Lúng Liếng Là Lúng Liếng ơi | Ca Dao Mẹ
Có thể bạn quan tâm
- Lúng liếng là lúng liếng ơi
Lúng liếng là lúng liếng ơi Miệng cười lúng liếng có đôi đồng tiền Tôi với người muốn kết nhân duyên
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Thẻ:
- quan họ
- Người đăng: Phan An
- 14 March,2014
Bình luận - Chủ đề:
- Bạc với vàng còn đen còn đỏ
Bạc với vàng còn đen còn đỏ, Đôi đứa mình còn nhỏ thương nhiều, Vừa nghe em là anh muốn như anh Kim Trọng thương chị Thúy Kiều thuở xưa
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Thẻ:
- truyện Kiều
- Người đăng: Phan An
- 28 October,2025
- Chủ đề:
- Vườn em đã có choẻn cau
Vườn em đã có choẻn cau Nhà anh có chiếc cơi son đợi chờ Anh về thưa mẹ với thầy Anh sang làm rể tết nầy là xong
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Người đăng: Nguiễn Sơn
- 5 January,2023
- Chủ đề:
- Ới o nho nhỏ bức cỏ hái dâu
Ới o nho nhỏ bức cỏ hái dâu Bước qua năm nữa tôi bưng trầu cưới o
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Người đăng: Nguiễn Sơn
- 29 August,2022
- Chủ đề:
- Chưa chồng thì liệu đi nghe
Chưa chồng thì liệu đi nghe Để bác mẹ liệu thì huê em tàn Có thì liệu lấy mới ngoan Để bác mẹ liệu thế gian đã đành
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Người đăng: Phan An
- 14 April,2022
- Chủ đề:
- Trông chờ đèn tắt bếp vùi
Trông chờ đèn tắt bếp vùi Để anh sẽ nói vài lời vân vi
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Người đăng: Phan An
- 14 April,2022
- Chủ đề:
- Thương ai thương mãi thế ni
Thương ai thương mãi thế ni Có đò chống quách đò đi cho rồi
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Người đăng: Phan An
- 13 April,2022
- Chủ đề:
- Anh về cho em về theo
Anh về cho em về theo Bác mẹ có đánh ta leo lên giàn
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Người đăng: Phan An
- 13 April,2022
- Chủ đề:
- Thường khi đi nhớ về thương
Thường khi đi nhớ về thương Ước chi em được tựa tường ví anh
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Người đăng: Phan An
- 10 April,2022
- Chủ đề:
- Con chim quỳnh nhung ăn trái quỳnh châu
Con chim quỳnh nhung ăn trái quỳnh châu Chàng đà phụ thiếp thiếp đâu phụ chàng Không tới lui thì ra chỗ từ nan Tới lui thì sợ miệng thế gian chê cười Nguyện cùng nhau đất chín trời mười Trăm năm không bỏ nghĩa người bạn ơi!
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Thẻ:
- chung thủy
- Người đăng: Phan An
- 10 April,2022
- Chủ đề:
- Ba năm thẻ cắm, nêu trồng
Ba năm thẻ cắm, nêu trồng Nếu anh có vợ, đền chồng cho em
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Người đăng: Phan An
- 9 April,2022
- Chủ đề:
- Cơm hẩm ăn với rau dưa
Cơm hẩm ăn với rau dưa, Quan họ làm khách em chưa vừa lòng
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Vũ trụ, con người và xã hội
- Thẻ:
- cơm
- quan họ
- rau dưa
- Người đăng: Phan An
- 6 March,2019
- Chủ đề:
- Hừ la vui vẻ thế này
Hừ la vui vẻ thế này Hội nào bằng hội xe dây trăng già
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Thẻ:
- quan họ
- Người đăng: Phan An
- 1 April,2016
- Chủ đề:
- Cơm nước đã ngơi
Cơm nước đã ngơi Xin anh ngồi chơi Đôi dân cách trở Đường cái xa xôi Chẳng đâu hơn nữa, anh ơi!
