tình có cảnh, trong cảnh có sự… Ví dụ: Bài “Thu vịnh ”của Nguyễn Khuyến đơn thuần là một bài thơ tả cảnh. Bài thơ “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư là tình. Tác giả đã mượn cảnh để tả tình, nên trong tình có cảnh, trong cảnh có tình. Tứ thơ là gì? Theo cuốn từ điển Thuật ngữ văn học thì tứ thơ là cảm xúc thơ hoặc ý nghĩa hình ảnh thơ. Ta cần chú ý đến cụm thuật ngữ:”Cảm xúc thơ” và “hình ảnh thơ” vì cảm xúc thơ và hình ảnh thơ khác với cảm xúc và hình ảnh khác.Người xưa thường nói:”thi tứ ở nơi gió tuyết, trên lưng ngựa chứ đâu ở nơi lầu son gác tía” lại có người nói “tứ thơ ở nơi cành mai, khóm trúc”là ý muốn nói cảm xúc thơ là cảm xúc thẩm mỹ, thi vị và giàu màu sắc chứ không phải là cảm xúc trong trong sinh hoạt thực dụng hàng ngày. Hình ảnh thơ là hình ảnh được chuyển hóa cụ thể hóa từ ý thơ., nó không giống những hình ảnh mà mắt thường nhìn thấy được. Nó được ta nhìn thấy bằng cảm xúc thơ. Vì vậy khi làm thơ phương pháp tu từ được sử dụng rất nhiều. Việc làm thơ phải bắt đầu từ cảm xúc thơ, tức là tứ thơ. Tìm tứ tức là xác định cảm xúc và hình ảnh thơ. Định nghĩa “Tứ thơ” như sách từ điển Thuật ngữ văn học như vậy thì khái quát quá, khó mà thấu hiểu được. Để cho dễ hiểu, nhà thơ Quách Tấn giải thích bằng sự ví von như sau: “Nội dung bài thơ tỉ như một khóm cây mà nơi cội cành là ý, hoa lá quả là tứ” nói cách khác : Tứ là sản phẩm của ý, là chi tiết do ý sinh ra và làm cho ý thêm sắc thái, âm vị cũng như hoa là tứ cội cành sinh ra và làm cho cội cành thêm tươi, thêm thắm. Nói một cách khác. Tứ là sắc thái, là hương vị là âm thanh của ý”. Cùng là một ý nhưng ai cũng có thể có, từ ngàn xưa đến nay đều có, nhưng thơ của mỗi người mỗi khác vì cách diễn đạt ý không ai giống ai. Đó là vì tứ mỗi người một khác. Ví dụ: Trong một trường thi ngày xưa ( Thi hương, thi hội, thi đình). Tất cả các thí sinh có chung 1 đề thi là làm 1 bài thơ theo ý của ban tổ chức ra. Kết quả là có bao nhiêu thí sinh tham gia thì có bấy nhiêu bài thơ mà không bài nào giống bài nào vì cách diễn tả ý đã cho không ai giống ai. Người diễn đạt hay nhất thì đỗ thủ khoa, người về nhì gọi là á khoa… Tóm lại là: Cách diễn đạt chính là tứ thơ. Cho nên thơ phải có tứ, thơ nào tứ ấy, chỉ có tứ thơ hay, hay tứ thơ không hay chứ không có bài thơ mà không có tứ. Ví dụ: Để diễn tả lòng thương nhớ nhau, Đời nhà Chu- Trung Quốc có câu: Chàng ở đầu sông Tương Thiếp ở cuối sông Tương Nhớ nhau không thấy nhau Cùng uống nước sông Tương Cũng diễn tả ý thương nhớ nhau, Nguyễn Du viết: Sông Tương một dải nâng sờ Người trông đầu nọ, kẻ chờ cuối kia. Cùng là diễn một ý, hai áng thơ trên không chỉ khác nhau về chữ nào mà khác nhau ở cách diễn cảm. Câu thơ tiếng Hán nhấn mạnh niềm thương nhớ và âm thầm ấp ủ nỗi trông chờ, lấy việc cùng uống nước sông Tương tượng trưng cho việc ăn sầu uống thảm vì không thấy nhau. Còn câu thơ của Nguyễn Du lại nhấn mạnh nỗi trông chờ và nâng niu một cách kín đáo, lấy việc sông Thương nâng sờ mà không tới lui với nhau được, để ngầm than thở cho cái hoàn cảnh éo le một cách hoàn hảo, câu nọ đẻ ra câu kia, ý kia vốn là ý nọ. Bài thơ tiếng Hán tương truyền sau khi ra đời, vì bài thơ hay đến từng li, từng tí, tứ ý đến lời nên thế nhân đúc rút ra 2 chữ tương tư để diễn tả nỗi nhớ nhau của hai người, từ đó chữ tương tư mà có. Còn áng thơ của Nguyễn Du cũng không kém gì, song mỗi áng thơ đẹp mỗi vẻ vì tứ người này khác người kia. Ngày nay nhà thơ Hoài Vũ, thể hiện nỗi tương tư bằng bài thơ Anh ở đầu sông em cuối sông, nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu được phổ thành nhạc: Anh ở đầu sông em cuối sông Uống chung dòng nước Vàm cỏ đông Xa nhau đã chín bao mùa lúa Chưa ngày gặp lại nhớ mênh mông Cũng rất