Phong Trào Công Nhân - Tình Cảnh Giai Cấp Công Nhân Anh

F. Engels Tình cảnh giai cấp công nhân Anh

PHONG TRÀO CÔNG NHÂN

D� t�i c� đưa ra �t v� dụ hơn nữa, th� mọi người vẫn phải đồng � với t�i rằng: c�ng nh�n Anh kh�ng thể cảm thấy hạnh ph�c trong t�nh cảnh của họ, c�i t�nh cảnh m� ở đ�, cả c� nh�n cũng như to�n bộ giai cấp đều kh�ng thể sống, cảm gi�c v� suy nghĩ như con người. V� thế, c�ng nh�n phải đấu tranh, để tho�t khỏi c�i t�nh cảnh chỉ xứng với s�c vật ấy, để c� được một t�nh cảnh tốt hơn, hợp với con người hơn. V� họ kh�ng thể l�m thế, nếu kh�ng tấn c�ng v�o lợi �ch của giai cấp tư sản, lợi �ch đ� ch�nh l� ở chỗ b�c lột c�ng nh�n. Nhưng giai cấp tư sản lại bảo vệ lợi �ch của m�nh, với tất cả sức mạnh m� t�i sản v� ch�nh quyền của ch�ng cho ph�p. Khi c�ng nh�n vừa mới tỏ ra muốn tho�t khỏi t�nh cảnh hiện tại, th� lập tức người tư sản trở th�nh kẻ th� c�ng khai của họ. Hơn nữa, c�ng nh�n l�c n�o cũng thấy giai cấp tư sản coi họ như đồ vật v� t�i sản của ch�ng, chỉ điều n�y cũng đủ l�m cho c�ng nh�n trở th�nh kẻ th� của giai cấp tư sản. T�i đ� đưa ra h�ng trăm v� dụ, v� c� thể đưa ra h�ng trăm v� dụ nữa, để chứng minh rằng: trong điều kiện hiện nay, chỉ nhờ c� việc căm th� v� chống lại giai cấp tư sản, th� c�ng nh�n mới cứu v�n được phẩm gi� con người của m�nh. C�ng nh�n Anh c� năng lực chống lại sự bạo ngược của bọn hữu sản một c�ch cực k� m�nh liệt; đ� l� nhờ họ tự gi�o dục m�nh, đ�ng hơn l� nhờ họ kh�ng được gi�o dục, cũng như nhờ d�ng m�u n�ng của người Ireland h�a trộn b�n trong họ. C�ng nh�n Anh kh�ng c�n l� người Anh theo nghĩa th�ng thường: kh�ng phải thứ con bu�n lu�n t�nh to�n như đồng b�o tư sản của m�nh, anh ta gi�u t�nh cảm hơn nhiều; ở anh ta, t�nh kh� lạnh l�ng của người miền Bắc đ� bị �t đi, bởi l�ng nhiệt t�nh s�i nổi đ� ph�t triển v� chi phối anh ta, m� kh�ng bị trở ngại. Việc r�n luyện l� tr� đ� ph�t triển mạnh mẽ t�nh �ch kỉ của người tư sản Anh, đ� khiến sự �ch kỉ trở th�nh n�t ti�u biểu của y, l�m cho to�n bộ t�nh cảm của y chỉ tập trung v�o việc chạy đua kiếm tiền; c�ng nh�n kh�ng c� sự r�n luyện l� tr� ấy, thế n�n nhiệt t�nh của họ cũng mạnh mẽ v� kịch liệt như ở người nước ngo�i. Ở c�ng nh�n, những đặc trưng d�n tộc của người Anh đ� mất đi. Như ta đ� thấy, ngo�i việc đấu tranh chống lại t�nh cảnh của m�nh, th� c�ng nh�n kh�ng c� chỗ n�o kh�c để biểu lộ nh�n c�ch của m�nh nữa; thế n�n đương nhi�n l� ch�nh trong sự phản kh�ng ấy, c�ng nh�n đ� biểu hiện những điều tốt đẹp nhất, cao qu� nhất, nh�n đạo nhất. Ta sẽ thấy l� to�n bộ lực lượng v� hoạt động của c�ng nh�n đều nhằm v�o hướng n�y, v� cả những cố gắng để c� được một nền gi�o dục xứng đ�ng với con người đều c� quan hệ trực tiếp với điểm ấy. Dĩ nhi�n, ta phải n�i đến một v�i h�nh vi c� biệt c� t�nh bạo lực, thậm ch� l� th� bạo, nhưng kh�ng bao giờ n�n qu�n rằng: ở Anh đang diễn ra một cuộc chiến tranh x� hội c�ng khai; v� nếu giai cấp tư sản th�ch d�ng chi�u b�i h�a b�nh, thậm ch� l� b�c �i, để tiến h�nh cuộc chiến ấy một c�ch đạo đức giả, th� chỉ c� vạch trần sự thật, lột bỏ c�i mặt nạ đạo đức giả ấy, mới c� lợi cho c�ng nh�n; bởi vậy, ngay cả những h�nh động bạo lực dữ dội nhất của c�ng nh�n, để chống lại giai cấp tư sản v� tay sai của n�, cũng chỉ l� biểu hiện c�ng khai, kh�ng che đậy, của c�i m� giai cấp tư sản đ� l�m một c�ch k�n đ�o v� l�n l�t đối với c�ng nh�n. C�ng nghiệp ph�t triển chưa được bao l�u, th� cuộc đấu tranh của c�ng nh�n chống giai cấp tư sản đ� nổ ra, v� trải qua nhiều giai đoạn kh�c nhau. Ở đ�y t�i kh�ng thể n�i tỉ mỉ về � nghĩa lịch sử của những giai đoạn ấy đối với sự ph�t triển của nh�n d�n Anh; đấy l� chủ đề của một t�c phẩm kh�c. T�i chỉ thuật lại những sự kiện cần thiết, để n�i r� t�nh cảnh của giai cấp v� sản Anh. H�nh thức đầu ti�n, th� sơ v� �t hiệu quả nhất của sự đấu tranh l� phạm tội. C�ng nh�n phải sống ngh�o khổ, bần c�ng, lại thấy đời sống của kẻ kh�c kh� hơn m�nh; anh ta kh�ng hiểu: tại sao m�nh lao động cho x� hội nhiều hơn bọn nh� gi�u ăn kh�ng ngồi rồi, m� phải chịu thiếu thốn như thế. V� sự đ�i khổ đ� thắng l�ng t�n k�nh cổ truyền của anh ta đối với quyền sở hữu, do đ� anh ta ăn cắp. Ta đ� thấy: c�ng với sự ph�t triển của c�ng nghiệp, những vụ phạm tội ng�y c�ng tăng, số người bị bắt h�ng năm tăng theo c�ng tỉ lệ với số h�ng b�ng được ti�u d�ng. C�ng nh�n đ� sớm nhận ra l� l�m thế th� chẳng �ch g�. Việc phạm tội chỉ l� h�nh động đơn thương độc m� chống lại chế độ x� hội hiện tồn, với tư c�ch c� nh�n; m� x� hội c� thể d�ng mọi sức mạnh để đối ph�, v� �p đảo kẻ địch đơn độc bằng ưu thế tuyệt đối. Hơn nữa, trộm cắp l� h�nh thức đấu tranh th� sơ v� v� � thức nhất; thế n�n ri�ng một việc đ� kh�ng thể trở th�nh biểu hiện chung của dư luận c�ng nh�n, d� họ vẫn ngầm t�n th�nh. Sự chống đối của giai cấp c�ng nh�n đối với giai cấp tư sản chỉ bắt đầu, khi c�ng nh�n d�ng bạo lực để chống lại việc sử dụng m�y m�c, việc n�y đ� xảy ra ở buổi đầu của c�ch mạng c�ng nghiệp. Những nh� ph�t minh đầu ti�n, như Arkwright v� những người kh�c, đ� bị thứ bạo lực ấy h�m hại, c�n m�y m�c của họ th� bị ph� hủy; về sau lại nổ ra nhiều cuộc nổi dậy chống sử dụng m�y m�c, n� hầu như giống hệt với những cuộc bạo loạn của c�ng nh�n in vải hoa ở Bohemia th�ng S�u 1844: m�y m�c v� c�ng xưởng đều bị ph� hủy. H�nh thức phản kh�ng ấy cũng c� t�nh c� lập, bị hạn chế ở những khu vực c� biệt, chỉ nhằm v�o một mặt của c�c quan hệ x� hội hiện h�nh. Hơn nữa, ngay khi c�ng nh�n vừa gi�nh được thắng lợi chốc l�t, th� to�n bộ sức nặng của quyền lực x� hội liền đ� l�n những kẻ phạm tội kh�ng c� g� tự vệ, v� mặc sức trừng phạt họ, c�n m�y m�c th� lại vẫn được d�ng. Phải t�m ra một h�nh thức đấu tranh mới. Khi đ�, nghị viện cũ (trước khi cải c�ch), do đảng Tory nắm, đ� th�ng qua một đạo luật để gi�p c�ng nh�n; n� sẽ chẳng bao giờ được Hạ viện sau n�y th�ng qua, khi m� dự luật cải c�ch đ� thừa nhận sự đối lập giữa tư sản với v� sản, v� đưa giai cấp tư sản l�n h�ng thống trị. Được th�ng qua năm 1824, n� đ� x�a bỏ mọi đạo luật trước kia cấm c�ng nh�n li�n kết lại để bảo vệ lợi �ch của m�nh. Thế l� c�ng nh�n c� quyền lập hội, một quyền m� trước kia chỉ qu� tộc v� tư sản mới c�. Thực ra th� trong c�ng nh�n vẫn thường c� những hội b� mật, nhưng ch�ng kh�ng thể c� th�nh t�ch g� đ�ng kể. Như ở