Phép đo Niệu Dòng - Lý Thuyết, Thực Hành & Phân Loại Niệu Dòng đồ
Có thể bạn quan tâm
Bài viết trình bày phép đo niệu dòng là phương pháp duy nhất không xâm nhập trong số các khảo sát niệu động học. Cách đo khá đơn giản, kết quả đo khá hữu ích cho nhận định lâm sàng, nên phép đo niệu dòng rất thường được chỉ định nhằm đánh giá tình trạng bế tắc đường tiểu dưới. Từ tháng 9/2002, phòng Chẩn đoán Niệu động học được thành lập bao gồm các máy đo niệu dòng. Bài viết này trình bày một số các kết quả điển hình của niệu dòng đồ mà chúng tôi đã thực hiện trong 1 năm qua, được sắp xếp phân loại để dễ theo dõi và đánh giá.
Trang 128 PHÉP ĐO NIỆU DÒNG - LÝ THUYẾT, THỰC HÀNH & PHÂN LOẠI
NIỆU DÒNG ĐỒ
Nguyễn Văn Ân*
TÓM TẮT
Phép đo niệu dòng là phương pháp duy nhất không xâm nhập trong số các khảo sát niệu động học Cách
đo khá đơn giản, kết quả đo khá hữu ích cho nhận định lâm sàng, nên phép đo niệu dòng rất thường được chỉ định nhằm đánh giá tình trạng bế tắc đường tiểu dưới Từ tháng 9/2002, phòng Chẩn đoán Niệu động học được thành lập bao gồm các máy đo niệu dòng Bài viết này trình bày một số các kết quả điển hình của niệu dòng đồ mà chúng tôi đã thực hiện trong 1 năm qua, được sắp xếp phân loại để dễ theo dõi và đánh giá
UROFLOWMETRY – THEORY, PRACTICE AND CLASSIFICATION
Nguyen Van An * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 8 * Supplement of No 1 * 2004: 187 -
– Uroflowmetry is the only invasive one among urodynamic studies Method of the measurement is simple and results of the study are useful for clinical assessment, therefore uroflowmetry is usually demanded to evaluate the possibility of lower urinary obstruction Since September 2002, the Urodynamic Studies Unit has been established which comprises uroflowmeters We present the typical results that we have practised for one year The uroflows are classified to be followed and evaluated easily
UROFLOWMETRY – THEORY, PRACTICE AND CLASSIFICATION
GIỚI THIỆU:
Nghiên cứu niệu động học (NĐH) (urodynamic
studies) có vai trò quan trọng trong việc đánh giá các
bệnh nhân bị rối loạn chức năng đi tiểu như tiểu khó,
tiểu không kiểm soát, những rối loạn đi tiểu do
nguyên nhân thần kinh
Niệu dòng (urinary flow) là sản phẩm của sự co
bóp cơ chóp bàng quang chống lại kháng lực dòng ra
của đường tiểu dưới Sự bất thường của tốc độ niệu
dòng có thể phản ánh nhữngï rối loạn chức năng của
cơ chóp hoặc của dòng ra
Phép đo niệu dòng (uroflowmetry) là biện pháp
đánh giá sự biến thiên của tốc độ dòng tiểu theo thời
gian, được tính bằng ml/giây Đây là phép đo thường
được chỉ định nhiều nhất trong số những phép đo
niệu động học, một mặt vì phương pháp thực hiện
khá đơn giản, mặt khác vì đây là phép đo duy nhất
không xâm nhập (invasive) trong số các phép đo
NĐH
Niệu dòng kế (uroflowmeters) là thiết bị dùng để
thực hiện phép đo niệu dòng Niệu dòng kế đầu tiên được dùng ở cuối thế kỷ 19 áp dụng nguyên tắc thay
thế khí (air replacement), nay không còn dùng nữa
Trước khi ra đời những máy đo hiện đại, người ta cũng đo bằng đồng hồ bấm giây với cốc hứng: tỉ số giữa lượng tiểu hứng được với thời gian đi tiểu chính là lưu lượng tiểu trung bình Hiện nay các máy đo niệu dòng được chế tạo theo ba phương pháp thông
dụng: (a) phương pháp đo trọng lượng (gravimetric
method), (b) phương pháp đĩa quay (rotating disk method) và (c) phương pháp que thăm dò điện tử
(electronic dipstick method) Hiện nay, bệnh viện
Bình Dân có 2 máy đo, 1 theo phương pháp đo trọng
Trang 2lượng và 1 theo phương pháp đĩa quay
CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA NIỆU DÒNG ĐỒ