tuyệt vời. Ta hãy xét thêm một ví dụ nữa. Cư dân vùng núi Tượng sông Đà có câu: Một dải sông Đà nằm uốn khúc Ngàn năm núi Tượng đứng chen mây. Cũng là ý ca ngợi núi Tượng sông Đà, Tản Đà có câu: Non Tượng trời cho bao tuổi lẻ Sông Đà ai vặn một dòng quanh Sông Đà chảy quanh co, một núi Tượng cao chót vót đó là ý, áng thơ thứ nhất tác giả diễn tả sự quanh co của sông bằng cụm từ “nằm uốn khúc” và diễn tả núi Tượng cao bằng cụm từ “đứng chen mây”. “Nằm uốn khúc” và “Đứng chen mây” là tứ. Ở áng thơ thứ hai, Tản Đà dùng biện pháp tu từ chuyển hóa hình ảnh cao chót vót của núi bằng tuổi cao của núi và dùng động từ “vặn” để làm nổi bật nét quanh co, uốn éo của sông. Động từ “vặn” không những sống động hơn động từ “nằm” mà còn gợi cảm hơn nơi người đọc. Tứ thơ của Tản Đà độc đáo và mới lạ, khác hẳn và hơn hẳn tứ thơ trên, mặc dù áng thơ trên cũng thuộc hàng hiếm thấy. Tất cả những lời bình trên để các bạn hiểu thấu đáo hơn tứ thơ là gì và nhất trí với tôi rằng: ý và tứ thơ là nội dung của bài thơ . Có thể có rất nhiều bài thơ diễn đạt cùng một ý nhưng không bài thơ nào giống bài thơ nào bởi vì tứ của mỗi người mỗi khác. Không có bài thơ nào không có tứ, chỉ có bài tứ hay và bài tứ không hay, hay ít hoặc hay nhiều mà thôi. Tóm lại tứ cũng chỉ là cách thể hiện, diễn tả ý mà thôi.Nếu chúng ta đã nhất trí với nhau thì giờ ta chuyển qua cách lập ý và cấu tứ. Ngày xưa các cụ làm thơ rất cẩn thận và bao giờ cũng lập ý cấu tứ trước khi thực sự viết bài thơ. Việc lập ý, cấu tứ đối với người làm thơ cũng như việc lập dàn chi tiết cho bài văn mà các thầy đã dạy chúng ta tập làm văn khi ta học phổ thông vậy. Lập ý là lập dàn ý cho bài thơ. Để lập dàn ý trước hết ta phải khảo sát để xem ý thuộc tiêu chuẩn nào, biểu tình hay thuyết lý, tả cảnh hay tự sự, ý thơ thuần nhất hay phải kết hợp nhiều tiêu chuẩn, tiêu chuẩn nào là chính. Khảo sát xong ta lo tìm ý, chọn trong số những ý ta tìm được một ý lớn đưa lên làm chủ đề, làm đại ý. Những ý khác lấy đại ý làm mục tiêu, xoay quanh đại ý sao cho trên dưới tiền hậu nhất nhất, “Nhất khí quán hạ”, không có ý nào bị lạc đề. Nhưng những ý chúng ta đã lập thành “dàn ý” mới chỉ là nguyên liệu để làm thơ, chúng ta cần phải câu từ thì mới thành bài thơ được. vậy lập ý và cấu tứ có thể ví von, so sánh với việc ta làm một ngôi nhà, trong đó ý là nguyên liệu như xi măng, gạch, đá, sỏi, gỗ mua về để sẵn đó.Ta phải tìm trong đống nguyên liệu tùm lum ấy, cây gỗ nào làm cột, cây gỗ nào làm kèo, viên đá nào làm nền, móng, gạch sỏi, xi măng dùng vào việc gì… như việc tìm tứ nào đi với ý nào là tìm tứ. Tìm tứ là: xác định cảm xúc và hình ảnh thơ. Chúng ta lại cần phải cưa cắt, đục đẽo gỗ cho vừa để làm kèo cột, xây, chát, khắc chạm, sơn quét… tạo dáng cho ngôi nhà cho đẹp đẽ, việc này cũng như nhà thơ phải chau chuốt ngôn từ, tạo hình tượng cho bài thơ, thổi hồn vào bài thơ bằng chính những cảm xúc của mình, bằng cảm xúc thơ và hình ảnh thơ để bài thơ có hương vị, sắc thái, âm hưởng đặc biệt đó là cấu tứ. Vậy cấu tứ là tạo hình tượng có khả năng khêu gợi được cảm xúc thơ. Đó là sự kết hợp hình ảnh và ý nghĩa thơ sao cho sự sống của hình ảnh càng triển khai càng khơi sâu thêm những ý nghĩa của bài thơ.