Cơm nước đã ngơi Xin chị ngồi chơi Để em cổ lệ Xin chị đừng nệ Đường cái xa xôi Chẳng đâu hơn nữa, chị ơi!
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Thẻ:
- hát ghẹo
- giọng sổng
- quan họ
- Người đăng: Phan An
- 21 September,2014
- Chủ đề:
- Lác đác lộc cơi
Lác đác lộc cơi Đôi dân nước nghĩa hồ vơi lại đầy Tháng giêng năm nay, ngoài em mở tiệc Cắt đôi mối việc vào mời trong anh Dân anh ở xa, mời anh ra trước Việc đồng cùng rước chỉ có đôi chân Cắt bốn trai tân để vào chân kiệu Ba hồi trống giục, kiệu cất lên vai Chân đi hàng hai, chân rùm chân bước Ba hồi trống trước, chân bước cho mau Tâm tình anh trước em sau
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Quê hương đất nước
- Thẻ:
- quan họ
- Hùng Nhĩ
- Người đăng: Phan An
- 15 April,2014
- Chủ đề:
- Lác đác lộc cơi
Lác đác lộc cơi Đôi dân nước nghĩa hồ vơi lại đầy Tháng chín năm nay phong vân gặp hội Lòng em bối rối, trong dạ khát khao Em mong chị ra để mà than thở Đôi dân cách trở, đường đất xa xôi Tơ hồng xe rồi, sao chị chẳng liệu? Ngoài em thì tiếu, trong chị thì đài Để em chờ đợi đến hôm mai
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Thẻ:
- quan họ
- Hùng Nhĩ
- Người đăng: Phan An
- 15 April,2014
- Chủ đề:
- Lác đác lộc hồng
Lác đác lộc hồng Em chưa có chồng Lấy anh nương tựa Anh chưa có vợ Lấy em tựa nương Kẻo còn đi nhớ về thương.
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Thẻ:
- quan họ
- Người đăng: Phan An
- 15 April,2014
- Chủ đề:
- Mồng năm chợ Ó
Mồng năm chợ Ó Quan họ dồn về Hội vui lắm lắm Chưa kịp đi tắm Chưa kịp gội đầu Trầu chửa kịp têm Cau chưa kịp bổ Miếng lành, miếng sổ Miếng lại quên vôi Người có yêu tôi Thì người cầm lấy Các anh đứng đấy Thầy mẹ đứng đâu? Mời lại xơi trầu Mừng cho dâu mới Mặt trời đã tối Đám hội đã tàn Ai có hồng nhan Mang ra chơi hội Dưới sông múa rối Trên bãi trồng vừng Một đấu, một thưng Bằng nhau như tiện Như tiện như tề Kẻo thế gian chê Chồng cao vợ thấp!
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Quê hương đất nước
- Thẻ:
- quan họ
- làng Ó
- hát đúm
- Người đăng: Phan An
- 15 April,2014
- Chủ đề:
- Thơ đúm
Sớm đi chơi hội Tối về quay tơ Dải yếm phất phơ Miếng trầu, mồi thuốc Miếng ăn, miếng buộc Miếng gối đầu giường Muốn tìm người thương Tìm đâu cho thấy? Đôi tay nâng lấy Cất lấy thoi vàng Cái sợi nằm ngang Đứt đâu nối đấy
Đầu rối biếng gỡ Tơ rối biếng quay Lông mặt lông mày Sao anh biếng đánh Quần hồ áo cánh Bác mẹ sắm sanh May áo để dành Cho anh mặc mát Anh mặc cho mát Anh xếp cho gãy nếp ra Bác mẹ tuổi già Con thơ vấn vít …
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Thẻ:
- quan họ
- Người đăng: Phan An
- 17 March,2014
- Chủ đề:
- Con chim chiền chiện
Con chim chiền chiện Là con chim non Nó kêu trên núi, trên non âu sầu Nó kêu rằng: bốn chúng tôi phải lòng nhau
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Thẻ:
- quan họ
- chiền chiện
- Người đăng: Phan An
- 17 March,2014
- Chủ đề:
- Ở đây gần miếu xa chùa
Ở đây gần miếu xa chùa Không yêu, em cấy đạo bùa cho yêu
Thông tin thêm- Chủ đề:
- Tình yêu đôi lứa
- Thẻ:
- quan họ
- Người đăng: Phan An
- 17 March,2014
- Chủ đề:
- Kim Trọng Một nhân vật trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Kim Trọng là một thư sinh hào hoa phong nhã, bạn học của Vương Quan (em ruột Thúy Kiều). Kiều và Kim Trọng gặp và đem lòng yêu nhau. Khi phải bán mình chuộc cha, Kiều nhờ em là Thúy Vân thay mình gá nghĩa cùng Kim Trọng. Sau mười lăm năm lưu lạc, hai người lại đoàn viên.