Sau khi thực hiện phép đo niệu dòng, máy đo sẽ
ghi lại một biểu đồ Dưới đây là hình ảnh một niệu
dòng đồ chuẩn Sự đánh giá niệu dòng đồ sẽ dựa trên
các chỉ số: lượng tiểu, lưu lượng tiểu cực đại, thời gian
đi tiểu, thời gian đạt đến lưu lượng tiểu cực đại, lưu
lượng tiểu trung bình và dạng biểu đồ (xem hình 1)
Hình 1 – Niệu dòng đồ chuẩn – theo Klarskov &
Mortensen [7]
Lượng tiểu (voided volume)
Để diễn dịch cho chính xác, cần phải có một
lượng tiểu không quá ít (không dưới 150 ml) Ngược
lại, nếu bàng quang quá căng chướng quá mức (trên
550 ml) cũng sẽ làm giảm sức co bóp của detrusor và
ảnh hưởng đến kết quả niệu dòng đồ Khoảng cho
phép để đánh giá niệu dòng đồ là 150 – 550 ml, mà lý
tưởng nhất là trong khoảng 200 – 400 ml
Lưu lượng tiểu cực đại - Q max
(maximum flow rate)
Là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá niệu dòng
+ Theo Buzelin (1993) [1] thì nếu trị số Q max >
15 ml/s có thể xem là trong giới hạn bình thường Đối
với Klarskov & Mortensen (1999) [2] thì giới hạn dưới
của các giá trị Q max bình thường là 15 ml/s đối với
nam giới và 20 ml/s đối với nữ giới Còn Tanagho
(2000) [3] thì cho rằng Q max bình thường ở nam giới
từ 20 – 25 ml/s, ở nữ giới từ 25 – 30 ml/s Nhưng
nhìn chung thì > 20 ml/s có thể xem là bình thường,
< 15 ml/s thì nghi ngờ có bế tắc, còn < 10 ml/s thì
chắc chắn là có bế tắc đường tiểu dưới
+ Buzelin (1993) [1] và Klarskov & Mortensen (1999) [2] cùng cho rằng, giảm lưu lượng tiểu theo tuổi tác là hiện tượng tự nhiên do suy yếu sức co bóp của cơ chỏm bàng quang và có thể kết hợp với sự phì đại tuyến tiền liệt ở người đàn ông lớn tuổi Hậu quả là sau 40 tuổi, Q max giảm đi 2 ml/s sau mỗi 10 năm
ở nam giới Đối với phụ nữ, Q max không phụ thuộc tuổi tác (Jorgensen & Jensen) [4]
Dạng biểu đồ niệu dòng (flow curve pattern)
Lưu lượng tiểu
Thời gian dòng tiểu
Lưu lượng tiểu cực đại Lượng tiểu
Bình thường, đường biểu diễn phải liên tục và có hình ảnh cái chuông úp ngược không cân đối (không cân đối là do thời gian đạt đến Q max thường ngắn hơn thời gian của phần còn lại của thời gian đi tiểu) Sự bất thường của dạng biểu đồ có thể đem lại những chỉ dẫn về nguyên nhân của tình trạng tiểu khó Chẳng hạn theo Buzelin (1993)[1] thì đường biểu
diễn bằng phẳng (plateau) chỉ ra tình trạng bế tắc
thường trực, đường biểu diễn nhiều pha
(polyphasique) khiến nghĩ đến lưu lượng tiểu chủ yếu
do sức rặn bụng, đường biểu diễn đứt khúc (saccadé)
diễn dịch tình trạng bất đồng vận bàng quang -cơ thắt Dạng thức của đường biểu diễn có khả năng lập lại trong 85% số bệnh nhân Vì thế, khi thấy có bất thường về dạng biểu đồ niệu dòng thì cần thực hiện
đo lại để kiểm tra (theo Klarskov & Mortensen)[2].
Lưu lượng tiểu cưc đai
Lượng tiểu
Ba chỉ số trên là quan trọng nhất đối với việc đánh giá niệu dòng đồ Các chỉ số sau ít quan trọng hơn :
Thời gian chờ đi tiểu (delay time)
Là thời gian từ lúc rặn tiểu cho đến khi bắt đầu có dòng tiểu thực sự Bình thường thời gian chờ tiểu ít hơn 10 giây Trong trưòng hợp có bế tắc dưới bàng quang thì thời gian này lâu hơn Tuy nhiên hiện nay nhiều tác giả không đề cập đến chỉ số này, vì trong rất nhiều trường hợp sự kéo dài này là do sự ức chế tâm lý chứ không phải do bế tắc
Thời gian đạt lưu lượng cực đại (time
to maximal flow)
Trang 3Dòng tiểu tốt sẽ biểu hiện trên đường biểu diễn
bởi sự nhanh chóng gia tăng lưu lượng tiểu để đạt tới
cực đại Theo Buzelin thì điều này xảy ra trong những
giây đầu của niệu dòng đo; còn theo Klarskov &
Mortensen thì thời gian đạt lưu lượng cực đại không
nên vượt quá 1/3 thời gian dòng tiểu Thời gian này