Ý có đại ý và những ý nhỏ xoay quanh.Cấu tứ cũng phải cấu tứ cho từng ý nhỏ và cho đại ý. Ta hãy xem Phố Khởi Long một học giả Trung Quốc bình và phân tích bài thơ “Cô Nhạn” của Đỗ Phủ để hiểu rõ hơn về tứ. CÔ NHẠN Nhạn lạc không ăn uống Bay kêu tiếng nhớ đàn Mất hút giữa mây ngàn Mãi trông còn thấp thoáng Xót lắm tiếng mơ màng Qua đồng sao hiểu được Quàng quạc tiếng kêu khan. Cô nhạn (Chim nhạn cô đơn) là ý của bài thơ. Bay kêu tiếng nhớ đàn là tứ của bài thơ. Lạc đàn nên nhớ, vì nhớ mà bay, với trông mất hút mà vẫn cứ bay mãi, như vẫn còn trông thấy đàn mà bay theo. Vì nhớ mà kêu, xót nhiều nên kêu không ngớt, như trông thấy đàn mà bay theo vậy (theo Phố Khởi Long – Độc Đỗ tài giỏi). Tứ thơ đã biểu hiện tình cảnh cố ngạo đáng thương của kẻ lạc đàn.Nói về ý và tứ thơ bao nhiêu cũng không hết, nhưng theo tôi nói đến dây cũng đủ cho chúng ta hiểu khái quát về ý và tứ thơ. Nếu xem trên mạng, các bạn có thể thấy một số bài tiểu luận về ý và tứ. Có bài hay, cũng có bài dở. Bài của Đỗ Đình Tuân khá hay. 2 Comments TIỂU LUẬN10/11/2014 0 Comments MẤY SUY NGHĨ VỀ CHÙM THƠ ĐƯỢC GIẢI TRĂNG BẠC CỦA PHI DIẾU Gây ấn tượng nhất sau khi tôi đọc chùm thơ này là những tứ thơ đẹp, mộc mạc, dung dị không kém độc đáo. Dù là những điều “xưa nay cũ” nhưng nay được tác giả Phi Diếu thể hiện một cách mới mẻ “…Ước gì về lại quê xưa “Đói cơm, thiếu áo nhưng thừa tình thương…” “…không quê sao lớn thành người…” (Đêm trường) Cũng đã có nhiều người, thơ ca nói nên ý này. Nhà thơ Đỗ Trung Quân viết “…Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người…” Nhưng tứ thơ của Phi Diếu không giống của Nguyễn Trung Quân, mà chứa đựng tình yêu quê hương sâu sắc, mang nỗi khắc khoải của của một người con xa quê Hay như: “…Phật đâu? Phật ở tâm linh mọi người…” “…Trời đâu? Trời ở lòng người mà ra…” “…Trời cao cao ngất mấy từng Mà gần, gần lắm, rất gần bên ta…” (Trời Phật) Tôi đã được nghe nhiều người giảng giải về đức độ phật giáo nói những câu tương tự. còn tác giả Phi Diếu nói với chúng ta bằng thơ lục bát với lời giản dị, gần gũi với mọi người. “Gần, gần lắm, rất gần…” Ở đây từ “Gần” tác giả dùng 3 lần liên tiếp, cùng với 3 từ đi cùng hỗ trợ thể hiện cái sự “gần” dần được thu ngắn lại đến vô cùng: Trời phật đã ở trong lòng người thì thì khoảng cách nào gần hơn được nữa? Còn câu : Phật trời bao lả bao la(Trời Phật) Thì rất nghe rất lục bát, rất ca dao, rất lả lướt cánh cò Đọc bài thơ “NỢ” của bác Phi Diếu tôi lại nhớ rằng có rất nhiều bài mang tên NỢ. Tôi đặc biệt có ấn tượng với 2 bài thơ NỢ của tác giả Phi Diếu và của tác giả Phạm Hải. Đó là hai bài thơ “ Nợ” hay nhất trong các bài “Nợ” mà tôi đã đọc. Trong bài thơ NỢ của tác giả Phi Diếu có đoạn như sau” …Nợ còn nặng kiếp chưa xong Nợ cha, nợ mẹ, nợ ông, nợ bà Nợ trời nợ đất bao la Nợ cơm áo nợ đôi ta chọn đời Hãy xin hẹn kiếp luân hồi Làm thân trâu ngựa đền bồi cho cam… Cũng là những nón nợ như nhau: Nợ cha nợ mẹ, nợ trời nợ đất, nợ cơm áo, nợ tình…toàn là những món nợ tinh thần. Cùng là những bài thơ lục bát hay nhưng tứ thơ của mỗi tác giả mỗi khác. Tác giả Phạm Hải thì thể hiện rất chi tài tử, rất chi nghệ sỹ, còn tác giả Phi Diếu chỉ với chữ “kiếp” thôi đã thể hiện rất chi Phật pháp. Còn như bài thơ “Soi” thì quá hay, hay tuyệt vời! Tôi xin đọc bài thơ này: SOI Soi gương cảm thấy mình già Soi vào em thấy mình là thanh niên Soi vào cha mẹ tổ tiên Tưởng mình như thể thiếu niên nhi đồng Soi vào đỉnh núi dòng sông Thấy mình trong bộc con rồng cháu tiên Tuổi già bát thập ngũ niên Càng soi càng thấy đẹp duyên bên bà Tôi rất thích bài này. Bài thơ hoàn mỹ cả về nội dung và nghệ thuật. Lời bài thơ khiến người đọc có ấn tượng ngay từ câu đầu tiên, càng đọc càng thích vì lời lối viết giản dị, trong sáng, tự nhiên mà lai láng tình ý. Đọc chùm thơ này của tác giả Phi Diếu tôi lại nghĩ về ý và tứ trong thơ. Các nhà thơ tự do và những người thích thơ tự do thường nói: Thơ bây giờ trọng tứ hơn trọng vần, thơ lục bát nhiều liêm luật và liêm luật chặt chẽ, khó thể hiện được cái “tứ” nên không thỏa sức tung hoành được. Theo tôi nói như vậy là không vô tư, chưa xác đáng. Cứ nhìn vào chùm thơ này của tác giả Phi Diếu thôi cũng đủ thấy điều đó. Thơ của bác không những giầu ý đẹp tình, mà tứ cũng dồi dào và đẹp đến