- Thúy Kiều Nhân vật chính trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Thúy Kiều là một người con gái tài sắc vẹn toàn, vì bán mình chuộc cha mà phải trải qua mười lăm năm lưu lạc, gặp nhiều đắng cay khổ sở, "thanh lâu hai lượt thanh y hai lần," cuối cùng mới được đoàn viên cùng người tình là Kim Trọng.
- O Cô, cô gái, thím (phương ngữ miền Trung). Trong gia đình, o cũng dùng để chỉ em gái của chồng.
- Bác mẹ Cha mẹ (từ cổ).
- Huê Hoa (phương ngữ Trung và Nam Bộ). Gọi như thế do kiêng húy tên của bà Hồ Thị Hoa, chính phi của hoàng tử Đảm (về sau là vua Minh Mạng).
- Vân vi Đầu đuôi câu chuyện, đầu đuôi sự tình (từ cũ).
- Ni Này, nay (phương ngữ miền Trung).
- Ví Với. Từ này ở Trung và Nam Bộ phát âm thành dí.
- Cắm thẻ ruộng Cắm thẻ để nhận và xác định chủ quyền của một mảnh ruộng.
- Cắm nêu ruộng Cắm cây nêu để báo cho mọi người biết là ruộng đang bị tranh chấp hay bị thiếu thuế, không ai được mua lúa, gặt hái.
- Hừ la Một điệu quan họ cổ, rất khó hát và khó thuộc, bắt đầu bằng mấy tiếng “hừ là hừ la…” Đọc thêm: Bao giờ câu quan họ Hừ la lại vang lên?
- Nguyệt Lão Đời nhà Đường, có một người tên là Vi Cố đi kén vợ, gặp một ông cụ ngồi dựa túi xem sách dưới bóng trăng. Anh ta hỏi, thì ông cụ bảo sách ấy chép tên những người lấy nhau và túi ấy đựng những sợi chỉ hồng (xích thằng) để buộc chân hai người phải lấy nhau, không sao gỡ ra được nữa. Anh ta hỏi phải lấy ai, thì ông cụ chỉ một đứa bé lên ba tuổi ở trong tay một người đàn bà chột mắt đem rau ra bán ở chợ mà bảo đó là vợ Vi Cố. Vi Cố giận, sai người đâm con bé ấy, nhưng nó chỉ bị thương. Mười bốn năm sau, quả nhiên Vi Cố lấy người con gái ấy. Chữ "nguyệt lão" chúng ta thường dịch nôm na là "trăng già." Hai chữ "Ông Tơ" và "Bà Nguyệt" cũng bởi tích ấy mà ra, dùng chỉ vị thần lo chuyện kết nhân duyên. Mối nhân duyên cũng do thế mà thường được gọi là "mối tơ." Xem thêm: Hình tượng Ông Tơ Bà Nguyệt trong văn hóa dân gian.
Ông Tơ Nguyệt
- Cổ lệ Hát lên để mừng, mở đầu cuộc vui.