Scotland, theo Symons ("Nghề thủ c�ng v� thợ thủ c�ng", tr. 137 v� c�c trang sau), năm 1812 đ� c� tổng b�i c�ng của thợ dệt ở Glasgow, do một hội b� mật tổ chức. Năm 1822 lại c� b�i c�ng, c� hai c�ng nh�n, v� kh�ng chịu v�o hội n�n đ� bị coi l� phản bội giai cấp m�nh; họ đều bị tạt acid sulfuric v�o mặt, do đ� bị m�. Năm 1818, hội thợ mỏ ở Scotland đ� đủ mạnh để tiến h�nh tổng b�i c�ng. Mỗi hội vi�n của hội n�y đ� thề trung th�nh v� giữ b� mật, c� danh s�ch hội vi�n, quĩ hội, sổ s�ch v� c�c chi hội địa phương. Nhưng t�nh chất b� mật của to�n bộ hoạt động đ� g�y trở ngại cho sự ph�t triển của c�c hội ấy. Đến năm 1824, c�ng nh�n c� quyền tự do lập hội, th� những hội ấy lan rộng rất nhanh tr�n khắp nước Anh, v� c� ảnh hưởng lớn. Trong mọi ng�nh lao động đều th�nh lập c�c c�ng li�n như thế, với chủ trương c�ng khai l� bảo vệ từng c�ng nh�n ri�ng lẻ, chống sự bạo ngược v� nhẫn t�m của giai cấp tư sản. Mục đ�ch của những c�ng li�n ấy l�: qui định tiền lương, thương lượng với giới chủ tr�n tư c�ch l� một lực lượng, điều chỉnh tiền lương theo lợi nhuận của chủ, tăng lương khi c� thể, v� giữ một mức lương bằng nhau cho một nghề ở mọi nơi. Do đ�, họ thường đấu tranh đ�i c�c nh� tư bản thực hiện một mức lương chung, v� tuy�n bố b�i c�ng với người n�o kh�ng chấp nhận mức đ�. Thứ nữa, c�ng li�n hạn chế việc tuyển thợ học việc, để giữ vững nhu cầu về nh�n c�ng của bọn tư bản, từ đ� giữ vững tiền lương; cố gắng hết sức chống c�c thủ đoạn hạ thấp tiền lương của chủ xưởng, như việc d�ng m�y m�c v� c�ng cụ mới, v.v.; cuối c�ng l� gi�p tiền cho c�ng nh�n thất nghiệp. Việc n�y được tiến h�nh trực tiếp bằng tiền quĩ, hoặc gi�n tiếp bằng việc cấp một c�i thẻ x�c nhận l� "người trong hội" cho mỗi c�ng nh�n; người c� thẻ đ�, khi đi từ nơi n�y tới nơi kh�c, sẽ được bạn c�ng nghề gi�p đỡ v� chỉ cho nơi n�o dễ t�m việc. Cảnh sống lang thang đ� của c�ng nh�n được gọi l� "the tramp", c�n anh c�ng nh�n đi lang thang ấy được gọi l� tramper. Để đạt những mục đ�ch n�i tr�n, c�ng li�n cử một chủ tịch v� một thư k� ăn lương, v� r� r�ng l� kh�ng chủ xưởng n�o thu� những người ấy; v� lập một ban chấp h�nh, để thu hội ph� h�ng tuần, đảm bảo rằng số tiền ấy được d�ng đ�ng với mục đ�ch của c�ng li�n. Khi c� thể v� c� lợi, c�c c�ng li�n ở từng khu li�n kết th�nh một li�n hiệp c�ng li�n, c� tổ chức hội nghị đại biểu định k�. Trong v�i trường hợp ri�ng biệt, người ta đ� thử tập hợp mọi c�ng nh�n của một ng�nh v�o một c�ng li�n lớn của cả nước Anh; cũng c� nhiều lần, đầu ti�n l� v�o năm 1830, người ta đ� thử lập một li�n hiệp c�ng nh�n thống nhất to�n quốc, đồng thời mỗi ng�nh nghề vẫn giữ tổ chức ri�ng của m�nh. Nhưng c�c li�n hiệp ấy kh�ng tồn tại l�u, thậm ch� rất �t được th�nh lập; v� phải c� một cao tr�o đặc biệt rộng khắp, th� ch�ng mới c� thể ra đời v� hoạt động hiệu quả. Để thực hiện mục đ�ch của m�nh, c�c c�ng li�n thường d�ng những biện ph�p sau: nếu c� một v�i chủ xưởng kh�ng thừa nhận mức lương do c�ng li�n qui định, th� c�ng li�n cử một đo�n đại biểu tới gặp họ, hoặc gửi cho họ một đơn thỉnh nguyện (ta thấy l� c�ng nh�n biết coi trọng quyền lực chuy�n chế tuyệt đối của chủ xưởng trong vương quốc nhỏ của y). Nếu l�m thế kh�ng c� kết quả, th� c�ng li�n ra lệnh đ�nh c�ng: tất cả c�ng nh�n giải t�n về nh�. Nếu chỉ c� một v�i chủ xưởng kh�ng chịu theo mức lương do c�ng li�n đề xuất, th� cuộc b�i c�ng đ� (gọi l� turn-out hoặc strike) chỉ l� cục bộ; nếu tất cả c�c chủ xưởng trong một ng�nh đều l�m thế, th� cuộc b�i c�ng trở th�nh tổng b�i c�ng. Đ� l� những thủ đoạn hợp ph�p của c�ng li�n: chỉ l� hợp ph�p nếu cuộc b�i c�ng được b�o trước, thực tế th� kh�ng phải l�c n�o cũng thế. Nhưng nếu c� c�ng nh�n chưa tham gia c�ng li�n, hoặc r�t khỏi c�ng li�n v� lợi �ch trước mắt m� chủ xưởng ban cho, th� biện ph�p hợp ph�p ấy rất �t kết quả. Đặc biệt l� với c�c cuộc b�i c�ng cục bộ, chủ xưởng rất dễ tuyển dụng những con chi�n ghẻ ấy (gọi l� knobstick1), v� v� hiệu h�a c�c nỗ lực của những c�ng nh�n c�ng li�n. C�c hội vi�n c�ng li�n thường đe dọa, chửi mắng, đ�nh đập, v� d�ng c�c biện ph�p h�nh hung kh�c; t�m lại l� uy hiếp bằng mọi c�ch, để đối ph� với bọn knobstick. Do đ� bọn n�y kiện đến t�a �n, v� v� kẻ bảo vệ ph�p luật lại l� giai cấp tư sản đang nắm ch�nh quyền; thế n�n chỉ cần c� một h�nh vi phạm ph�p, chỉ cần c� một hội vi�n c�ng li�n bị xử tội, l� lực lượng của c�ng li�n hầu như bị ph� vỡ. Lịch sử của c�c c�ng li�n ấy l� một chuỗi d�i những thất bại của c�ng nh�n, c� xen kẽ v�i thắng lợi c� biệt. Dĩ nhi�n l� mọi cố gắng ấy đều kh�ng thay đổi được qui luật kinh tế, quyết định mức lương theo quan hệ giữa cung v� cầu tr�n thị trường lao động. V� vậy c�ng li�n đ�nh chịu bất lực trước những nguy�n nh�n quan trọng nhất t�c động đến mối quan hệ ấy. Khi c� khủng hoảng thương nghiệp, th� c�ng li�n phải tự động hạ mức lương xuống, hoặc bị giải t�n ho�n to�n; khi nhu cầu lao động tăng nhiều, th� n� cũng kh�ng thể đ�i lương cao hơn mức m� sự cạnh tranh giữa c�c nh� tư bản qui định. Nhưng với những nguy�n nh�n �t quan trọng hơn, c� t�nh cục bộ, th� c�ng li�n c� thế lực thực sự. Nếu kh�ng ngại cuộc đấu tranh tập trung của số đ�ng c�ng nh�n, th� chủ xưởng đ� hạ dần mức lương xuống để thu lời th�m; hơn nữa, việc cạnh tranh với c�c chủ xưởng kh�c cũng buộc y phải l�m vậy, thế n�n tiền lương sẽ mau ch�ng hạ xuống mức tối thiểu. Sự cạnh tranh đ� giữa các chủ xưởng với nhau trong điều kiện bình thường c� thể bị hạn chế do sự đấu tranh của c�ng nh�n. Mỗi chủ xưởng đều biết rằng mỗi lần hạ tiền lương, nếu kh�ng phải v� những ho�n cảnh m� c�c chủ xưởng kh�c cũng phải chịu, th� đều dẫn tới b�i c�ng; m� b�i c�ng th� chắc chắn l� thiệt cho y, v� khi đ� tư bản m� y bỏ v�o kinh doanh sẽ kh�ng sinh lời được, m�y m�c th� bị han rỉ. Đồng thời, y cũng kh�ng chắc l� c� hạ được tiền lương hay kh�ng; m� y lại biết r� l� nếu m�nh th�nh c�ng, th� kẻ cạnh tranh sẽ bắt chước ngay, sẽ hạ gi� sản phẩm của họ, v� lợi nhuận m� y hi vọng sẽ kh�ng c�n nữa. Ngo�i ra, khi khủng hoảng kết th�c, dĩ nhi�n l� c�c c�ng li�n c� thể đ�i tăng lương nhanh hơn so với khi kh�ng c� ai can thiệp. Khi m� cạnh tranh chưa bắt chủ xưởng phải tăng lương th� họ sẽ kh�ng tăng, nhưng v� c� c�ng li�n n�n khi thị trường kh� l�n th� bản th�n c�ng nh�n sẽ đ�i tăng lương; họ c� thể lợi dụng