lung linh đấy chứ! Ai dám bảo truyện Kiều của Nguyễn Du là thiếu tứ? Tôi nói rằng: Mỗi ý trong truyện Kiều đều được Nguyễn Du thể hiện bằng một cái tứ thâm hậu, trác tuyệt Theo tôi mỗi người làm thơ đều như một một nghệ sỹ: Nếu như trong các nghệ sỹ có người giỏi về môn họa nhưng kém về âm nhạc thì lại có người giỏi về âm nhạc thì lại kém về môn họa, thì người làm thơ có người làm thơ tự do có những bài thơ có thể gọi là hay nhưng làm thơ lục bát thì như gà mắc thóc, cứ loay hoay tìm tứ tìm vần mà tứ chẳng ra tứ, vần chẳng ra vần, nhưng lại có những bài thơ lục bát tình ý lai láng, vần, tứ dồi dào được lưu truyền rộng dãi trong dân gian, từ đời này qua đời khácVậy nên người yêu thơ lục bát khi làm thơ lục bát đừng sợ thơ lục bát thiếu tứ mà chỉ sợ người làm thơ thiếu tứ thôi THÁNG 9/2014 NGUYỄN TRỌNG HOÀ 0 CommentsTIỂU LUẬN về THƠ LỤC BÁT...9/17/2014 0 Comments THƠ LỤC BÁT DỄ LÀM KHÓ HAY Nhiều người có cùng một nhận định rằng: Thơ lục bát dễ làm mà khó hay! Tôi đã cất công đi tìm tài liệu, lướt web nhưng chưa thấy ai giải thích, chứng minh nhận định này. Là tín đồ của thơ lục bát. Tôi dành phải đi tìm lời giải. xin chia xẻ cùng các bạn Trước hết ta thấy lời nhận định trên có hai vế: - Vế thứ nhất: Thơ lục bát dễ làm - Vế thứ hai: Thơ lục bát làm khó hay 1 – Nói: Thơ lục bát dễ làm. Điều này đúng mà cũng chưa đúng. Đúng ở chỗ là người Việt Nam, ai cũng vậy, ngay từ khi còn là phôi thai ta, mẹ đã vừa làm vừa hát bằng những câu lục bát. Khi ta nằm trong nôi, mẹ cũng hát ru ta bằng những câu lục bát. Chúng ta thuộc những câu thơ lục bát từ khi ta còn chưa đi học cái chữ. Trong quá trình lớn lên, trong cuộc sống và sinh hoạt, chúng ta cũng được tiếp xúc nhiều với thơ lục bát hơn các thễ loại thơ khác, qua các thể loại ca dao, dân ca, hò, vè…Và trong cuộc sống xã hội ta thấy thơ lục bát có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, trong từng ngõ ngách của cuộc sống. Cứ thế, thơ lục bát dần dần thấm vào hồn ta, trở thành một bộ phận của tâm hồn và định cư ở đó lúc nào mà ta không biết. Là người việt Nam, ai cũng đều đã từng làm cho mình vài bài thơ lục bát. Trong thực tế ta thấy có rất nhiều bài thơ lục bát.Trong văn học ta thấy thơ lục bát chiến 70-80% thi phẩm của một nhà văn. Và người ta đã thống kê và thấy rằng thơ lục bát cũng chiếm 70-80% trong số các sáng tác đã được in ấn. Đối với những người được gọi là nhà thơ, dù chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp cũng đều khởi nghiệp bằng thơ lục bát, từ thơ lục bát mà đi lên. Ta cũng thường gặp những bài thơ lục bát của những tác giả nghe cái tên lạ lẫm, hỏi chẳng ai biết người ấy là ai Đối với người Việt Nam, làm thơ lục bát quả là không khó, vì chỉ cần biết sơ về âm luật và cách gieo vần là có thể làm được một bài thơ lục bát. Bởi vậy nói, thơ lục bát dễ làm là đúng là vì thế! Nhưng nó chưa đúng ở chỗ, nếu ta bắt đầu làm thơ lục bát từ con số không cũng như bắt đầu như tập làm các thể thơ khác, hoặc hỏi một người nước ngoài: làm thơ lục bát dễ hay khó? Thì chắc chắn ta sẽ được một câu trả lời là: Rất khó! Vì thơ lục bát đòi hỏi có nhiều vần, nhiều luật và vần luật của thơ lục bát cũng chặt chẽ hơn các thể thơ khác. 2 – Nhận định rằng: Làm thơ lục bát khó hay! Điều này cũng đúng và cũng lại không đúng! Ta hãy nhìn vào quá trình lịch sử và phát triển của thơ Lục bát thì sẽ thấy, từ khi Nguyễn Du viết kiệt tác “Kiều” cho đến nay đã mấy trăm năm đã có mấy nhà thơ thành công trong thể loại lục bát, sau Nguyễn Du có Nguyễn Bính! Sau Nguyễn Bính có thể nói có Đồng Đức Bốn! Còn ai nữa? Hết! Vậy tức là số tác giả thành công về thể lọai thơ lục bát rất hiếm! Các nhà thơ của ta tuy ai nấy đều khởi đầu bằng thơ lục bát, có nhiều thi phẩm lụcbát, trong