- Giọng sổng Phần thứ hai trong bốn phần của một cuộc hát ghẹo Vĩnh Phúc. Các bài giọng sổng trước hết nói về thời tiết, thiên nhiên, rồi đi đến chuyện chính là nỗi niềm tâm sự.
- Cơi Một loại cây có lá nhỏ dài, dùng để nhuộm vải thành màu vàng lục sẫm hoặc để đánh bả cá. Theo Văn học dân gian (NXB Văn Học, 1977): Loại cây này ở xã Hùng Nhĩ, dọc bờ suối và bờ sông Bứa thấy mọc rất nhiều.
Lá cơi
- Nước nghĩa Tục lệ kết nghĩa giữa hai làng với nhau. Đây là phong tục từ xưa của hai dân tộc Việt-Mường tại làng Hùng Nhĩ, tỉnh Phú Thọ.
- Cắt đôi mối việc Cử một hay hai người thay mặt mình.
- Chân kiệu Người khiêng kiệu.
- Phong vân Phong: gió, vân: mây. Gặp hội phong vân, tức Tế hội phong vân 際會風雲, chỉ sự kẻ hiền tài gặp thời được dùng, công danh hiển đạt. Kinh Dịch: "Ðồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, thuỷ lưu thấp, hoả tựu táo, vân tòng long, phong tòng hổ, thánh nhân tác nhi vạn vật đổ" (Ðồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, nước chảy xuống thấp, lửa bén tới chỗ khô, mây bay theo rồng, gió bay theo cọp, thánh nhân xuất hiện mà vạn vật trông vào).
- Theo Văn học dân gian (NXB Văn Học, 1977): Có người giải thích, tiếu (tiểu) là thiếu, đài (đại) là đủ, do nhân dân địa phương quen miệng nói chệch ra. Cũng có người giải thích: xưa kia khi cúng tế thường có lễ xin âm dương để bói xem lành dữ, xấu tốt, khi xem âm dương người ta thường lấy hai đồng tiền gieo lên trên một cái đĩa, nếu sấp một, ngửa một thì gọi là đài (tốt), cả hai đều ngửa là tiếu (còn gọi là cười, tức là thần cười, thần chưa bằng lòng). Nhưng nói chung tiếu và đài ở đây có ý chỉ mối tình duyên hai người chưa hợp.
- Hồng Loại cây cho trái, khi chín có màu vàng cam hoặc đỏ. Tùy theo giống hồng mà quả có thể giòn hoặc mềm, ngọt hoặc còn vị chát khi chín.
Quả hồng
- Xuân Ổ Tên Nôm là làng Ó, một làng nay là hai thôn Xuân Ổ A và Xuân Ổ B thuộc phường Bắc Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, xưa thuộc tổng Khắc Niệm, huyện Tiên Du. Hằng năm vào mồng 5 Tết, làng mở hội thờ cúng Thành hoàng và hát quan họ. Chợ làng trước đây gọi là chợ Ó, nay không còn. Trước ngày vào đám, chập tối ngày mùng 4, làng nhóm họp chợ phiên. Phiên chợ Ó vừa tan, nhiều quán trầu của các cụ bà mọc lên, theo đó ''liền anh, liền chị'' mời nhau vào ngồi xơi trầu, rồi bắt đầu cuộc hát (xem thêm).
- Quan họ Lối hát dân gian của vùng đồng bằng Bắc Bộ, tập trung ở vùng văn hóa Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Quan họ được chia làm hai loại: Quan họ truyền thống chỉ tồn tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ Kinh Bắc với những quy định nghiêm ngặt, khắt khe, đòi hỏi liền anh, liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ, không có nhạc đệm và chủ yếu là hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội ở các làng quê. Quan họ mới còn được gọi là "hát Quan họ," có nhiều hình thức biểu diễn phong phú hơn, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa, được biểu diễn trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội...
Năm 2009, cùng đợt với ca trù, quan họ được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại sau nhã nhạc cung đình Huế và không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên.