việc bọn chủ xưởng đang thiếu nh�n c�ng, v� tổ chức b�i c�ng để buộc ch�ng phải tăng lương. Nhưng như t�i đ� n�i, c�ng li�n lại bất lực trước những nguy�n nh�n tương đối quan trọng ảnh hưởng đến thị trường lao động. Với t�nh h�nh như thế, đ�i kh�t buộc c�ng nh�n phải dần trở lại l�m việc, trong bất k� điều kiện n�o; v� chỉ cần v�i người l�m thế l� lực lượng của c�ng li�n đ� bị ph� vỡ, v� khi tr�n thị trường vẫn c�n một lượng h�ng h�a dự trữ, ch�nh l� c�c knobstick ấy, th� giai cấp tư sản c� thể tho�t khỏi c�c hậu quả nghi�m trọng nhất của sự gi�n đoạn sản xuất. Quĩ của c�ng li�n rất mau hết v� nhiều người cần được gi�p đỡ, những chủ h�ng b�n lẻ dần cũng dần kh�ng b�n chịu với l�i cao nữa, v� sự t�ng thiếu buộc c�ng nh�n lại phải chui đầu v�o c�i �ch của giai cấp tư sản. Nhưng c�c chủ xưởng, ch�nh v� lợi �ch của họ (tất nhi�n l� do sự đấu tranh của c�ng nh�n n�n điều n�y mới th�nh lợi �ch của họ), cũng cần tr�nh những cuộc hạ lương kh�ng cần thiết; c�n c�ng nh�n th� thấy r� rằng mỗi lần hạ lương, d� l� do t�nh h�nh thị trường g�y ra, cũng l�m xấu th�m t�nh cảnh của họ, n�n họ hết sức đề ph�ng điều ấy; v� thế, hầu hết c�c cuộc b�i c�ng đều kết th�c bằng thất bại của c�ng nh�n. Ai đ� sẽ hỏi: sao c�ng nh�n lại b�i c�ng, khi m� biện ph�p ấy r� r�ng l� v� �ch như thế? Đơn giản v� c�ng nh�n c� nghĩa vụ chống lại việc hạ tiền lương, thậm ch� l� chống lại t�nh tất yếu của việc hạ tiền lương đ�; v� họ nhất định phải tuy�n bố rằng: l� con người, họ sẽ kh�ng chịu khuất phục trước ho�n cảnh, m� ch�nh ho�n cảnh mới phải chịu khuất phục trước bản thân con người họ; v� sự im lặng của c�ng nh�n tức l� thỏa hiệp với ho�n cảnh, tức l� thừa nhận rằng giai cấp tư sản c� quyền b�c lột c�ng nh�n trong thời k� thương nghiệp phồn vinh, c�n trong thời k� thất b�t th� c� quyền bỏ mặc c�ng nh�n chết đ�i. Chừng n�o c�ng nh�n chưa mất hết nh�n c�ch th� họ c�n phải đấu tranh chống lại điều đ�, v� họ đấu tranh như thế m� kh�ng d�ng c�ch n�o kh�c; v� họ l� những người Anh, những người thực tiễn, họ đấu tranh bằng hành động; chứ kh�ng như những người Đức ưa l� luận, chỉ cần cho kh�ng nghị của m�nh v�o bi�n bản, đưa v�o ad acta2, rồi về nh� ngủ, v� bản kh�ng nghị cũng ngủ y�n, như ch�nh người kh�ng nghị. Sự kh�ng nghị t�ch cực của người Anh dĩ nhi�n l� c� hiệu lực: n� hạn chế được l�ng tham của giai cấp tư sản trong một phạm vi nhất định, l�m cho sự đấu tranh của c�ng nh�n chống quyền lực v� hạn về x� hội v� ch�nh trị của giai cấp c� của kh�ng bị lắng xuống; n� cũng chứng minh r� cho c�ng nh�n rằng: để đập tan thế lực của giai cấp tư sản, th� ngo�i c�ng li�n v� b�i c�ng ra, c�ng nh�n cần c� g� đ� hơn thế nữa. Nhưng � nghĩa thực sự của c�c c�ng li�n, v� những cuộc b�i c�ng do ch�ng tổ chức, l� ở chỗ: đ� l� những cố gắng đầu ti�n của c�ng nh�n để tiêu diệt cạnh tranh. Điều đ� nghĩa l� c�ng nh�n đ� hiểu rằng: sự thống trị của giai cấp tư sản chỉ x�y dựng được tr�n sự cạnh tranh giữa c�ng nh�n với nhau, tr�n sự chia rẽ của giai cấp v� sản, tr�n sự đối lập giữa những loại c�ng nh�n n�y với những loại c�ng nh�n kh�c. V� ch�nh v� c�ng li�n cố gắng chống lại cạnh tranh, sợi d�y thần kinh sống c�n của chế độ x� hội hiện tại; n�n chế độ x� hội ấy mới coi n� l� nguy hiểm đến thế, d� sự cố gắng kia vẫn c�n phiến diện v� hạn chế. Để tiến c�ng giai cấp tư sản, c�ng với đ� l� to�n thể chế độ x� hội hiện tại, c�ng nh�n kh�ng thể nhằm v�o chỗ n�o hiểm yếu hơn chỗ ấy. Khi c�ng nh�n kh�ng cạnh tranh với nhau nữa, khi tất cả đều quyết t�m kh�ng để giai cấp tư sản b�c lột m�nh nữa, th� vương quốc của chế độ tư hữu đến ng�y tận số. Tiền lương chỉ phụ thuộc v�o quan hệ cung - cầu, v�o t�nh h�nh ngẫu nhi�n tr�n thị trường lao động; đ� l� v� cho đến b�y giờ, c�ng nh�n vẫn để người ta coi m�nh l� những sự vật, c� thể đem mua b�n. Khi n�o c�ng nh�n quyết t�m kh�ng để người ta mua b�n họ nữa, khi n�o họ thấy r� gi� trị của lao động đ�ng ra l� g�; khi c�ng nh�n kh�ng c�n l� đồ vật nữa, m� l� con người, kh�ng chỉ c� sức lao động m� c�n c� � ch�; th� l�c ấy, to�n bộ kinh tế ch�nh trị học hiện đại, v� qui luật tiền lương, sẽ tận số. Tất nhi�n, nếu c�ng nh�n chỉ muốn ti�u diệt sự cạnh tranh lẫn nhau, th� qui luật tiền lương rồi sẽ lại c� hiệu lực dần. Nhưng c�ng nh�n kh�ng muốn từ bỏ phong tr�o từ trước đến nay của m�nh, họ kh�ng muốn kh�i phục sự cạnh tranh lẫn nhau; vậy th� họ kh�ng thể dừng lại ở đ�, họ phải tiến l�n. T�nh tất yếu bắt họ phải ti�u diệt sự cạnh tranh n�i chung, chứ kh�ng chỉ ti�u diệt một phần của sự cạnh tranh, v� họ sẽ l�m vậy. C�ng nh�n đ� ng�y c�ng hiểu r� l� cạnh tranh mang lại cho họ những tai hại g�, họ c�n hiểu hơn giai cấp tư sản rằng cạnh tranh giữa những người hữu sản cũng dẫn đến khủng hoảng thương nghiệp, do đ� cũng c� hại cho c�ng nh�n, thế n�n cũng phải ti�u diệt sự cạnh tranh ấy. Họ sẽ mau ch�ng hiểu rằng m�nh phải l�m việc đ� như thế nào. Kh�ng cần chứng minh rằng c�ng li�n đ� g�p phần tăng cường mạnh mẽ l�ng căm th� v� phẫn nộ của c�ng nh�n đối với giai cấp c� của. Thế n�n trong c�c thời k� đặc biệt s�i động, th� từ c�c c�ng li�n ấy, bất kể những người l�nh đạo c� đồng � hay kh�ng, đ� xuất hiện một số h�nh động c� biệt; chỉ c� thể được giải th�ch bằng sự th� gh�t cực độ, v� l�ng say sưa man dại v� bờ. Trong đ� c� trường hợp đổ acid sulfuric l�m bỏng người, đ� n�i tới ở tr�n; v� h�ng loạt những sự việc kh�c, m� t�i chỉ kể ra v�i vụ. Trong phong tr�o c�ng nh�n m�nh liệt năm 1831, Ashton, một chủ xưởng trẻ ở Hyde, gần Manchester, đ� bị bắn chết v�o một buổi tối ở ngo�i đồng, v� kh�ng t�m ra hung thủ. Kh�ng nghi ngờ g� nữa, đ� l� một h�nh vi b�o th� của c�ng nh�n. C�c vụ đốt xưởng v� �m mưu g�y nổ rất thường thấy. Ng�y thứ s�u, 29 th�ng Ch�n 1843, c� người mưu toan g�y nổ xưởng cưa của �ng Padgin ở phố Howard, thuộc Sheffield. Vật dụng l� một ống sắt nhồi đầy thuốc nổ v� bịt k�n, g�y thiệt hại kh� lớn. Ng�y h�m sau, 30 th�ng Ch�n, ở Shales Moor, gần Sheffield, c� một vụ tương tự, ở xưởng l�m dao giũa Ibbetson. �ng Ibbetson bị c�ng nh�n gh�t v� t�ch cực tham gia c�c phong tr�o tư sản, trả lương thấp, chuy�n m�n thu� knobstick, v� lợi dụng đạo luật về người ngh�o để đạt lợi ri�ng (ở cuộc khủng hoảng năm 1842, y bắt c�ng nh�n phải nhận lương thấp, b�o cho cơ quan trợ gi�p người ngh�o biết t�n những người kh�ng