những thi phẩm lục bát của họ có những thi phẩm rất hay. Đó là những nhà thơ chuyên nghiệp, họ sống bằng thơ. Đối với họ, thơ là com áo gạo tiền, thơ của họ không hay thì họ sẽ chết đói. Có thể nói họ sinh ra để làm thơ, họ đã học và làm thơ ngay từ nhỏ, họ được học làm thơ, có nhiều thời gian nghiên cứu và làm thơ. Cả cuộc đời họ chỉ có một việc chính là làm thơ, họ lại được cộng thêm một điểm nữa là say mê thơ và có thiên tính về thơ… Qua đó ta thấy rằng: Nếu thơ lục bát dễ hay thì đã có nhiều nhà thơ thành danh như trong lĩnh vực thơ lục bát nếu không được như Nguyễn Du thì cũng được như Nguyễn Bính hay Đồng Đức Bốn Nay lại nhìn lại chúng ta! Có thể nói: Chúng ta là những nhà thơ nghiệp dư. Chúng ta không bị câu thúc, trói buộc vì thơ. Chúng ta đến với thơ vì yêu thơ, lấy thơ làm thú tiêu khiển giải trí, khi hứng lên thì làm cho vui, không thì thôi, chẳng ảnh hưởng gì đến miếng cơm manh áo của mình. Đó chính là hạn chế lớn nhất của chúng ta. Chúng ta lại đến với thơ muộn mằn, ở cái tuổi thoái trào về mọi phương diện:Trí tụê, tinh thần, tư tưởng... ở cái tuổi ấy các nhà thơ thành danh cũng đã xếp bút về hưu thì chúng ta mới học, tập làm thơ. Chúng ta lại không được học một cách có bài bản mà phải tự học, tự mầy mò mà rút kinh nghiệm , để đến hôm nay ta làm thơ vẫn chỉ ở trình độ học trò. Trong hơn một năm tham gia sinh hoạt CLB, tôi đã được đọc hàng ngàn bài thơ của các thành viên. Tôi thấy hầu hết các bài thơ của chúng ta chỉ ở mức “sàn sàn bậc trung”. Những bài thơ hay như bài “Vấp” của bác Phạm Hải, bài “Trở lại sông Gianh” của bác Đỗ Đức Yên, Bài “Sapa mùa hoa cải” của bác Thanh Ngọc, “Cái lúm đồng tiền” và “Cô hàng xén” của Xuân Nga…chưa có nhiều. Nói chung các thành viên, mỗi người đều có vài bài thơ hay nhưng chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Điều đó chứng tỏ nhận định rằng : Thơ lục bát khó hay đối với chúng ta là đúng! Tóm lại là nhận định trên chỉ đúng với từng đối tượng. như đối với các nhà thơ nghiệp dư thì đúng, còn đối với các nhà thơ đã thành danh thì chưa chắc đã đúng! Và tôi rút ra một kết luận rằng: Làm được thơ lục bát hay hay không là tự ở ta. Nếu ta có công học hỏi, rèn luyện một cách nghiêm túc và không ngừng thì thế nào cũng làm được nhiều bài thơ hay và chất lượng thơ của mình được mỗi ngày một lâng cao! NGUYỄN TRỌNG HOÀ 0 Comments XUÂN NGA9/17/2014 0 Comments BÌNH LUẬN BÀI THƠ TRÍ PHÈO CỦA LƯƠNG XUÂN KHÔI Từ một truyện ngắn cùng tên của cố nhà văn Nam Cao. Tác phẩm Chí Phèo đã tạo ra thi hứng cho nhiều nhà thơ. Mỗi bài thơ đều tạo cho người đọc những cảm xúc riêng trong đó Chí Phèo của Lương Xuân Khôi là một bài thơ hay, đã được đăng ở Nguyệt san của tỉnh số Tết 2014 và Tiếng vọng miền Đông xuất bản 2013.Xuân Khôi vào bài với hoàn cảnh xuất xứ của Chí Phèo Bần cùng tha hóa như anh Không gốc rễ, không học hành họ đương Đúng thế, Chí xuất thân là một đứa con hoang mà sâu xa là xã hội cũ thối nát hủ lậu đã sinh ra Chí, hoàn cảnh ấy lấy gì là tử tế đâu không biết cha mẹ là ai, như nhà thơ khác đã viết : “ Chí Phèo không mẹ không cha. Lương tâm Bá Kiến đẻ ra Chí Phèo” Con người sinh ra đều “ Nhân chi sơ, tính bản thiện” nhưng tính bản thiện của Chí đã bị tước bỏ chính Bá Kiến là kẻ tha hóa anh, sinh ra cái ngang tàng trong con người Chí Phèo đến độ không thể kiểm soát được mình. Rượu vào dở dở ương ương Bẫy người sập lại , mắc luôn bẫy người. Cái liều lĩnh ngang tàng gàn dở khiến Chí dấn sâu hơn nữa vào nguy hiểm để thành kẻ bặm trợn điên rồ Dửng dưng khóc, dửng dưng cười Chốc buồn thê thảm, chốc vui tít mù Giờ thì Chí không còn là Chí nữa, đã trút bỏ cái tạo hóa ban cho. Rượu đã biến Chí chỉ còn là một sinh linh để hành động theo bản năng của động vật, để thỏa mãn nhu