Ngữ Pháp Thánh Kinh Hy-Bá-Lai Căn Bản -Tiếng Việt (Basics Of ...
Có thể bạn quan tâm
Lời Mở Đầu: Ngữ Pháp Thánh Kinh Hy-Bá-Lai (Hi-Bru) Căn Bản bằng Tiếng Việt — Cổ Ngữ của Người Hê-bơ-rơ trong thời kỳ Cựu Ước I. Nguồn Gốc Cổ Ngữ Hi-bru Nói về ngôn ngữ trong Cựu Ước, thì từ khi con người bắt đầu được dựng nên cho đến thời kỳ tháp Ba-bên được xây cất, Kinh Thánh cho biết chỉ có một giọng nói và một thứ tiếng duy nhất mà con người xử dụng trong đối thoại hằng ngày cho đến khi Đức Giê-hô va làm lộn xộn tiếng nói của con người khi họ dự định xây một cái thành và tháp của loài người với hy vọng có thể lên đến tận trời cao kia (Sáng-thế-ký 10:1-9). Do đó, vào khoảng thời gian này, người Sumer (từ vùng đất Sumer, được gọi là Si-nê-a (Shinar) trong Kinh thánh (Sáng-thế- ký 10:10), nói một thứ tiếng không phải là Semitic (thuộc nhóm ngôn ngữ gốc), xuất hiện ở miền Nam Mesopotamia, và các học giả nghiên cứu về lịch sử Cựu Ước tin rằng người Sumer có liên quan đến những người sống giữa biển đen và biển Caspia; còn được gọi là người Scythia, con cháu của con trai Noah, Japheth, là "Scythian." Cũng vào khoảng thời gian đó người Sumer xuất hiện ở Mesopotamia, cùng với một nền văn minh khác xuất hiện ở miền Nam, là người Ai Cập. Ngôn ngữ gốc của người Ai Cập là Hamitic (đến từ dòng dõi của Cham (Ham), con thứ hai của Nô-ê) và cũng không liên quan đến ngôn ngữ gốc Semitic. Trong suốt thời kỳ của người Sumer và người Ai Cập, người Semitic (có ngôn ngữ thuộc Semitic) sống ở Sumeria thì họ đã du hành về phía tây thành đất Canaan. Riêng về ngôn ngữ thuộc nhóm Semitic này; trong đó có Tiếng Hi-bru, thì được quy vào nhóm W là ngôn ngữ thuộc các dân tộc đang sinh sống ở vùng phía tây. Từ “Semitic” được hình thành từ tên của Shem, con trai của Noah. Ngôn ngữ này cũng được cho là gần nhất liên quan đến ngôn ngữ cổ như Ugarit, và Phoenician và Moabite. Có vẻ như sau tháp Babel, thì con cháu của Gia-phết đã đi về phía Bắc, và họ sử dụng ngôn ngữ của riêng họ (Sáng-thế-ký 10:2-5), con cháu của Cham (Ham) đi về phía tây nam bằng ngôn ngữ của riêng họ, còn người Semites thì lại đi về phía tây và sử dụng ngôn ngữ riêng Semitic đó của họ. "Đó là lý do tại sao nó được gọi là Babel - bởi vì ở đó Đức Giê-hô-va đã làm bối rối ngôn ngữ của thế giới, và từ nơi đó, Đức Giê-hô-va đã phân tán họ khắp mặt đất" (Sáng thế ký 11.9). Vậy thì ngôn ngữ mà con người sử dụng trước khi tháp Babel được xây dựng là ngôn ngữ gì? Khi Đức Chúa Trời tạo ra A-đam, và đem con người vào vườn Ê-đen, thì Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn…” (Sáng thế ký 2:16) chỉ ra rằng Đức Chúa Trời đã ban cho A-đam một ngôn ngữ và ngôn ngữ này đến từ chính Thiên Chúa, chứ không phải qua sự tiến triển của những tiếng lẩm bẩm hay kêu ca của loài người sinh sống trong các hang động. Nếu chúng ta nhìn vào tất cả các tên của con cháu, dòng dõi, của A-đam, chúng ta thấy rằng tất cả những cái tên từ A-đam cho đến Nô-ê và dòng dõi của họ đều là tên Hi-bru, có ý nghĩa bằng tiếng Hi-bru (tiếng nói của người Hê-bơ-rơ). Ngoài ra, theo truyền thống