chấp nhận hạ lương, n�i l� họ c� thể c� c�ng việc m� kh�ng muốn l�m, do đ� họ kh�ng đ�ng được gi�p đỡ). Vụ nổ g�y thiệt hại kh� lớn, v� tất cả c�c c�ng nh�n tới xem vụ việc đều chỉ tiếc l� "kh�ng nổ tung cả x� nghiệp cho rồi". Ng�y thứ s�u, 6 th�ng Mười 1843, c� vụ mưu đốt c�ng xưởng Ainsworth & Crompton ở Bolton nhưng kh�ng g�y được thiệt hại; đ� l� lần thứ ba hoặc thứ tư mưu đốt c�ng xưởng ấy, trong một thời gian rất ngắn. Trong phi�n họp của hội đồng th�nh phố Sheffield, ng�y thứ tư, 10 th�ng Gi�ng 1844, ủy vi�n cảnh s�t đ� tr�nh ra một quả tạc đạn bằng gang, chứa bốn pound thuốc nổ, c� ng�i đ� đốt nhưng bị tắt, được t�m thấy trong xưởng của �ng Kitchen ở phố Earl, thuộc Sheffield. Chủ nhật, 20 th�ng Gi�ng 1844, nh� m�y xẻ gỗ Bentley & White ở Bury (Lancashire) bị nổ do một g�i thuốc nổ n�m v�o, thiệt hại kh� nặng. Ng�y thứ năm, 1 th�ng Hai 1844, xưởng l�m b�nh xe Soho ở Sheffield bị đốt ch�y sạch. Trong bốn th�ng đ� c� s�u vụ như thế, tất cả đều do l�ng căm th� cực độ của c�ng nh�n đối với chủ g�y n�n. Dưới chế độ x� hội như thế n�o, mới có thể xảy ra những vụ đ�, th� chẳng cần n�i nữa. Những chuyện n�y đủ chứng tỏ rằng ở Anh, cuộc chiến tranh x� hội đ� nổ ra v� đang được tiến h�nh, ngay cả trong thời k� thương nghiệp phồn vinh, như cuối năm 1843. Thế m� giai cấp tư sản Anh vẫn chưa tỉnh ngộ! Nhưng ồn �o nhất l� vụ �n về c�i gọi l� Thugs3* ở Glasgow, m� t�a �n bồi thẩm của th�nh phố ấy đ� x�t xử từ ng�y 3-11 th�ng Gi�ng 1838. Qua cuộc thẩm vấn, người ta thấy rằng c�ng li�n c�ng nh�n k�o sợi, th�nh lập từ năm 1816, đ� c� được sự đo�n kết v� lực lượng thật hiếm c�. Hội vi�n c�ng li�n phải thề phục t�ng quyết định của đa số. Mỗi khi c� b�i c�ng, sẽ xuất hiện một ban chấp h�nh b� mật, m� đa số hội vi�n kh�ng biết, c� to�n quyền sử dụng quĩ của c�ng li�n. Ban chấp h�nh ấy treo thưởng cho những vụ �m s�t knobstick v� chủ xưởng đ�ng căm th�, cũng như những vụ đốt xưởng. V� dụ, một xưởng đ� bị c�ng nh�n đốt sạch v� thu� c�c knobstick nữ v�o l�m, thay cho c�ng nh�n k�o sợi nam; mẹ của một trong những thiếu nữ ấy, t�n l� McPherson, đ� bị giết, hai hung thủ được c�ng li�n xuất tiền đưa sang Mĩ. Ngay từ năm 1820, một knobstick t�n l� McQuarry bị bắn bị thương, c�ng li�n đ� thưởng cho người bắn 15 Bảng. Sau đ� l� một người t�n l� Graham bị bắn bị thương, người bắn được 20 Bảng, nhưng lại bị bắt v� bị đi đ�y chung th�n. Sau c�ng, th�ng Năm 1837, tại v�i xưởng ở Oatbank v� Mile End đ� xảy ra rối loạn v� b�i c�ng, c� chừng một t� knobstick bị đ�nh đau; th�ng Bẩy c�ng năm đ�, vụ việc vẫn chưa y�n, một knobstick t�n l� Smith bị đ�nh chết. Bấy giờ, ban chấp h�nh bị bắt v� bị thẩm vấn; chủ tịch v� c�c ủy vi�n cốt c�n bị truy tố v� tội tham gia những tổ chức phi ph�p, h�nh hung knobstick, đốt c�ng xưởng của James v� Francis Wood, bị kết tội v� chịu �n đi đ�y bảy năm. Những người Đức lương thiện ch�ng ta sẽ n�i g� về chuyện n�y?4* Giai cấp c� của, đặc biệt l� bộ phận c�ng nghiệp của n�, v� tiếp x�c trực tiếp với c�ng nh�n, n�n chống c�c c�ng li�n kịch liệt nhất; ch�ng kh�ng ngừng ra sức d�ng rất nhiều luận điểm để chứng minh với c�ng nh�n rằng c�ng li�n l� v� dụng, theo kinh tế ch�nh trị học th� những luận điểm ấy ho�n to�n đ�ng, nhưng ch�nh v� thế m� ch�ng lại l� sai tr�n một mặt kh�c, v� ch�ng ho�n to�n v� hiệu đối với tư tưởng của c�ng nh�n. Ch�nh c�i nhiệt t�nh đ� của giai cấp tư sản đ� chứng tỏ rằng việc n�y rất c� quan hệ với lợi �ch của ch�ng; kh�ng n�i đến những tổn thất trực tiếp do b�i c�ng g�y n�n, th� t�nh h�nh l� thế n�y: c�i g� chui v�o t�i chủ xưởng tất l� phải m�c từ t�i c�ng nh�n ra. D� c�ng nh�n kh�ng hiểu r� rằng c�ng li�n c� thể hạn chế phần n�o cuộc đua hạ tiền lương của bọn chủ, nhưng họ biết rằng sự tồn tại của c�ng li�n l� c� hại cho kẻ địch của m�nh, l� c�c chủ xưởng, thế n�n họ kh�ng rời bỏ c�ng li�n. Trong chiến tranh, b�n n�y bị hại th� b�n kia được lợi, v� v� giữa c�ng nh�n với chủ xưởng đang c� chiến tranh, n�n họ cũng h�nh động như bọn vua ch�a ch� t�n, khi ch�ng t�m t�c nhau. Kẻ địch đi�n cuồng nhất của c�ng li�n, vượt xa mọi nh� tư sản kh�c, cũng lại l� �ng bạn của ch�ng ta, b�c sĩ Ure. �ng ta tức đến s�i bọt m�p khi n�i đến "t�a �n b� mật" của thợ k�o sợi b�ng, đội ngũ c�ng nh�n lớn mạnh nhất; c�i t�a �n cho rằng m�nh c� thể l�m b� tay bất k� t�n chủ xưởng n�o kh�ng tu�n lệnh, "do đ� l�m cho những người đ� bao năm nu�i nấng c�ng nh�n bị ph� sản". �ng ta c�n n�i đến c�i thời "m� đầu �c ph�t minh v� quả tim s�i động của c�ng nghiệp sẽ bị n� dịch bởi những kẻ bề dưới kh�ng v�ng lời". �i, Menenius Agrippa5 hiện đại ơi! Tiếc rằng c�ng nh�n Anh kh�ng dễ bị chuyện ngụ ng�n l�m cho y�n l�ng như những người b�nh d�n La M�! Cuối c�ng, Ure c�n kể một c�u chuyện l� th� sau: trước kia, c� thời những thợ k�o sợi th� tr�n m�y mule đ� lạm dụng bừa b�i sức mạnh của họ. Tiền lương cao kh�ng khiến họ biết ơn chủ xưởng, v� lo trau dồi tr� tuệ (tất nhi�n l� trong những m�n khoa học kh�ng c� hại, thậm ch� c� lợi cho giai cấp tư sản); tr�i lại, n� l�m cho họ trở n�n ngạo mạn, v� cho ph�p họ bỏ tiền ra, để cổ vũ tinh thần nổi loạn trong những cuộc b�i c�ng ho�n to�n v� lối, đang nổ ra li�n tiếp trong c�c c�ng xưởng. Khi những sự kiện bất hạnh ấy xảy ra ở Hyde, Dukinfield v� c�c v�ng l�n cận, những chủ xưởng ở đ� sợ sự cạnh tranh của người Ph�p, người Bỉ v� người Mĩ cướp mất thị trường, đ� t�m đến xưởng chế tạo m�y của Sharp, Robert v� c�ng ti; xin �ng Sharp trổ t�i ph�t minh của m�nh, l�m ra một m�y mule tự động, để "cứu nền sản xuất khỏi sự n� dịch cay đắng, cũng như sự hủy diệt sắp tới".

"Mấy tháng sau, một chiếc máy được chế tạo xong, hình như nó có đủ cả trí tuệ, cảm giác và sự khéo léo của một công nhân thành thạo; dù còn trong trứng nước, cái máy ấy đã biểu hiện một nguyên lí làm việc mới; và khi đã hoàn chỉnh, nó sẽ sẵn sàng đảm nhận chức năng của một thợ kéo sợi lành nghề. Thế là con người sắt (công nhân gọi nó như thế), theo mệnh lệnh của Minerva, đã sinh ra từ tay của Prometheus hiện đại. Vật sáng tạo này có sứ mệnh khôi phục trật tự giữa các giai cấp công nghiệp, và đảm bảo sự thống trị của người Anh ở ngành đó. Tin tức về cái kì công kiểu Hercules ấy đã gây sợ hãi trong công liên, và dù chưa ra khỏi nôi, vật sáng tạo kì diệu đó đã bóp chết con Hydra vô chính phủ".