cầu hắn đã sẵn sàng đâm thuê chém mướn rạch mặt ăn vạ không còn biết sợ là gì. Tạo hóa sinh ra Chí không phải gieo nỗi sợ hãi cho mọi người. Chính cái xã hội thối nát đã biến một thanh niên hiền lành chăm chỉ nhút nhát thành kẻ ngang tàng đẩy anh ta xuống vực thẳm của cuộc sống, đến nỗi ăn vạ, ở tù, trở thành một nghề thì thật hi hữu đáng sợ và khi cần thì sẵn sàng rạch mặt lấy máu để đổi lấy rượu thì chao ôi thật là kinh khủng. Để thơ hóa được nội dung trên Xuân Khôi đã khéo léo tạo ra những chi tiết tương phản: Bẫy người sập lại/ mắc luôn bẫy người Khi buồn thê thảm/ khi vui tít mù Vung dao chặt ách/ Để rồi vướng dao Trong từng câu thơ anh đã tạo ra vế đối lập 4/4 khóc cười, buồn vui… nhưng sự đối lập ấy lại rất thống nhất để diễn tả ý nghĩa của một sự việc, ở đây là tính cách của Chí Phèo. Đó là trong câu bát, còn những câu lục tác giả đã xây dựng từng vế tiểu đối 3/3. Dửng dưng khóc/ dửng dưng cười Chẳng nịnh hót/ chẳng van nài… Cùng với điệp từ, điệp ngữ và từ láy để nhấn mạnh ý cần nói và diễn tả cái đa dạng bên trong tính cách của nhân vật. Đến đây nếu không đọc tiếp sẽ không hiểu hết tận cùng trong con người Chí Phèo; ấy là giữa cái mông mênh tăm tối cuộc đời, Chí vẫn giữ cho mình một đốm sáng nhỏ nhoi: Liều lĩnh không hèn hạ, đói khổ không quỳ gối, nguy hiểm nhưng không hại dân lành, cùng cực nhưng không thấp hèn bi lụy đối lập với bản chất của kẻ giàu sẵn sàng bán rẻ phẩm giá để tiến thân. Do đó Chí chỉ chĩa dao vào kẻ bóc lột làm chúng ngao ngán khó chịu và kết quả Bá Kiến là kẻ gieo gió thì phải gặt bão. Bài thơ lục bát của Xuân Khôi vẻn vẹn có 12 câu, đọc hết 10 câu đã thấy hết Chí Phèo. Song 2 câu cuối của anh lại mở cánh cửa độc đáo để người đọc nhìn về một hướng khác đó là cách suy luận tinh tế Tình yêu giục Chí làm người Vung dao chặt ách để rồi vướng dao. Ôi tưởng Chí đã mất hết tính cách , thế mà lại có thể trở lại làm người được ư? Nguyên nhân gì vậy: Tình yêu- kỳ diệu thay: Tình yêu. Tình yêu đã giục Chí làm người, - thứ nước thánh đã gột rửa đi vết nhơ để đón lấy cái cái bản chất thật có của mình. Tình yêu đã giúp Chí muốn hoàn lương. Thật mỉa mai cho luật pháp của chế độ cũ, nó còn thua cả người đàn bà dở hơi nghèo khổ và xấu xí. Nếu Chí Phèo của Nam Cao là một núi tài nguyên, thì Xuân Khôi đã tìm thấy cái mỏ vàng trong trái núi ấy.Với cái nhìn tổng quát cả chiều rộng và chiều sâu rồi cô đọng và tổng hợp tác giả đã dùng thơ khéo léo lột tả chân dung con người và tính cách cá biệt. Mỗi câu thơ là một chi tiết đắt giá, sống động, nhịp điệu nhuần nhuyễn biểu hiện trực tiếp trong nhân hóa. Thiết nghĩ phải thật khéo chắt lọc mới có thể tạo nên bức tranh sinh động trong thơ anh. Tuy vậy trong câu thơ;” Một mình đi hết trẻ trai một thời” Ta thấy ai cũng có một thời trai trẻ và cũng đi hết thời trai trẻ ấy không riêng Chí Phèo. Phải chăng với Chí thì thời trẻ trai đã bị quên lãng, bị đánh rơi bị đánh cắp và tước đoạt mới đúng, để Chí Phèo “Vung dao chặt ách để rồi vướng dao”. Đó là lưỡi dao hà khắc của chế độ, nó đã tước đoạt sinh mạng kẻ thân liều vì đã đấu tranh thụ động đề đổi lại cái lương thiện cho mình. Khác với xưa kia ngày nay nhiều kẻ đã tự biến mình thành Chí Phèo như một nhà thơ khác đã viết: Chí Phèo đời chót từ lâu Về đây đã lại đâm đầu vào chai Đây là những thứ ung nhọt mới, chúng ta cần phải loại bỏ ra khỏi cộng đồng. Tóm lại cùng với Chí Phèo. Lương Xuân Khôi là một cây bút đang sung sức, thơ anh thường bố cục gọn, dễ đọc dễ hiểu, không ồn ào hoặc lê thê, các chi tiết gắn kết biểu đạt logic khoa học, từ ngữ chọn lọc đến khắt khe gây cho người đọc nhiều cảm xúc. Người đọc mong được gặp lại nhiều nữa những tác phẩm mới của anh. Ngày 26 tháng 8 năm 2014 Xuân Nga Hội viên CLB Thơ Lục