kéo dài chỉ ra rằng có sự chậm trễ mở cổ bàng
quang: do cổ bàng quang xơ chai, hoặc do suy yếu cơ
chóp bàng quang, hoặc do nguyên nhân tâm lý
Thời gian dòng tiểu (flow time) và thời
gian đi tiểu (voiding time)
Trong những trường hợp dòng tiểu ngắt quãng
thì hai trị số này không giống nhau (xem hình 2) Sự
hiện diện của những giọt tiểu cuối dòng có thể chỉ ra
tình trạng bế tắc dưới bàng quang, nhưng cũng được
thấy trong những trường hợp không có bệnh lý gì cả,
ví dụ do sự co bóp của cơ hành hang hay do sự đè ép
bằng tay của bệnh nhân
Lưu lượng tiểu trung bình – Qave
(average flow rate):
Là tỉ số giữa lượng tiểu và thời gian dòng tiểu
Qmax là chỉ số quan trọng nhất, nhưng trong
nhiều trường hợp đường biểu diễn có Q max đạt giá
trị bình thường nhưng khi phân tích kỹ thì lộ ra
những vấn đề: ví dụ thời gian đi tiểu kéo dài với Q ave
thấp, đường biểu diễn dợn sóng (fluctuation) hoặc
thậm chí ngắt quãng (intermittent) chứng tỏ có tăng
hoạt cơ thắt làm tăng kháng lực dòng ra, hoặc thời
gian đạt Q max kéo dài chứng tỏ có sự chậm trễ trong
dãn cơ thắt hay mở rộng cổ bàng quang khi mà đã có
sự co bóp của cơ chỏm
Các chỉ số: lượng tiểu, Q max, thời gian đạt Q
max, thời gian đi tiểu và thời gian dòng tiểuQ ave
thường sẽ được máy đo ghi chú bên cạnh biểu đồ
niệu dòng
Lưu lượng tiểu
Thời gian đi tiểu
Hình 2 – Phân biệt thời gian đi tiểu và thời gian dòng
tiểu (theo Klarskov & Mortensen [2] )
CÁC DẠNG NIỆU DÒNG ĐỒ THƯỜNG GẶP
Nhóm 1: niệu dòng đồ bình thường:
IA Niệu dòng đồ hoàn toàn bình thường:
Trường hợp 1:
Bệnh nhân Lê thị T., nữ, 1980
Lâm sàng: bị sỏi thận (P), không bi rối loạn đi
tiểu Được mời làm niệu dòng đồ ngày 22/10/2002, dùng máy đo Albyn theo nguyên lý đo trọng lượng
Voided volume = 234 ml Qmax = 37 ml/s Time to max flow = 4,4 ml Flow time = 10,2 s Qave = 24,3 ml/s
Nhận xét: Lượng tiểu khá tốt, đạt 234 ml Đường
biểu diễn hình chuông liên tục lệch trái, giá trị Q max rất tốt 37 ml/giây, thời gian dòng tiểu nhanh chóng 10,2 giây
Kết luận: Niệu dòng đồ hoàn toàn bình thường
Trường hợp 2
Bệnh nhân Nguyễn Văn Th., nam, 1962
Trang 4Lâm sàng: Sau cắt lạnh nội soi để điều trị hẹp
niệu đạo trước Đo ngày 17/03/2003 bằng máy đo
Albyn
Voided volume = 345 ml Q max = 35 ml/s
Volume at max flow = 178 ml Time to max flow = 6s
Flow time = 15,7 s Q ave
Nhận xét: Lượng tiểu ~ 180 ml là chấp nhận
được Đường biểu diễn hình chuông liên tục hơi lệch
trái, giá trị Q max rất tốt đạt 35 ml/giây, thời gian
dòng tiểu nhanh chóng 15,7 giây
Kết luận: Niệu dòng đồ bình thường Như thế xẻ
lạnh niệu đạo nhằm điều trị hẹp niệu đạo đã đem lại
kết quả rất tốt cho trường hợp này
IB Niệu dòng đồ gần như bình thường:
Trường hợp 1
Bệnh nhân Nguyễn văn B., nam, 1968
Lâm sàng: Than phiền tiểu nhiều lần, mắc tiểu
thường xuyên từ hơn 1 tháng Đo ngày 22/8/2003 với
máy đo Medtronic theo nguyên lý đĩa quay
Nhận xét: Lượng tiểu rất tốt 337 ml Đường biểu
diễn có hình chuông úp ngược và liên tục, các trị số
Qmax và thời gian đi tiểu rất tốt Tuy nhiên thời gian
đạt đến Qmax bị kéo dài (13 giây) và chiếm tỉ lệ > 1/2 thời gian dòng tiểu (23 giây) Ngoài ra đường biểu
diễn có một khoảng ngập ngừng trước khi đạt đến
Qmax
Kết luận: có thể có tăng kháng lực nhẹ của dòng
ra (chẳng hạn cổ bàng quang hơi chậm mở lúc cơ chóp bàng quang co bóp) Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn duy trì dòng tiểu hầu như bình thường
Trường hợp 2:
Bệnh nhân Đồng thị L., nữ, 37 tuổi
Lâm sàng: tiểu dầm ban đêm khoảng 1 năm nay
Đo bằng máy Medtronic ngày 25/08/2003
Voided volume = 700 ml Qmax = 30 ml/s
- = 23,5 ml/s