Tiếp đ�, Ure chứng minh rằng việc ph�t minh c�i m�y c� thể in c�ng l�c 4-5 m�u l� do vụ bạo động của c�ng nh�n in vải hoa g�y ra, sự ương bướng của c�ng nh�n hồ sợi ở c�ng xưởng dệt th� dẫn tới sự ra đời của một c�i m�y hồ sợi ho�n thiện hơn, v� một số sự kiện tương tự nữa6*. Chỉ trước đ� mấy trang, ch�nh �ng Ure ấy c�n cố sức chứng minh d�i d�ng rằng việc sử dụng m�y m�c l� c� lợi cho c�ng nh�n! Nhưng kh�ng chỉ c� một m�nh Ure; trong b�o c�o về c�ng xưởng, chủ xưởng Ashworth v� nhiều người kh�c cũng kh�ng bỏ qua cơ hội n�o để thể hiện l�ng phẫn nộ của họ đối với c�ng li�n. Đối với mọi phong tr�o m� m�nh kh�ng hiểu được, những nh� tư sản th�ng minh ấy, cũng như một số ch�nh phủ, liền đổ tội cho ảnh hưởng của những kẻ cổ động c� dụng � xấu; những kẻ �m mưu, mị d�n, hay ph�n n�n, v� bọn thanh ni�n. Họ khẳng định: c�c nh� hoạt động của c�ng li�n phải quan t�m đến việc cổ động, v� họ sống nhờ v�o tiền lương của c�ng li�n; l�m như rằng kh�ng phải ch�nh giai cấp tư sản đ� bắt c�ng li�n phải trả lương cho những người ấy, v� c�c chủ xưởng chẳng chịu thu� họ bao giờ! Những cuộc b�i c�ng xảy ra rất nhiều l� minh chứng r� nhất về việc cuộc chiến tranh x� hội đ� lan tr�n tr�n to�n nước Anh đến mức n�o. Kh�ng c� tuần n�o, thậm ch� hầu như kh�ng c� ng�y n�o l� kh�ng xảy ra b�i c�ng ở nơi n�o đ�; khi th� v� tiền c�ng giảm, khi th� v� chủ xưởng kh�ng chịu tăng lương, khi th� v� chủ xưởng thu� knobstick, khi th� v� chủ xưởng kh�ng ngừng đ�nh chửi hay cư xử �c nghiệt, khi th� v� việc sử dụng m�y mới, v� h�ng trăm nguy�n nh�n kh�c. Những cuộc b�i c�ng ấy mới chỉ l� những trận đ�nh nhỏ ở tiền ti�u, thỉnh thoảng mới trở th�nh những trận chiến tương đối lớn; d� chưa giải quyết được g�, nhưng ch�ng đ� chứng minh r� r�ng rằng, trận đ�nh quyết định giữa giai cấp v� sản v� giai cấp tư sản đang đến gần. B�i c�ng l� trường học qu�n sự của c�ng nh�n, ở đ�, họ đ� chuẩn bị cho cuộc đấu tranh vĩ đại, m� nay đ� trở th�nh kh�ng thể tr�nh khỏi; b�i c�ng l� tuy�n ng�n của từng ng�nh trong nền c�ng nghiệp, về việc tham gia phong tr�o c�ng nh�n to lớn; nếu đọc hết c�c số của tờ "Northern Star" trong một năm, tờ b�o duy nhất đăng tin về mọi phong tr�o của giai cấp v� sản, th� c� thể thấy rằng tất cả c�ng nh�n ở th�nh phố v� n�ng th�n đ� họp th�nh c�ng li�n, v� thỉnh thoảng đ� tổng b�i c�ng để phản kh�ng sự thống trị của giai cấp tư sản. Với t�nh chất l� trường học đấu tranh th� kh�ng c� g� hơn được b�i c�ng; ở đ�, l�ng dũng cảm đặc biệt của người Anh c�ng được ph�t huy. Ở lục địa người ta thường cho rằng: người Anh, nhất l� c�ng nh�n, đều nh�t gan, v� họ kh�ng thể l�m c�ch mạng; đ� l� v� người Anh dường như đ� y�n phận dưới chế độ tư sản, kh�ng như người Ph�p l�c n�o cũng sẵn s�ng nổi loạn. � kiến đ� ho�n to�n sai. Về dũng cảm th� c�ng nh�n Anh kh�ng k�m bất k� ai; họ cũng s�i nổi như người Ph�p, nhưng họ đấu tranh bằng c�ch kh�c. Người Ph�p c� bản t�nh ch�nh trị, họ đấu tranh chống những tệ hại x� hội theo kiểu ch�nh trị. C�n người Anh coi ch�nh trị chỉ l� để phục vụ lợi �ch ri�ng của x� hội tư sản, thế n�n họ kh�ng đấu tranh chống ch�nh phủ, m� trực tiếp chống giai cấp tư sản; v� l�c n�y, cuộc đấu tranh ấy chỉ c� thể c� hiệu quả bằng c�ch thức h�a b�nh. Do c�ng nghiệp đ�nh đốn v� tiếp đ� l� ngh�o khổ; n�n năm 1834, ở Lyon đ� nổ ra cuộc khởi nghĩa, đ�i th�nh lập nước cộng h�a; c�n năm 1842, ở Manchester đ� nổ ra cuộc tổng b�i c�ng, đ�i Hiến chương nh�n d�n v� tăng lương. Nhưng so với khởi nghĩa, b�i c�ng cũng đ�i hỏi dũng cảm, thậm ch� l� dũng cảm hơn nhiều; v� c�n cần quyết t�m to lớn v� ki�n quyết hơn nhiều, điều ấy rất r� r�ng. Thật thế, với c�c c�ng nh�n đ� từng trải qua v� hiểu r� cảnh ngh�o khổ, th� việc họ v� vợ con đối mặt với việc đ�; c�ng nhau chịu đựng đ�i r�t, thiếu thốn h�ng th�ng r�ng, m� vẫn ki�n định, kh�ng lay chuyển; đ� kh�ng phải l� chuyện nhỏ. C�ng nh�n Anh th� chịu chết dần v� đ�i, h�ng ng�y phải nh�n vợ con đ�i khổ, biết chắc l� sau n�y giai cấp tư sản sẽ b�o th�, họ th� chịu tất cả chứ kh�ng c�i đầu dưới �ch �p bức của giai cấp c� của; chết ch�c hoặc t� đ�y, những thứ đe dọa những người c�ch mạng Ph�p, đ� l� c�i g� so với c�c việc kia! Sau đ�y ta sẽ thấy một v� dụ về l�ng dũng cảm ngoan cường kh�ng g� thắng được của c�ng nh�n Anh, chỉ đến khi phản kh�ng đ� trở th�nh v� �ch v� v� nghĩa, th� họ mới đầu h�ng trước bạo lực. Ch�nh trong c�i tinh thần ki�n nhẫn điềm tĩnh ấy, trong sự quyết t�m bền bỉ để vượt qua h�ng trăm thử th�ch mỗi ng�y ấy, c�ng nh�n Anh đ� tỏ r� c�i kh�a cạnh qu� nhất của t�nh c�ch họ. Những con người đ� chịu đựng nhiều đến thế để bẻ g�y sự phản kh�ng của một t�n tư sản độc nhất, th� cũng c� thể bẻ g�y lực lượng của to�n bộ giai cấp tư sản. Nhưng ngo�i c�c việc đ�, c�ng nh�n Anh cũng rất nhiều lần tỏ ra dũng cảm. Cuộc b�i c�ng năm 1842 kh�ng thu được nhiều kết quả hơn, một phần v� c�ng nh�n bị giai cấp tư sản �p phải l�m việc đ�; một phần v� họ chưa nhận thức r�, cũng như chưa đo�n kết nhất tr�, về mục đ�ch của b�i c�ng. Nhưng ở những trường hợp kh�c, khi đ� c� mục đ�ch xã hội r� r�ng, th� họ tỏ ra rất dũng cảm. Chưa n�i đến cuộc khởi nghĩa năm 1839 ở Wales, th� v�o th�ng Năm 1843, khi t�i đang ở Manchester, tại đ�y đ� nổ ra một cuộc chiến thực sự. Một nh� m�y gạch (Pauling & Henfrey) tăng k�ch cỡ vi�n gạch, v� tất nhi�n l� b�n vi�n gạch lớn hơn với gi� cao hơn, nhưng kh�ng tăng lương; c�ng nh�n đ�i tăng lương bị cự tuyệt n�n họ đ�nh c�ng, c�ng li�n cũng tuy�n bố tẩy chay h�ng ấy. Nhưng chủ xưởng đ� bỏ nhiều c�ng sức để thu� knobstick, cũng như c�ng nh�n ở c�c v�ng l�n cận. Đối với những người ấy, l�c đầu c�ng li�n chỉ đe dọa. Để bảo vệ nh� m�y, c�ng ti thu� mười hai t�n đ� từng đi l�nh hoặc l�m cảnh s�t, v� ph�t s�ng cho ch�ng. V� đe dọa kh�ng c� hiệu quả n�n một đ�m, v�o mười giờ, một to�n c�ng nh�n gạch, bố tr� th�nh đội h�nh chiến đấu, với h�ng đầu c� s�ng, đ� tấn c�ng nh� m�y, vốn chỉ nằm c�ch trại l�nh bộ binh gần 400 bước7*. C�ng nh�n tiến v�o khu vực nh� m�y, thấy bọn bảo vệ l� bắn ngay, giẫm n�t gạch phơi ở đất, x� đổ những đống gạch kh�, gặp c�i g� cũng ph� hủy; họ lọt v�o một ng�i nh�, đập ph� mọi đồ đạc, v� đ�nh vợ của một đốc c�ng ở đ�. L�c n�y, bọn bảo vệ nấp sau một