Bát miền Đông Nam Bộ. Chi nhánh Vũng Tàu 0 Comments TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH VĂN HỌC8/12/2014 0 Comments HÌNH ẢNH TRONG THƠ Hình ảnh trong thơ còn gọi là hình ảnh thơ Hình ảnh thơ là một hình thức ngôn ngữ thơ. Là một trong ba đặc trưng cơ bản của thơ Hình ảnh thơ khác với hình ảnh trong cuộc sống, sinh hoạt mà bằng mắt thường ta nhìn thấy được, như hình ảnh quả táo trên cành, con cò hay cô gái tát nước dưới trăng... hoặc hình ảnh trong tấm ảnh, bức tranh. Hình ảnh thơ là hình ảnh ta cảm nhận được từ lời thơ bằng tư duy, suy tưởng chứ không phải bằng mắt. Nói cách khác : Hình ảnh thơ là hình ảnh cảm nhận được bằng cảm xúc thơ. Hình ảnh thơ có khi được thể kiện bằng nghĩa thực của từ (nghĩa đen), có khi được chuyển hóa từ hình ảnh khác bằng phương pháp tu từ. Nhưng dù bằng phương pháp nào, tả thực hay chuyển hóa, thì hình ảnh thơ cũng phải đẹp, sinh động, giầu sắc thái và giầu ý nghĩa, có khả năng gợi cảm Ví dụ : bài thơ THU VỊNH của Nguyễn Khuyến là bài bài thơ tức cảnh. Hình ảnh trong bài thơ như : Ao thu, chiếc thuyền câu, chiếc lá... là những hình ảnh được thể hiện bằng nghĩa thực của từ ngữ, nhưng nó thơ ở chỗ có sắc thái (nước trong veo, bé tẹo teo), sinh động. Và nó thơ ở chỗ MÙA THU là danh từ trừu trượng, chỉ khoảng thời gian từ đầu tháng 7 đến cuối tháng chín, có ai nhìn thấy mặt mũi mùa thu thế nào đâu, nhưng tất cả những hình ảnh sinh động và đầy mầu sắc trong bài đã chuyển hóa thành một hình ảnh mùa thu đầy quyến rũ Hoặc trong câu thơ của Tố Hữu : Ngôi sao ấy nặn, sáng bình minh – hình ảnh ngôi sao được tác giả chuyển hóa thành hình ảnh Bác bằng phương pháp tu từ. Hay câu thơ : Có một mặt trời trong lăng rất đỏ - Hình ảnh mặt trời được chuyển hóa thành hình ảnh Bác Hồ Bài thơ sau : Trong đầm gì đẹp bằng Sen Lá xanh bông trắng lại xen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Bài thơ rất hay. Nó hay bởi nhiều lẽ, nhưng trước hết và trên hết là bởi có hình ảnh đẹp. Hình ảnh đẹp nên bài thơ hay. Hay đến nỗi hầu như người dân Việt Nam nào cũng thuộc bài thơ này.Hình ảnh trong thơ sẽ đẹp hơn và thơ càng hay nếu tác giả biết kết hợp hình ảnh với các phương pháp khác như : phương pháp đối, so sánh, ẩn dụ... hoặc dùng từ làm hình ảnh trở nên sinh động, có sắc thái. Nếu kết hợp được một lúc nhiều phương pháp thì càng tuyệt vời. Ví dụ bài thơ : Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng con khóc nỉ non...Chỉ cần một phương pháp ẩn dụ thôi mà người mẹ Việt Nam nào cũng dùng để ru con, người Việt Nam nào cũng được mẹ ru bằng bài hát này. Bà ru cháu, mẹ ru con cũng bằng bài thơ này. Đã qua bao thế hệ Việt Nam, bài thơ vẫn giữ nguyên giá trị như mới. Còn câu thơ : Tháp Mười đẹp nhất hoa sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ Thì tác giả đã dùng những hình ảnh có sắc thái (đẹp) kết hợp với các phương pháp so sánh, đối ý (Tháp Mười với Việt Nam, Hoa sen với Bác Hồ), và dùng điệp ngữ (đẹp nhất) khiến vần thơ trở thành nổi tiếng đến mức người Việt Nam nào cũng thuộcNhững vần thơ có hình ảnh sinh động hoặc có sắc thái như : • « ... Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt Nắng soi sương giọt long lanh... » (Tố Hữu – Xuân 61) • « Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm » ( Nguyễn Duy - Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa) Hình ảnh trong các câu thơ trên không bất động như một bức ảnh, bức tranh mà rất sống động : Quả táo thì rung rinh, lại mang sắc thái là ngọt ; Nắng thì soi ; Giọt sương thì long lanh. (Từ long lanh vừa sinh động lại vừa mang sắc thái) . Còn trái hồng, trái bưởi, thì lại đánh đu trên cành như những đúa bé tinh nghịch. Những tứ thơ thật đẹp, ngộ nghĩnh và đáng yêu. hay như bài : Trên trời mây trắng như bông Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây Mấy cô má đỏ hây hây Đội bông như thể đội mây trên trời Bài thơ này cũng được hàng triệu người biết đến vì có những hình ảnh đẹp: người đẹp, cảnh đẹp như thần tiên Hoặc trong câu thơ: “Tiếng ca vắt vẻo trên sườn núi”.