Time to max flow = 16s Flow time = 48s Voiding time = 59s
Nhận xét: Bệnh nhân nhịn tiểu lâu nên bàng
quang quá căng Nhưng Qmax vẫn đạt giá trị rất tốt là
30 ml/giây Trong những trường hợp khác, sự căng chướng quá mức của bàng quang có thể ảnh hưởng sức co bóp của detrusor và làm giảm Qmax Trong
trường hợp này, thời gian dòng tiểu 48 giây và thời
gian đi tiểu 59 giây là kéo dài, nhưng là hậu quả tất
yếu của lượng tiểu quá nhiều, đến 700 ml
Kết luận: niệu dòng đồ hầu như bình thường
Trường hợp 3
Bệnh nhân Tôn Thất Q., nam, 1933
Lâm sàng: bệnh nhân than đi tiểu khó khoảng 1
tháng nay Siêu âm phát hiện phì đại tiền liệt tuyến Được đo niệu dòng ngày 18/07/2003 bằng máy đo
- Voided volume = 337 ml
- Qmax = 23,8 ml/s
- Voiding time = 24 s
- Flow time = 23 s
- Time to max flow = 13 s
- Q ave = 14,9 ml/s
Trang 5Albyn
Voided volume = 233 ml Qmax = 20 ml/s
Time to max flow = 7,1 s Flow time = 18,4 s
Qave = 11,4 s
Nhận xét: Lượng tiểu khá tốt 233 ml Qmax vừa
đạt giá trị bình thường 20 ml/giây Thời gian dòng
tiểu tốt 18,4 giây Thời gian đạt Qmax cũng bình
thường Tuy nhiên đường biểu diễn ngập ngừng 3
đợt mới đạt đến cực đại
Kết luận: Ta có thể thấy ảnh hưởng của phì đại
tiền liệt tuyến làm cổ bàng quang chậm nở khi cơ
chóp bàng quang co bóp, thể hiện trên biểu đồ bởi sự
ngập ngừng trước khi đạt giá trị cực đại của dòng
tiểu, mặc dù vẫn duy trì dòng tiểu gần như bình
thường Biểu đồ này là giới hạn giữa mức bình
thường và mức bế tắc dòng ra
Nhóm 2 – Niệu dòng đồ biểu hiện có
bế tắc đường tiểu dưới
Bế tắc độ 1
Qmax giảm vừa phải nhưng không dưới 12 ml/s,
đường biểu diễn thường vẫn giữ được sự liên tục:
* Trường hợp 1: bệnh nhân Trần Quang T.,
nam, 1927
Lâm sàng: tiểu khó chưa rõ nguyên nhân Đo
niệu dòng ngày 19/02/2003 bằng máy Albyn
- Voided volume = 241 ml - Q max = 17 ml/s
- Volume at max flow = 144 ml
- Time to max flow = 11,2 s - Flow time = 21,2 s
- Q ave = 9,9 ml/s
Ghi chú: Lượng tiểu 240 ml là chấp nhận được
Qmax đạt 17 ml/giây là giảm nhẹ (tuy nhiên xét theo theo tuổi thì lại trong giới hạn bình thường) Ở đây nên lưu ý sự chậm trễ để đạt tới Q max, bởi thời gian đạt Q max (11,2 giây) bằng quá nửa thời gian dòng tiểu (21,2 giây)
Kết luận: Hình ảnh niệu dòng đồ khiến nghĩ đến
tình trạng tiểu khó là do cổ bàng quang mở chậm khi
cơ chóp bàng quang co bóp (ví dụ: có xơ chai cổ bàng quang) Cần phân biệt với giảm sức co bóp cơ chóp bàng quang Dù sao trường hợp này vẫn duy trì dòng tiểu khá tốt
* Trường hợp 2: bệnh nhân Nguyễn Thành D ,
nam, 1958
Lâm sàng: tiểu khó chưa rõ nguyên nhân Đo
niệu dòng ngày 06/03/2003 bằng máy Albyn
Trang 6Ghi chú: Lượng tiểu 445 ml là rất tốt Q max giảm hơi
nhiều hơn trường hợp trên: còn 13 ml/giây Ngoài ra
thời gian đạt Q max tương đối chậm (16,6 giây, mặc
dù chỉ hơi vượt quá 1/3 thời gian dòng tiểu) và thời
gian đi tiểu kéo dài (45,8 giây)
Kết luận: Niệu dòng đồ phù hợp với tình trạng
tiểu khó trên lâm sàng Nghĩ nhiều đến tình trạng
tăng kháng lực dòng ra Cần phân biệt với giảm sức
co bóp cơ chóp bàng quang
Bế tắc độ 2
Qmax giảm nặng dưới 12ml/giây nhưng vẫn trên
6 ml/giây, đường biểu diễn nhấp nhô hoặc có thể bị
ngắt quãng:
* Trường hợp 1: bệnh nhân Nguyễn thanh H.,
nam, 1962
Lâm sàng: tiểu khó chưa rõ nguyên nhân Đo
niệu dòng ngày 24/03/2003 bằng máy đo Albyn
Ghi chú: Vẫn duy trì được lượng tiểu tốt, nhưng Q
max giảm đáng kể còn 10 ml/giây Thời gian đi tiểu
kéo dài gấp đôi bình thường, nhấp nhô vàø ngắt quãng
cuối dòng
Kết luận: Phù hợp với tình trạng tiểu khó trên
lâm sàng Nghĩ đến tình trạng tăng kháng lực dòng
ra Bệnh nhân được đề nghị soi bàng quang