h�ng r�o, được che chắn, v� c� thể bắn m� kh�ng bị vướng g�. Những người tấn c�ng dừng lại trước một l� gạch đang bị đốt, �nh lửa chiếu v�o họ rất r�; thế n�n họ trở th�nh bia đỡ đạn cho địch, c�n bản th�n họ chỉ bắn h� họa. Tuy thế hai b�n vẫn bắn nhau hơn nửa giờ, cho đến l�c c�ng nh�n hết đạn, v� đạt được mục đ�ch của cuộc tấn c�ng, l� ph� hết những g� c� thể trong nh� m�y. Bấy giờ qu�n đội đến, c�ng nh�n r�t về Eccles (c�ch Manchester ba dặm). L�c sắp đến Eccles th� họ điểm danh theo số hiệu của mỗi người trong to�n, để rồi giải t�n, đ�ng ra l� chỉ để rơi v�o tay bọn cảnh s�t từ bốn ph�a ập lại. Số người bị thương hẳn l� rất nhiều, nhưng người ta chỉ biết số người bị bắt th�i. Một c�ng nh�n tr�ng ba vi�n đạn v�o đ�i, ch�n v� vai; m� vẫn l� đi được hơn bốn dặm. Những người đ� đ� tỏ ra rằng họ cũng c� dũng kh� c�ch mạng v� kh�ng sợ s�ng đạn. Khi một đ�m quần ch�ng tay kh�ng tấc sắt, m� ch�nh họ cũng kh�ng biết m�nh muốn g�, đ� bị bao v�y ở một b�i chợ, chỉ c� mấy t�n long kị binh v� cảnh s�t đứng giữ c�c lối ra cũng đủ để trấn �p, như việc đ� xảy ra năm 1842, th� điều đ� kh�ng hề chứng minh được rằng quần ch�ng thiếu dũng cảm; v� l�c ấy, d� kh�ng c� bọn tay sai của ch�nh quyền nh� nước, tức l� ch�nh quyền tư sản, th� quần ch�ng cũng kh�ng l�m n�n g� cả. Ở đ�u m� nh�n d�n c� mục ti�u r� r�ng, th� họ tỏ ra c� đầy đủ dũng kh�; v� dụ cuộc tấn c�ng v�o xưởng Birley, sau n�y người ta phải d�ng cả ph�o binh để bảo vệ xưởng ấy. Nh�n đ�y, xin c� v�i lời về t�nh thi�ng li�ng của ph�p luật ở Anh. Với người tư sản, dĩ nhi�n ph�p luật l� thần th�nh, v� ph�p luật ấy l� do n� đặt ra, được ban bố với sự đồng � của n�, để bảo vệ v� l�m lợi cho n�. Người tư sản hiểu rằng, ngay cả khi c� một đạo luật c� biệt g�y hại cho n�, th� to�n bộ hệ thống ph�p luật vẫn l� để bảo vệ lợi �ch của n�; v� tr�n hết l� t�nh thi�ng li�ng của ph�p luật, t�nh bất khả x�m phạm của trật tự, vốn được một nh�m người trong x� hội qui định một c�ch t�ch cực theo � ch� của m�nh, v� được một nh�m người kh�c chấp nhận một c�ch ti�u cực, đ� vẫn l� trụ cột vững chắc nhất cho địa vị x� hội của n�. Người tư sản Anh thấy bản th�n m�nh được thể hiện trong ph�p luật cũng như trong thượng đế, thế n�n n� coi ph�p luật l� thần th�nh; đối với n�, c�i d�i cui của cảnh s�t, thực chất l� c�i d�i cui của n�, c� sức xoa dịu lạ thường. Nhưng với c�ng nh�n th� tất nhi�n kh�ng phải thế. C�ng nh�n biết rất r� v� đ� trải nghiệm nhiều lần rằng, ph�p luật đối với anh ta chỉ l� c�i roi của giai cấp tư sản, thế n�n chỉ khi bị bắt buộc th� anh ta mới gọi đến ph�p luật. Thật buồn cười l� c� người cho rằng c�ng nh�n Anh sợ cảnh s�t, khi m� tuần n�o ở Manchester cũng c� vụ cảnh s�t bị đ�nh, thậm ch� năm ngo�i c�n c� �m mưu tấn c�ng một đồn cảnh s�t, vốn được bảo vệ bằng cửa sắt v� cửa chớp d�y. Trong cuộc b�i c�ng năm 1842, cảnh s�t c� được uy lực, như đ� n�i ở tr�n, th� chỉ l� v� ch�nh c�ng nh�n đ� do dự. V� c�ng nh�n kh�ng t�n trọng ph�p luật, m� chỉ khi n�o kh�ng đủ sức thay đổi ph�p luật th� mới đầu h�ng n�; n�n tất nhi�n l� �t ra họ cũng muốn kiến nghị sửa đổi ph�p luật, v� muốn lấy ph�p luật v� sản thay cho ph�p luật tư sản. Ph�p luật v� sản ấy ch�nh l� Hiến chương Nhân dân (People's Charter), về h�nh thức, đ� l� một văn kiện ch�nh trị thuần t�y, đ�i cải tổ Hạ viện theo nguy�n tắc d�n chủ. Phong trào Hiến chương l� biểu hiện tập trung của cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Với c�c c�ng li�n v� c�c cuộc b�i c�ng, sự đấu tranh ấy vẫn lu�n bị ph�n t�n; đ� chỉ l� những c�ng nh�n c� biệt, hoặc c�c bộ phận c�ng nh�n, chống lại một người tư sản c� biệt. Nếu cuộc đấu tranh c� trở th�nh phổ biến, th� cũng hiếm khi l� do sự tự gi�c của c�ng nh�n; v� khi c�ng nh�n đ� c� chủ � l�m điều đ�, th� cơ sở của sự tự gi�c ấy l� phong tr�o Hiến chương. Trong phong tr�o Hiến chương, to�n bộ giai cấp c�ng nh�n đứng l�n chống giai cấp tư sản, tấn c�ng trước hết v�o ch�nh quyền của giai cấp tư sản, tấn c�ng v�o th�nh tr� ph�p chế m� giai cấp tư sản d�ng để bảo hộ m�nh. Phong tr�o Hiến chương xuất ph�t từ Đảng dân chủ, đảng n�y ph�t triển từ những năm 1780, ở trong và đồng thời với giai cấp vô sản, mạnh l�n trong thời k� C�ch mạng Ph�p, v� sau khi k� h�a ước th� trở th�nh Đảng "cấp tiến". Bấy giờ trung t�m chủ yếu của n� l� Birmingham v� Manchester, c�n trước kia l� London. Đảng ấy li�n minh với ph�i tư sản tự do, v� buộc bọn đầu sỏ trong nghị viện cũ th�ng qua dự luật cải c�ch; từ đ�, n� ng�y c�ng được củng cố, trở th�nh ch�nh đảng của c�ng nh�n, đối lập với giai cấp tư sản. Năm 1835, một ủy ban của Tổng hội li�n hiệp c�ng nh�n (General Working Men's Association) ở London, do William Lovett đứng đầu, đ� thảo ra Hiến chương Nh�n d�n gồm "s�u điểm" sau đ�y: 1) phổ th�ng đầu phiếu cho mọi đ�n �ng th�nh ni�n, c� tinh thần l�nh mạnh v� kh�ng phạm tội; 2) nghị viện được bầu lại h�ng năm; 3) c� phụ cấp cho nghị sĩ, để cho người kh�ng c� t�i sản cũng c� thể l�m đại biểu; 4) bỏ phiếu k�n để ngăn ngừa sự mua chuộc v� đe dọa của giai cấp tư sản; 5) ph�n chia khu bầu cử cho b�nh đẳng để bảo đảm quyền đại biểu b�nh đẳng; 6) thủ ti�u sự hạn chế tư c�ch đại biểu (vốn chỉ l� thuần t�y h�nh thức, v� chỉ d�nh quyền ứng cử cho những người c� địa sản �t nhất l� 300 Bảng) để cho mỗi cử tri đều c� quyền ứng cử. S�u điểm ấy chỉ n�i đến cơ cấu của Hạ viện, thoạt nh�n th� hiền l�nh, nhưng vẫn đủ để qu�t sạch Hiến ph�p Anh, gồm cả Nữ ho�ng v� Thượng viện. C�i gọi l� th�nh phần qu�n chủ v� th�nh phần qu� tộc vẫn tồn tại trong Hiến ph�p, chỉ l� v� giai cấp tư sản thấy c� lợi khi duy tr� n� làm bù nhìn; hiện nay, hai th�nh phần ấy đều chỉ tồn tại tr�n bề ngo�i. Nhưng nếu Hạ viện được dư luận cả nước ủng hộ, nếu n� biểu hiện cho � ch� của to�n d�n, chứ kh�ng chỉ của giai cấp tư sản; th� n� sẽ thu được to�n bộ quyền lực về m�nh, c�n đ�m qu�n chủ v� qu� tộc th� sẽ mất nốt c�i h�o quang thần th�nh cuối c�ng tr�n đầu họ. C�ng nh�n Anh kh�ng t�n k�nh g� những thượng nghị sĩ v� Nữ ho�ng, c�n giai cấp tư sản lại coi những người n�y như thần th�nh, d� tr�n thực tế th� rất �t quan t�m đến � kiến của họ. Về ch�nh trị, những người theo ph�i Hiến chương ở Anh đi theo chủ nghĩa cộng h�a, d� họ hầu