(Mùa Thu chín – Hàn Mạc Tử) Động từ “vắt vẻo” đã sinh động lai cụ thể hóa được tiếng ca vốn trừu tượng thành hình ảnh. Thơ thế mới là thơ! Trong thi hội lục bát Vũng Tàu chúng tôi có anh Xuân Nga là tác giả của bài thơ “CÁI LÚM ĐÔNG TIỀN” như sau: CÁI LÚM ĐỒNG TIỀN Em ngồi khỏa nước mạn thuyền Đánh rơi cái lúm đồng tiền xuốn sông Của trời cho có tiếc không Ngu ngơ lặn xuống cất công tôi mò Vô tư em bước lên bờ Tôi chim nghỉm xuống bến đò nhân duyên Đây là một bài thơ hay. Ai nghe lần đầu cũng đã thấy hay. Nó hay cũng ở nhiều lẽ, nhưng tôi còn thấy nó còn hay và đẹp bởi giầu hình ảnh, hình ảnh đẹp và sinh động. Các hình ảnh liên tiếp diễn ra như một đoạn phim trong sáng, tự nhiên, không qua tay một đạo diễn nào dàn dựngQua những ví dụ trên đủ cho ta thấy : Tạo hình ảnh sinh động là khả năng tuyệt vời và là độc quyền của Thơ. Chỉ có thơ mới có quyền năng này. Tôi cũng có vài hình ảnh sinh động trong thơ mà tôi đã họa. Ví như trong bài Thu Cảm : Em ơi thu đã về Trên cây bàng trước ngõ Lá chuyển dần thành đỏ Theo độ gió heo may … Tiếng lá chao nhè nhẹ … Hình ảnh cây Bàng trước ngõ không tĩnh tại như một bức ảnh chụp hay một bức tranh vẽ mà là hình ảnh sống động thể hiện qua: Lá từ mầu xanh chuyển dần dần sang mầu đỏ. Người đọc có thể nhìn thấy sự chuyển hoá của chiếc lá mà bằng mắt thường không nhìn thấy được. Mà sự chuyển biến này cũng rất cụ thể khi nhanh, khi chậm theo cường độ của gió heo may. Và hình ảnh chiếc lá rơi không “bay vèo” như trong bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến mà chao đi rồi lại chao lại, nhẹ nhàng. Câu thơ có hình ảnh (lá rơi) có âm thanh (tiếng) có sắc thái và dùng từ láy “nhè nhẹ” gợi cho người đọc thấy một không gian mùa Thu tĩnh mịch, êm đềm. Bằng kinh nghiệm của tôi, tôi thấy tạo hình ảnh sinh động hoặc có sắc thái cho thơ không khó. Muốn hình ảnh sinh động chỉ cần cho hình ảnh đi kèm với một động từ phù hợp. Muốn hình ảnh có sắc thái thì cho hình ảnh đi cùng một tính từ. Vấn đề là ở chỗ người làm thơ luôn có ý thức đưa hình ảnh vào thơ và tìm được hình ảnh phù hợp. Và tôi có lời khuyên người làm thơ: Hãy dùng hình ảnh làm một thứ ngôn ngữ để thể hiện thơ! Trên đây là một số ý kiến của tôi về vấn đề nâng cao chất lượng thơ. Rất mong rằng không làm khổ tai các thi huynh. Còn nếu giúp được cho thi huynh điều gì thì càng tốt. Chúc các thi khuynh làm được nhiều thơ hay. Vũng Tàu ngày 10 tháng 9 năm 2014 0 Comments |
Create your own unique website with customizable templates. Get Started Từ khóa » Tiểu Luận Về Cách Gieo Vần Trong Thơ Hiện đại
-
Tiểu Luận Cách Gieo Vần Trong Thơ Hiện Đại
-
ết Tiểu Luận Về Cách Gieo Vần Trong Thơ Hiện Đại Từ Năm 2000 ...
-
Vần Và Nhịp Trong Thơ Việt Nam đương đại - Tài Liệu Text - 123doc
-
Kỹ Thuật Thơ Việt Nam Hiện đại Và Tiêu Chuẩn đánh Giá Một Bài Thơ
-
Luật Làm Thơ Hiện đại - Website Của Thân Thị Hoàng Oanh
-
[PDF] Vần, Nhịp Và Phương Thức Tạo Nghĩa Trong Thơ - VNU
-
Nhịp điệu Trong Thơ Tự Do Của Mai Văn Phấn (Khóa Luận Tốt Nghiệp ...
-
Luận án Ngôn Ngữ Học Lục Bát Và Ngôn Ngữ Thơ Lục Bát đồng đức Bốn
-
Đặc điểm Ngôn Ngữ Thơ Mai Văn Phấn (Luận Văn Thạc Sĩ) – Phan Thị ...
-
Tiếp Nhận Truyện Kiều Dưới Góc Nhìn “Thi Trung Hữu Nhạc” 1
-
Từ đồng Dao đến Thơ Hiện đại: Trường Hợp Trần Dần
-
Cách Làm Thơ Hiện đại
-
Nghệ Thuật Gieo Vần Trong Ca Dao - Dân Ca Xứ Nghệ - TailieuXANH
-
Sự Vận động Thể Loại Của Luật Tuyệt Trong Tiến Trình Thơ Trung đại ...




RSS Feed