Soi niệu đạo – bàng quang:
Xác nhận tình trạng hẹp cổ bàng quang
- Voided volume = 445 ml
- Q max = 13 ml/s
- Volume at max flow = 148 ml
- Time to max flow = 16,6 s
- Flow time = 45,8 s
* Trường hợp 2: bệnh nhân Lê Cao Th., nam,
1952
- Q ave = 8,5 ml/s
Lâm sàng: Tiểu khó chưa rõ nguyên nhân từ hơn
2 tháng nay Được đo niệu dòng ngày 15/07/2003 bằng máy đo Albyn
Ghi chú: Lượng tiểu rất tốt ~ 300 ml Tuy nhiên
Q max giảm nhiều = 7 ml/giây và thời gian đi tiểu khá dài ~ 50 giây
Kết luận: Niệu dòng đồ điển hình của tình trạng
tăng kháng lực dòng ra (outlet resistance) Đề nghị
soi bàng quang tìm nguyên nhân
Voided volume = 302ml Q max = 7 ml/s Volume at max flow = 36 ml
Time to max flow = 4,3 s Flow time = 50,7 s
Soi niệu đạo – bàng quang: Xác định có phì đại tiền liệt tuyến ở cả 3 thùy, mặc dù bệnh nhân còn khá trẻ (51 tuổi) Đây chính là nguyên nhân gây cản trở dòng tiểu
- Voided volume = 399 ml
- Q max = 10 ml/s
- Volume at max flow = 130 ml
- Time to max flow = 12,9 s
- Flow time = 53,6 s
- Q ave = 4,9 ml/s
Bế tắc độ 3
Qmax giảm rất nặng, dưới 6 ml/giây, thường thì đường biểu diễn bị ngắt quãng:
* Trường hợp 1: bệnh nhân Đào văn Đ , nam,
1932
Lâm sàng: tiểu khó trên bệnh nhân bị u xơ tiền
liệt tuyến Đo niệu dòng ngày 30/06/2003 bằng máy
Trang 7Albyn
Ghi chú: Lượng tiểu ~ 176 ml là chấp nhận được Tuy
nhiên Qmax = 5 ml/giây là giảm rất nặng Đường
biểu diễn nhấp nhô dơn sóng và ngắt quãng nhiều
đợt
Kết luận: Đây là tình trạng tiểu rất khó Hình ảnh
niệu dòng đồ điển hình của một trường hợp bế tắc
dòng ra (outflow obstruction)
* Trường hợp 2: bệnh nhân Nguyễn thị L., Nữ,
1973
Lâm sàng: tiểu khó, dòng tiểu yếu từ hơn 1 năm
nay Khám hạ vị thấy có cầu bàng quang Đo niệu
dòng ngày 11/07/2003 bằng máy Albyn
Nhận xét: Lượng tiểu 162 ml là chấp nhận được
Qmax = 2 ml/giây là giảm nặng Thời gian đi tiểu rất
dài, đến 70 giây Đường biểu diễn ngắt quãng nhiều
đợt
Kết luận: Lưu lượng tiểu giảm rất nặng, phù hợp
với tình trạng tiểu khó trên lâm sàng Tình trạng bế
tắc đường tiểu dưới đã rõ Cần khảo sát thêm áp lực
đồ bàng quang để xem khả năng co bóp của cơ chóp
bàng quang
NHÓM III- Đường biểu diễn tăng vọt và giảm nhanh từng đợt thể hiện sức rặn bụng, giá trị qmax không phản ánh trung thực
- Voided volume = 176ml
- Q max = 5 ml/s
- Volume at max flow = 51 ml
- Time to max flow = 8,2 s
- Flow time = 30,8 s
Đối với những niệu dòng đồ thuộc nhóm này, cần xem kỹ để phân biệt giá trị Qmax thực nhằm đánh giá trung thực hơn về lưu lượng dòng tiểu Trong những trường hợp khó nhận định như vậy, chúng ta nên phối hợp với phép đo áp lực bàng quang để khảo sát về sức co bóp của cơ chóp bàng quang
* Trường hợp 1: bệnh nhân Trần Trọng Q , nam, 1937
Lâm sàng: tiểu khó trên bệnh nhân có u xơ tiền
liệt tuyến Thực hiện phép đo niệu dòng ngày 21/02/2003 bằng máy đo Albyn
- Voided volume = 162 ml
- Q max = 2 ml/s
- Time to max flow = 21.6 s
- Flow time = 18 s
- Voiding time = 70 s
Voided volume = 228ml Q max = 17 ml/s Volume at max flow = 189 ml
Time to max flow = 66.1 s Flow time = 26.4 s
Q ave = 4.8 ml/s Ghi chú: Lượng tiểu ~ 230 ml là khá Giá trị Qmax ~
17 ml/s có vẻ như gần đạt mức bình thường Xem kỹ
Q ave ~ 4,8 ml/s là rất thấp, chứng tỏ có bế tắc đường tiểu dưới Quan sát kỹ, chúng ta thấy dạng biểu đồ này hầu như không thể hiện sự co bóp của cơ chóp
Trang 8bàng quang, ngược lại đường biểu diễn ngắt quãng
nhiều đợt hình chóp nhọn như trên là điển hình do
sức rặn bụng
Kết luận: Tình trạng tiểu khó là rõ ràng, nhưng
không thấy thể hiện sức co bóp của cơ chóp bàng
quang trên biểu đồ Nên phân biệt với suy giảm co