như kh�ng d�ng hoặc rất �t d�ng từ đ�; d� đồng t�nh với c�c đảng cộng h�a ở c�c nước, nhưng họ th�ch tự xưng l� người d�n chủ. Họ kh�ng chỉ l� những người cộng h�a đơn thuần, v� chủ nghĩa d�n chủ của họ cũng kh�ng chỉ hạn chế ở mặt ch�nh trị. Bắt đầu xuất hiện từ năm 1835, phong tr�o Hiến chương chủ yếu được truyền b� trong c�ng nh�n, nhưng chưa c�ch biệt hẳn với giai cấp tiểu tư sản cấp tiến. Chủ nghĩa cấp tiến c�ng nh�n vẫn s�t c�nh với chủ nghĩa cấp tiến tư sản. Hiến chương l� khẩu hiệu chung của họ; h�ng năm, họ c�ng nhau tổ chức "hội nghị quốc d�n", h�nh như c�n th�nh lập chung một đảng. Giai cấp tiểu tư sản l�c đ� đang c� t�m l� rất hiếu chiến v� bạo lực, do thất vọng với kết quả của dự luật cải c�ch, v� do sự đ�nh đốn của thương nghiệp trong những năm 1837-1839; thế n�n họ rất th�ch sự cổ động m�nh liệt của ph�i Hiến chương. Ở nước Đức th� người ta kh�ng thể n�o h�nh dung ra t�nh chất quyết liệt của sự cổ động ấy. Người ta k�u gọi nh�n d�n cầm vũ kh�, thậm ch� k�u gọi khởi nghĩa; người ta cũng chế tạo gi�o m�c, hệt như ở thời C�ch mạng Ph�p trước kia. Trong phong tr�o năm 1838, c� một gi�o sĩ thuộc ph�i Gi�m l�, t�n l� Stephens, n�i với cư d�n Manchester như sau:

"Đừng sợ lực lượng của chính phủ, đừng sợ binh sĩ, lưỡi lê và đại bác của những kẻ áp bức các anh; các anh có trong tay một vũ khí có sức mạnh hơn tất cả những cái đó, một vũ khí mà lưỡi lê và đại bác không làm gì được. Một đứa trẻ mười tuổi cũng sử dụng được vũ khí đó. Chỉ cần vài que diêm và một nắm cỏ khô tẩm hắc ín là đủ rồi! Tôi muốn xem, nếu người ta dùng vũ khí đó một cách dũng cảm, thì chính phủ và mấy chục vạn binh sĩ của nó sẽ làm gì để chống lại!"8*

Nhưng c�ng l�c đ�, t�nh chất xã hội đặc biệt của phong tr�o Hiến chương của c�ng nh�n cũng được lộ r�. Trong cuộc m�t-tinh c� 20 vạn người tham dự ở Kersall Moor, m� ch�ng t�i từng gọi l� "N�i th�nh" của Manchester, gi�o sĩ Stephens ấy lại n�i rằng:

"Các bạn, phong trào Hiến chương không phải là một vấn đề chính trị, để giành quyền bầu cử cho các bạn, v.v.; phong trào Hiến chương là vấn đề bát đĩa; Hiến chương tức là ở tốt, ăn ngon, lương cao, ngày lao động ngắn".

V� vậy, phong tr�o chống đạo luật mới về người ngh�o v� đ�i dự luật mười giờ c� mối li�n hệ hết sức gần gũi với phong tr�o Hiến chương. Trong mọi cuộc m�t-tinh thời ấy đều c� mặt Oastler, người thuộc đảng Tory; v� ngo�i đơn thỉnh nguyện của quốc d�n (đ� được th�ng qua ở Birmingham), đ�i thực hiện Hiến chương Nh�n d�n, c�n c� h�ng trăm đơn thỉnh nguyện về việc cải thiện t�nh cảnh x� hội của c�ng nh�n. Năm 1839, sự cổ động vẫn s�i nổi; cuối năm ấy, khi phong tr�o vừa mới dịu xuống một �t, th� Bussey, Taylor v� Frost vội v�ng tổ chức khởi nghĩa đồng loạt ở miền Bắc Anh, Yorkshire v� Wales. V� kế hoạch của Frost bị kẻ phản bội tố gi�c, n�n �ng buộc phải ph�t động khởi nghĩa non, v� bị đ�n �p. Những người tổ chức khởi nghĩa ở miền Bắc đ� kịp r�t lui khi biết về thất bại của Frost. Hai th�ng sau, th�ng Gi�ng 1840, ở Yorkshire đ� nổ ra mấy cuộc gọi l� bạo động cảnh s�t (spy-outbreak), như tại Sheffield v� Bradford, sau đ� phong tr�o dần lắng xuống. Trong khi đ�, giai cấp tư sản tập trung v�o c�c dự �n thực tế hơn, c� lợi hơn cho họ, đ� l� x�a bỏ c�c đạo luật ngũ cốc. Hiệp hội chống đạo luật ngũ cốc đ� được th�nh lập ở Manchester, do đ� m� sự li�n minh giữa giai cấp tư sản cấp tiến v� giai cấp v� sản bị suy yếu. C�ng nh�n sớm hiểu rằng việc bỏ đạo luật ngũ cốc c� lợi rất �t cho họ, m� lại c� lợi rất lớn cho giai cấp tư sản, thế n�n dự �n đ� của giai cấp tư sản kh�ng được họ ủng hộ. V� rồi cuộc khủng hoảng năm 1842 nổ ra. C�ng t�c cổ động lại s�i nổi như năm 1839. Nhưng lần n�y giai cấp tư sản c�ng nghiệp gi�u c� cũng tham gia, v� họ bị thua lỗ rất lớn trong khủng hoảng. Hiệp hội do c�c chủ xưởng Manchester tổ chức năm xưa, nay gọi l� Đồng minh chống đạo luật ngũ cốc, đ� c� t�nh chiến đấu v� cấp tiến rất cao. B�o ch� v� những người cổ động của họ đ� sử dụng ng�n ngữ c�ch mạng c�ng khai; một l� do ch�nh của việc n�y l� từ năm 1841, Đảng bảo thủ l�n nắm ch�nh quyền. Y như ph�i Hiến chương trước kia, b�y giờ Đồng minh cũng k�u gọi khởi nghĩa; v� c�ng nh�n, những người chịu đau khổ nhất trong cuộc khủng hoảng, cũng kh�ng ngồi y�n; c�i đơn thỉnh nguyện năm ấy, với 3 triệu rưỡi người k� t�n, đ� chứng tỏ điều đ�. T�m lại, nếu hai đảng cấp tiến ấy trước kia c� hơi t�ch khỏi nhau, th� nay lại li�n minh với nhau. Ng�y 15 th�ng Hai 1842, trong hội nghị li�n tịch ở Manchester, Đảng tự do v� ph�i Hiến chương soạn thảo một l� đơn thỉnh nguyện, y�u cầu x�a bỏ c�c đạo luật ngũ cốc v� thực hiện Hiến chương; ng�y h�m sau, hai đảng đ� th�ng qua l� đơn ấy. M�a xu�n v� m�a h� đi qua, việc cổ động vẫn quyết liệt, v� t�nh h�nh ngh�o khổ ng�y c�ng tăng. Giai cấp tư sản quyết t�m lợi dụng khủng hoảng, sự thiếu thốn do khủng hoảng g�y ra, v� t�nh h�nh n�o động ở nhiều nơi, để đạt mục đ�ch: x�a bỏ c�c đạo luật ngũ cốc. L�c n�y những người thuộc đảng Tory đang nắm ch�nh quyền, n�n giai cấp tư sản dường như vứt bỏ cả l�ng y�u qu� ph�p luật của m�nh: họ muốn c� c�ch mạng, nhưng lại muốn mượn tay c�ng nh�n l�m. Họ muốn c�ng nh�n th� tay v�o lửa lấy hạt dẻ cho họ, v� v� họ m� chịu bỏng tay. Khẩu hiệu "tháng thần thánh", do ph�i Hiến chương đề ra năm 1839, để k�u gọi tổng b�i c�ng, nay lại c� ở khắp nơi; nhưng lần n�y kh�ng phải c�ng nh�n muốn nghỉ việc, m� l� chủ xưởng muốn đ�ng cửa nh� m�y, đưa c�ng nh�n về n�ng th�n, đẩy họ đến những l�nh địa của bọn qu� tộc, để bắt nghị viện v� ch�nh phủ của đảng bảo thủ phải bỏ thuế ngũ cốc. Tất nhi�n l� việc đ� c� thể đưa đến khởi nghĩa, nhưng giai cấp tư sản vẫn nấp trong b�ng tối, v� c� thể ngồi chờ kết quả, nếu thất bại th� cũng kh�ng hại đến m�nh. Cuối th�ng Bẩy, t�nh h�nh thị trường bắt đầu kh� l�n, kh�ng thể tr� ho�n nữa; để khỏi lỡ thời cơ, ba c�ng ti ở Stalybridge liền hạ lương, trong khi tình hình kinh tế đang khá lên (xem b�o c�o về thương nghiệp của Manchester v� Leeds cuối th�ng Bẩy v� đầu th�ng T�m). Họ tự động l�m thế, hay đ� c� thỏa thuận với c�c chủ xưởng kh�c, đặc biệt l� với Đồng minh; c�i đ� t�i kh�ng r�. Nhưng kh�ng l�u sau, hai c�ng ti đ� r�t lui, c�n c�ng ti thứ ba, t�n l� William