của người Do Thái cũng như một số học giả Kinh Thánh ngày nay, tin rằng tiếng nói của người Hê-bơ-rơ (phát âm theo Tiếng Việt: Hi-bru) là ngôn ngữ thuộc dòng Semitic và ngoài ra, còn có các thứ tiếng khác nhau thuộc dân số đang sinh sống ở những vùng miền khác nhau. Riêng trong Sáng-thế-ký5:21-27 chúng ta sẽ thấy tên Methuselah là tiếng Hi-bru và tên của ông có nghĩa là: "người quyết thắng/người của gươm giáo/người dõng sĩ hay còn gọi là ‘cái chết của ông sẽ mang lại sự phán quyết/phán xét." (lũ lụt cũng đã xảy ra trong năm mà ông qua đời). Cho nên, không phải đợi cho đến khi chúng ta biết đến con cháu của Nô-ê thì chúng ta mới tìm thấy những cái tên có ngôn ngữ khác tiếng nói của người Hê-bơ-rơ (Hi-bru). Chẳng hạn, tên Nimrod (Sáng thế ký 10:8-9), là cháu của Cham, và danh xưng này không có nguồn gốc của người Hê-bơ-rơ mà là một tên gọi được đặt từ bên ngoài xứ, và được cho là tên có nguồn gốc từ xứ Babylon. Từ בָּבֶל còn có nghĩa là Babylon, mà người bản xứ tại A-si-ri gọi danh từ בָּבֶל (Babel hoặc Babylon) là “Cổng Trời,” và có lẽ là Tháp Babel khi câu 10 nói, “nước người sơ lập là Ba-bên, và cũng là người lập thành Ni-ni-ve (c.11). Danh từ “Nimrod” có thể là danh xưng cho một vị hoàng tử hoặc vua của Babylôn lúc bấy giờ, hoặc được xem như là một vị thần của người Babylôn lúc bấy giờ. Danh từ “Nimrod” phát âm theo tiếng Hi-bru נִמְרֹד (vì danh từ này không có nguồn gốc từ tiếng Hi-bru của người Hê-bơ-rơ) thì được hiểu trùng âm với từ מָרַד (Ma-Rad) trong tiếng Hi-bru có nghĩa là “nổi loạn/kẻ nổi loạn.” Nếu chúng ta xem lại dòng dõi của Sem/Shem (Sáng-thế-ký 10:21) thì có đề cập đến tổ phụ của họ là Hê-be. Từ Hê-be עֵ֔בֶר là danh từ thường được sử dụng để đặt tên cho người Hê-bơ-rơ lúc bấy giờ, và từ Eber (Hê-be) nầy là danh xưng ở ngôi thứ ba số ít và là giống đực; nói cách khác, từ Hê-be hay Hê-brơ là đọc theo nguyên văn (עֵ֔בֶר). Từ này có lẽ được xem là đồng nghĩa với âm Hê-brơ khi người Hê-bơ-rơ phát âm, bởi bộ chữ của từ này trùng với từ עִבְרִי (iv-Ri) khi phát âm. Thêm vào đó, danh từ “người Hê-bơ-rơ” trong Sáng-thế-ký 14:13 cũng xác định Áp-ram là người Hê-bơ-rơ (הָעִבְרִ֑י), và một lần nữa trong Xuất Ê-díp-tô-ký 2:6 chính Môi-se cũng được xác định là một trong những người Hê-brơ; đó là lý do trong Kinh Thánh bản Hebrew thường gọi con cái dân I-sơ-ra-ên là người Hê-bơ-rơ. Theo Sáng-thế-ký 10:24 thì Hê-be hay còn gọi là Eber (Hê-brơ) chính là tổ tiên của Áp-ra-ham và Môi-se vậy.
... Read moreTừ khóa » Từ điển Kinh Thánh Anh Việt Pdf
-
Tải Về Từ Điển Kinh Thánh Anh Việt (Minh Họa Và Sách Dẫn) Miễn ...
-
Từ Điển Kinh Thánh Anh Việt (Minh Họa Và Sách Dẫn)
-
Từ điển Kinh Thác .pdf - Free Download
-
[Tải PDF] Từ Điển Kinh Thánh Anh Việt (Minh Họa Và Sách Dẫn) PDF
-
Từ Điển Kinh Thánh Anh Việt (Minh Họa Và Sách Dẫn) - Ham Học
-
Từ điển Kinh Thác .pdf Tải Xuống Miễn Phí! - Tìm Văn Bản
-
Sá - Sách Từ Điển Kinh Thánh Anh Việt (Minh Họa Và...
-
Tự Điển Thánh Kinh
-
TỰ ÐIỂN KINH THÁNH ABC |
-
Từ điển Thần Học - Học Kinh Thánh
-
[PDF] THÁNH KINH VIỆT NGỮ
-
Học Kinh Thánh - Weebly