bóp cơ chóp bàng quang
* Trường hợp 2: bệnh nhân Nguyễn Quốc H.,
nam, 1950
Biểu hiện lâm sàng: tiểu khó Thực hiện phép đo
niệu dòng ngày 14/012003
Ghi chú: Lượng tiểu ~ 178 ml là chấp nhận được
Q max do máy đọc là rất cao (37 ml/giây) nhưng dạng
biểu đồ cho thấy đây không phải là Qmax thực, mà
chủ yếu do sức rặn bụng Các trị số Qmax thực ~ 9
ml/giây, Q ave ~ 6,5 ml/giây mới biểu hiện trung thực
hơn về lưu lượng tiểu Ngoài ra đường biểu diễn bị
ngắt quãng nhiều đợt chứng tỏ có tăng kháng lực
dòng ra, hoặc có thể có bất đồng vận bàng quang –
cơ thắt
Như vậy, chỉ riêng phép đo niệu dòng không thể cung cấp chính xác là rối loạn chức năng đi tiểu thuộc loại nào (ví dụ có hay không bế tắc dòng ra của bàng quang hoặc giảm co bóp cơ chóp bàng quang) (Abrams & Griffith, 1979
Kết luận: Xét trên Q max thực và sự ngắt quãng
của biểu đồ: phù hợp với tình trạng tiểu khó trên lâm
sàng Tiểu khó được nghĩ là do tăng kháng lực dòng
ra Nên chẩn đoán phân biệt với tình trạng suy cơ
chóp bàng quang
BÀN LUẬN
Giới hạn của phép đo niệu dòng
Lưu lượng tiểu nói chung mà đặc biệt là lưu
lượng tiểu cực đại chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố
bao gồm lượng tiểu trong bàng quang, sức co bóp của
cơ chóp bàng quang, hoạt động của cơ thắt niệu đạo,
sự toàn vẹn của ống niệu đạo, trạng thái tâm lý khi đi
tiểu, tuổi tác, phái tính và sức rặn bụng Những minh họa thực hành ở mục 3 cũng cho thấy những sai lầm có thể mắc phải khi đọc biểu đồ niệu dòng do tác động của trạng thái tâm lý, do sức rặn bụng Chính
vì ảnh hưởng của quá nhiều yếu tố như vậy mà giá trị của phép đo niệu dòng có những giới hạn của nó Theo Tanagho (2000) [3], lưu lượng tiểu có thể bình thường mà không có bất kỳ sự co bóp nào của cơ chóp bàng quang , nếu như sự dãn cơ thắt niệu đạo được hỗ trợ bởi sức rặn bụng Thậm chí nếu không hề có sự co bóp cơ chóp, cũng không hề có sức rặn bụng, nhưng nếu sức đề kháng dòng ra yếu và suy cơ thắt niệu đạo thì vẫn có thể có lưu lượng tiểu bình thường Thêm nữa, hẹp niệu đạo có thể không biểu hiện triệu chứng bế tắc cho đến khi đường kính niệu đạo < 11F (Chapple & MacDiarmid[5]) Sau cùng, cho dù có tăng hoạt cơ thắt niệu đạo, vẫn có thể đạt được lưu lượng tiểu bình thường nếu như cơ chóp bàng quang cũng tăng co bóp để khắc phục tình trạng tăng kháng lực dòng ra
Chancellor (1991)[6] không thấy sự khác biệt niệu dòng đồ giữa niệu dòng đồ của những trường hợp suy giảm co bóp cơ chóp bàng quang với những trường hợp bế tắc dòng ra của bàng quang
[7]) Chỉ riêng niệu dòng đồ không thể cung cấp nhận định thấu suốt về cơ chế chính xác xảy ra rối loạn đi tiểu (Tanagho, 2000) - Voided volume = 178 ml [3]
Lợi ích của phép đo niệu dòng - Q max = 37 ml/s
Mặc dù có những giới hạn như đã nêu trên, nhưng điều không thể phủ nhận là hiện nay các trung tâm niệu khoa trên khắp thế giới vẫn đang sử dụng phép đo niệu dòng khi khảo sát những tình trạng rối loạn chức năng đường tiểu dưới, chứng tỏ phép đo này vẫn còn hữu dụng Chapple & McDiarmid cho rằng: “niệu dòng đồ cung cấp những thông tin quan trọng và hữu ích về việc có bế tắc dòng ra hay không và có thể chỉ ra bệnh căn khả dĩ”
- Time to max flow = 15 s
- Flow time = 24,9 s
- Q ave = 6,5 ml/s
- Volume at max flow = 102 ml
Trang 9Còøn Boone & Kim (1998)[8] nhấn mạnh là: phép đo
niệu dòng cực kỳ hữu ích nếu phối hợp với các phép
đo niệu động học khác
Trị số Q max bình thường chưa hẳn là không có
bế tắc đường tiểu dưới, nhưng khi Q max giảm < 15
ml/s thì nên nghi ngờ và nếu < 10 - 12 ml/s (tùy tác
giả) thì hầu như chắc chắn có bế tắc:
- Tác giả McLoughlin[9] khảo sát các bệnh nhân
được bóc bướu tiền liệt tuyến dựa trên triệu chứng và
Q max < 12 ml/s thì thấy rằng: 95% bệnh nhân có bế
tắc
- Theo Abrams & Griffith[7] , 88% bệnh nhân có
bế tắc đường tiểu dưới khi Q max < 10 ml/s
Một khi đã xác định có bế tắc đường tiểu dưới,
dạng biểu đồ niệu dòng có thể giúp chúng ta xét đoán
vị trí bế tắc, ví dụ cổ bàng quang chậm mở khi cơ
chóp bàng quang co bóp, tăng kháng lực dưới bàng
quang, bất đồng vận cơ chóp - cơ thắt, hoặc dòng tiểu
phát sinh chủ yếu do sức rặn bụng
Vấn đề thường gặp khi đo niệu dòng đồ là cần
chẩn đoán phân biệt giữa bế tắc dòng ra của bàng
quang hay suy giảm sức co bóp của cơ chóp bàng
quang Trong những trường hợp cần thiết phải xác
định chức năng cơ chóp thì nên kết hợp với phép đo
áp lực bàng quang Tuy nhiên, khi một bệnh nhân
than phiền dòng tiểu bị suy yếu nhưng niệu dòng đồ
hoàn toàn bình thường, có thể không cần đo các
phép đo niệu động học khác nữa nếu bệnh nhân
không có các triệu chứng khác của rối loạn đi tiểu
(Boone & Kim[8]) Theo Chapple & MacDiarmid[5], sự
kết hợp niệu dòng đồ và đo lượng tiểu tồn lưu là một
khảo sát tầm soát rất tốt đối với tình trạng bế tắc
dòng ra trên những bệnh nhân bị u xơ tiền liệt tuyến
Sau cùng, nếu bệnh nhân đã được xác định là có bế
tắc dòng ra, hoặc giảm co bóp cơ chóp, hoặc cả hai
(bằng các phép đo niệu dòng và áp lực bàng quang),
thì niệu dòng đồ có thể được sử dụng để theo dõi tiến
triển bệnh và đáp ứng với điều trị (Boone & Kim)
Về phân loại niệu dòng đồ
Của các tác giả khác:
Có nhiều cách phân chia các dạng thức của niệu dòng đồ tùy theo tác giả:
* Jorgensen & Jensen (1996) [4] chia 5 loại:
+ Loại 1 - biểu đồ bình thường - có hình
chuông úp ngược, liên tục, không cân xứng nhẹ hoặc vừa phải
+ Loại 2 - biểu đồ tiền liệt tuyến – liên tục, bất
đối xứng rõ rệt, đường biểu diễn kéo dài và bằng phẳng từ Q max cho đến cuối dòng tiểu
+ Loại 3 – biểu đồ dợn sóng – liên tục, dao động
lên xuống nhiều đợt nhưng không xuống tới zero trước khi chấm dứt dòng tiểu
+ Loại 4 – biểu đồ ngắt quãng – có một hay
nhiều đợt đường biểu diễn ở mức zero (không kể những giọt tiểu cuối dòng)
+ Loại 5 – biểu đồ bằng phẳng – liên tục, bằng
phẳng, và phần lớn lượng tiểu được phóng thích với Q max hằng định
* Boone & Kim (1998) [8] chia làm 4 nhóm: nhóm bình thường, nhóm gián đoạn, nhóm bế tắc và
nhóm dòng tiểu cực mạnh (superflow)
* Chapple & MacDiarmid (2000) [5] chia làm 4
nhóm: nhóm bình thường, nhóm tiểu nhanh (fast
bladder), nhóm tiểu chậm (prolonged flow), nhóm
dòng tiểu gián đoạn (intermittent flow)
Suy nghĩ của chúng tôi
* Những tác giả nêu trên có rất nhiều kinh nghiệm trong khảo sát và đánh giá niệu dòng đồ Tuy nhiên trong thực tế đo niệu dòng, chúng tôi nhận thấy có nhiều lúc không áp dụng được một cách suôn sẻ
- Theo loại 2 của Jorgensen & Jensen (nhóm biểu đồ của u xơ tiền liệt tuyến): chúng tôi thấy nhiều trường hợp tiểu khó do u xơ tiền liệt tuyến không có dạng biểu đồ này (xem trường hợp 1 của nhóm 2C), ngược lại có những trường hợp xơ chai cổ bàng quang lại có biểu đồ giống như mô tả của hai tác giả trên (xem trường hợp 1 của nhóm 2B)
- Tanagho[3] cũng mô tả những bệnh nhân có
Trang 10dòng tiểu cực mạnh (supervoider) nhưng xem là
bình thường và ít có ý nghĩa chẩn đoán, chứ không
xếp thành nhóm riêng biệt như Boone & Kim
- Nhóm biểu đồ gián đoạn của Boone & Kim
dường như bao gồm cả 2 loại 3 và 4 của Jorgensen &
Jensen
- Các phân loại trên đều nặng về mô tả dạng biểu
đồ mà không chú ý đến trị số quan trọng nhất của
niệu dòng đồ là lưu lượng tiểu cực đại Qmax, là trị số