Giã bạn - Người ơi người ở đừng về - Đến hẹn lại lên (Quan họ Bắc Ninh)
- Má hồng Từ chữ hồng nhan (cũng nói là hường nhan ở Nam Bộ), từ dùng trong văn thơ cổ chỉ người con gái đẹp.
Phận hồng nhan có mong manh Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương (Truyện Kiều)
- Đấu Đồ dùng để đong thóc gạo ngày trước, bằng khoảng một lít hiện nay.
- Thưng Đồ đo lường, bằng một phần mười cái đấu ("thưng" do chữ "thăng" 升 đọc trạnh ra).
Thưng bằng đồng
- Tiện Gọt vòng quanh cho đứt hoặc tạo thành khía.
- Tề Cắt bớt.
- Trầu Còn gọi là trầu không, một loại dây leo dùng làm gia vị hoặc làm thuốc. Lá trầu được nhai cùng với vôi tôi hay vôi sống và quả cau, tạo nên một miếng trầu. Ở nước ta có hai loại trầu chính là trầu mỡ và trầu quế. Lá trầu mỡ to bản, dễ trồng. Trầu quế có vị cay, lá nhỏ được ưa chuộng hơn trong tục ăn trầu.
Người xưa có phong tục mời ăn trầu khi gặp nhau. Trầu cau tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, vợ chồng, nên là một lễ vật không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi.
Lá trầu không
Một miếng trầu
Nghe nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền hát bài Hoa cau vườn trầu.
- Thuốc xỉa Một nhúm thuốc lào được ngậm bằng môi trên trong lúc ăn trầu để tẩy cổ trầu (nước bọt có màu hồng) và xác trầu bám vào răng. Động tác bỏ thuốc xỉa vào miệng gọi là xỉa thuốc.
- Con thoi Bộ phận của khung cửi hay máy dệt, ở giữa phình to, hai đầu thon dần và nhọn (vì vậy có hình thoi), có lắp suốt để luồn sợi.
Máy dệt và con thoi
- Hồ Kĩ thuật làm cho sợi dệt hoặc vải thấm đều một lớp nước có pha lớp bột hoặc keo cho cứng.
- Sơn ca Cũng gọi là chiền chiện, chà chiện ở Quảng Nam hoặc cà lơi ở Huế, một giống chim thuộc họ chim sẻ, có tiếng hót lảnh lót và kiểu bay liệng lạ mắt. Loài này thường làm tổ ở mặt đất hoặc nơi không cao lắm so với mặt đất. Thức ăn chính là côn trùng.
Chim sơn ca
Từ khóa » Bài Thơ Lúng Liếng
-
Bài Thơ: Lúng Liếng… (Nguyễn Thị Thanh Yến) - Thi Viện
-
Bài Thơ: Lúng Liếng (Đào Phong Lan) - Thi Viện
-
Lúng Liếng à! Lúng Liếng ơi! - Phạm Thanh Hà - Thư Viện Thơ Hay
-
Tìm Bài Thơ "lúng La Lúng Liếng" (kiếm được 5 Bài) - TKaraoke
-
Thơ 1-2-3 Của Trần Thị Hồng Anh: Lúng Liếng Nụ Cười Ngày Hò Hẹn
-
Bài Thơ Lúng Liếng ơi Của Vũ Nho
-
Lúng Liếng Hoàng Cầm | HỆ VĂN HÓA ĐỜI SỐNG KHOA GIÁO
-
Nam Đan - Lúng Liếng Là Lúng Liếng ơi - Talawas
-
Thơ: Những Con Mắt ( Chủ đề : Bản Thân )
-
Bài Thơ Những Con Mắt - Lời Bài Thơ Chi Tiết Và Giáo Án Tham Khảo
-
Lúng Liếng ơi! Lóng Lánh ơi! - Tìm Hiểu Nghệ Thuật Dân Ca Quan Họ
-
Lúng Liếng Hoàng Cầm
-
Các Bạn Có Thể Giúp Tôi Bài Này đc Ko