thể hiện mức độ bế tắc đường tiểu dưới
* Chúng tôi muốn thể hiện trị số Qmax trong
cách đánh giá niệu dòng, bên cạnh việc miêu tả dạng
biểu đồ
- Như đã trình bày trong mục 4.1, phép đo niệu
dòng có những giới hạn của nó Tuy nhiên tất cả các
tác giả đều đồng ý rằng khi Qmax < 12 ml/s thì hẳn
là có bế tắc đường tiểu dưới (còn bế tắc ở vị trí nài thì
cần có những khảo sát bổ sung, như phép đo áp lực
bàng quang, phép đo áp lực – niệu dòng, soi niệu đạo
– bàng quang ) Tương tự như những tác giả khác,
chúng tôi chọn mốc dưới 12 ml/s xem như có bế tắc
nặng đường tiểu dưới
- Mặt khác, thực tế cho thấy đa số biểu đồ có
Qmax giảm nặng nhưng không quá thấp thì đường
biểu diễn còn tương đối liên tục, còn khi Qmax rất
thấp (dưới 5 – 6 ml/s) thì phần lớn biểu đồ bị ngắt
quãng Vì thế chúng tôi chọn mốc dưới 6 ml/s là bế
tắc rất nặng
- Ngoài ra, mục 3.2 và 3.6 nhắc nhở rằng Qmax
không phải luôn thể hiện trung thực mức độ thông
suốt hay bế tắc của đường tiểu dưới, bởi vì như trên
đã nói, dòng tiểu là biểu hiện kết quả của nhiều yếu
tố khác nhau
KẾT LUẬN
Phép đo niệu dòng là phép đo không xâm lấn,
đơn giản nhất, thường dùng nhất trong số những phép đo niệu động học Mặc dù giá trị của phương pháp này có những giới hạn nhất định, những nó vẫn rất hữu ích nhằm để tầm soát những bệnh nhân bị rối loạn chức năng đường tiểu dưới Khảo sát niệu dòng đồ giúp phát hiện sự hiện diện khả năng có bế tắc đường tiểu dưới, nhận định những trường hợp cần phải có những khảo sát sâu hơn về niệu động học, và theo dõi diễn tiến bệnh và sự đáp ứng với điều trị Phân loại niệu dòng đồ có thể ước lượng mức độ bế tắc của đường tiểu dưới, mặt khác cũng giúp nhận xét những turờng hợp có thể đánh giá sai Qmax do ảnh hưởng của sức rặn bụng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Buzelin JM, Glemain P, Labat JJ, Le Normand
Lamiaceae: Les methodes d’exploration fonctionelle de
la voie excretrice inferieure, in “Physiologie et
Explorations Fonctionelles de la Voie Excretrice Urinaire”, edited by Laboratory Synthelabo France (1993), chap 4: 60 – 92
2 Klarskov P, Mortensen S: Uroflowmetry, in
“Urodynamics – Introduction to Clinical Application”, edited by Medtronic Company (1999): 9 – 12
& McAninch JW, Lange Medical Book/McGraw-Hill (2000), chap 30: 526 – 537
North Am 23(2): 237–242 (1996)
in “Urodynamics Made Easy”, WB Saunders (2000): 26 – 73
6ê Chancellor MB, Blaivas JG, Stanton SL, et al:
Bladder outlet obstruction versus impaired detrusor contractility: the role of uroflow J Urol 145: 810-812
(1991)
obstruction from urodynamic measurements and from residual urine Br J Urol 51: 129 – 134 (1979)
Urodynamics” edited by Nitti VW, WB Saunders (1998), chap 4: 28-34
rates versus urodynamics in the selection of the patients for prostatectomy Br J Urol 66: 303 – 305 (1990)
Từ khóa » Cách đo Niệu Dòng đồ
-
Đo Niệu động Học Là Gì? | Vinmec
-
ĐO NIỆU DÒNG ĐỒ - Health Việt Nam
-
Ứng Dụng Của đo Niệu động Học Trong Chẩn đoán Rối Loạn đường Tiểu
-
Đại Cương Về Các Phép đo Niệu động Học - PGS Hà Hoàng Kiệm
-
KIẾN THỨC VỀ ĐO NIỆU ĐỘNG HỌC - TBYT CX - Máy Siêu âm Vinno
-
Tìm Hiểu Về Đo Niệu Dòng đồ Tại Bệnh Viện Bình Dân
-
Phiếu Tóm Tắt Thông Tin Phép đo Niệu Dòng đồ
-
NIỆU ĐỘNG HỌC - SlideShare
-
Nghiên Cứu Chỉ định Và Kết Quả đo Niệu Dòng đồ Tại Phòng Khám ...
-
NIỆU ĐỘNG HỌC LÀ GÌ ?
-
Sống Khỏe Cùng BVXA - Kỳ 38: Đo Niệu động Học - Phương Pháp ...
-
Kỹ Thuật đo Niệu động Học Là Gì? - Y Sĩ đa Khoa
-
Phác đồ điều Trị Đo Niệu Dòng đồ Y Học Hà Nội
-
Xét Nghiệm Niệu động Học: ý Nghĩa Lâm Sàng Kết Quả Xét Nghiệm