Bailey & Anh em, th� vẫn kh�ng lay chuyển v� đ�p lại lời ph�n n�n của c�ng nh�n rằng "nếu họ kh�ng th�ch thế th� họ n�n đi dạo chơi một thời gian". C�u ch�m biếm ấy khiến c�ng nh�n la � phẫn nộ; họ rời c�ng xưởng, tỏa ra khắp th�nh phố để k�u gọi tất cả c�ng nh�n b�i c�ng. Chỉ sau mấy giờ, tất cả c�c xưởng đều ngừng việc, từng đo�n c�ng nh�n k�o đến Mottram Moor để m�t-tinh. Đ� l� ng�y 5 th�ng T�m. Ng�y 8 th�ng T�m, 5000 người k�o đến Ashton v� Hyde, khiến cho mọi c�ng xưởng v� mỏ than đều đ�ng cửa, v� tổ chức m�t-tinh ở nhiều nơi; nhưng họ kh�ng n�i về việc x�a bỏ đạo luật ngũ cốc, như giai cấp tư sản hi vọng, m� họ n�i về "tiền c�ng phải chăng cho một ng�y lao động phải chăng" (a fair day's wages for a fair day's work). Ng�y 9 th�ng T�m, họ đến Manchester, v� không gặp ngăn trở gì từ phía chính quyền (v� ch�nh quyền to�n l� người của Đảng tự do); mọi c�ng xưởng ở đ� đều dừng việc. Ng�y 11 th�ng T�m, họ đến Stockport; khi tới nh� tế bần, đứa con cưng của giai cấp tư sản, th� lần đầu ti�n họ bị kh�ng cự. C�ng h�m ấy, ở Bolton đ� nổ ra tổng b�i c�ng v� nhiều vụ n�o động, m� ch�nh quyền cũng kh�ng ngăn trở g�; cuộc khởi nghĩa mau ch�ng lan rộng đến mọi khu c�ng nghiệp, trừ ng�nh gặt h�i v� thực phẩm, c�n th� mọi c�ng việc đều dừng lại. Nhưng c�c c�ng nh�n khởi nghĩa vẫn b�nh tĩnh. Kh�ng phải l� tự họ muốn v�ng l�n, m� họ bị bắt buộc: trừ một người, đảng viên đảng Tory ở Manchester, t�n l� Birley, c�n th� c�c chủ xưởng đều l�m trái với thói quen của họ, v� kh�ng chống lại b�i c�ng. Sự việc đ� nổ ra, nhưng c�ng nh�n kh�ng c� mục đ�ch r� r�ng. Thực ra họ c� nhất tr� ở một việc l� kh�ng l� g� lại x�ng v�o lửa đạn để bảo vệ lợi �ch của bọn chủ xưởng chống đạo luật ngũ cốc, nhưng về c�c mặt kh�c, th� một số người đ�i thực hiện Hiến chương, một số kh�c cho rằng việc đ� c�n qu� sớm, v� chỉ đ�i kh�i phục mức lương của năm 1840. To�n bộ cuộc nổi dậy v� thế m� thất bại. Nếu ngay từ đầu, n� đ� l� cuộc khởi nghĩa tự gi�c v� ki�n quyết của c�ng nh�n, th� nhất định n� đ� thắng lợi rồi. Nhưng quần ch�ng bị bọn chủ xua ra đường phố tr�i với � muốn của họ, kh�ng c� mục đ�ch r� rệt, n�n đ� kh�ng l�m được g�. Trong khi đ�, giai cấp tư sản chẳng th�m nh�c nh�ch g� để thực hiện những thỏa thuận ng�y 15 th�ng Hai, v� đ� sớm hiểu ra rằng c�ng nh�n kh�ng muốn l�m c�ng cụ cho họ; c�n c�i h�nh vi tiền hậu bất nhất, m� họ đ� thể hiện trong việc n� tr�nh con đường "hợp ph�p", th� đang g�y nguy hiểm cho bản th�n họ; thế n�n họ liền quay về lập trường t�n trọng ph�p luật, chạy về ph�a ch�nh phủ, chống lại những c�ng nh�n m� ch�nh họ đ� x�i giục rồi sau đ� �p phải khởi nghĩa. Giai cấp tư sản, v� tay sai trung th�nh của họ, gia nhập c�c đội cảnh s�t đặc biệt; đến c�c nh� bu�n người Đức ở Manchester cũng tham gia, tay cầm can, mồm ngậm x�-g�, họ đi diễu một c�ch ho�n to�n v� �ch tr�n c�c phố; ở Preston họ ra lệnh bắn v�o nh�n d�n, thế l� cuộc khởi nghĩa tự ph�t của nh�n d�n đột nhi�n phải đối mặt kh�ng chỉ với lực lượng vũ trang của ch�nh phủ, m� c�n với to�n bộ giai cấp c� của. C�ng nh�n, vốn kh�ng c� mục đ�ch r� r�ng, n�n đ� dần giải t�n, v� cuộc khởi nghĩa kết th�c m� kh�ng c� hậu quả g� nghi�m trọng. Sau đ�, giai cấp tư sản c�n l�m nhiều điều bỉ ổi kh�c: để tự b�o chữa, họ tỏ ra gh� tởm những h�nh động bạo lực của nh�n d�n, th�i độ ấy chẳng ăn khớp g� với những lời lẽ c�ch mạng của ch�nh họ hồi m�a xu�n; họ đổ hết tội lỗi cho những "kẻ x�i giục" thuộc ph�i Hiến chương v.v., d� ch�nh họ c�n l�m nhiều hơn cả ph�i Hiến chương trong việc g�y ra khởi nghĩa; họ trở lại lập trường cũ của m�nh về t�nh thi�ng li�ng của ph�p luật, với sự v� li�m sỉ cực độ. Ph�i Hiến chương hầu như ho�n to�n kh�ng tham gia chuẩn bị khởi nghĩa, họ chỉ l�m c�i việc m� ch�nh giai cấp tư sản đang sửa soạn l�m, tức l� lợi dụng t�nh thế, nhưng họ lại bị truy tố v� xử tội; giai cấp tư sản th� kh�ng mất g�, hơn nữa, trong thời k� đ�nh c�ng, họ c�n c� thể b�n hết h�ng tồn kho để thu lợi. Kết quả của cuộc khởi nghĩa n�y l� giai cấp v� sản t�ch hẳn ra khỏi giai cấp tư sản. Ph�i Hiến chương trước nay th� kh�ng che giấu rằng họ sẵn s�ng d�ng mọi biện ph�p để thực hiện Hiến chương của m�nh, thậm ch� l� c�ch mạng. C�n giai cấp tư sản l�c n�y đột nhi�n hiểu rằng bất k� cuộc biến chuyển bằng bạo lực n�o cũng l� nguy hiểm cho m�nh; họ kh�ng muốn nghe về "lực lượng vật chất" nữa, m� chỉ muốn d�ng "lực lượng tinh thần" để đạt mục đ�ch của m�nh; như thể l� "lực lượng tinh thần" th� kh�c hẳn với việc "trực tiếp hoặc gi�n tiếp đe dọa sử dụng lực lượng vật chất". Đ� l� một điểm chia rẽ, nhưng về sau n� đ� bị thủ ti�u, do lời tuy�n bố của ph�i Hiến chương (ph�i n�y �t ra cũng đ�ng tin ngang với giai cấp tư sản tự do) rằng họ cũng kh�ng cần đến lực lượng vật chất. Điểm chia rẽ thứ hai, v� l� điểm chủ chốt, gi�p cho phong tr�o Hiến chương đến được sự thuần khiết của n�, l� vấn đề x�a bỏ đạo luật ngũ cốc. Giai cấp tư sản cấp tiến quan t�m đến việc ấy, c�n giai cấp v� sản th� kh�ng. Thế l� Đảng Hiến chương trước kia liền chia l�m hai; những nguy�n tắc ch�nh trị của hai đảng ấy, tr�n lời n�i th� y hệt nhau, nhưng tr�n thực tế th� kh�c hẳn nhau, đến mức kh�ng thể điều h�a nổi. Tại hội nghị quốc d�n Birmingham th�ng Gi�ng 1843, �ng Sturge, đại biểu của giai cấp tư sản cấp tiến, đề nghị bỏ cái tên Hiến chương ở trong điều lệ của Hiệp hội Hiến chương, l� do l�: sau cuộc khởi nghĩa, c�i t�n ấy khiến người ta li�n tưởng đến c�c h�nh động c�ch mạng bạo lực; nhưng mối li�n hệ ấy đ� c� từ nhiều năm trước, m� khi đ� th� �ng Sturge chẳng phản đối bao giờ. C�ng nh�n kh�ng muốn bỏ c�i t�n ấy, v� khi biểu quyết vấn đề, �ng Sturge bị thất bại. Anh t�n đồ Quaker ấy đột nhi�n biến th�nh một gi�o hữu trung th�nh, dắt đo�n người thiểu số r�t khỏi hội trường, th�nh lập "Hiệp hội đấu tranh cho quyền đầu phiếu ho�n to�n", gồm to�n những người tư sản cấp tiến. Người tư sản ấy, c�ch đ�y �t l�u c�n l� Jacobin, nay lại thấy kh� chịu với c�c hồi ức cũ, đến nỗi �ng ta đ� đổi từ "phổ th�ng đầu phiếu" (universal suffrage) th�nh một từ đ�ng buồn cười: "đầu phiếu ho�n to�n" (complete suffrage). C�ng nh�n chế giễu �ng ta v� vẫn b�nh thản đi tiếp con đường của m�nh. Từ đ�, phong tr�o Hiến chương trở th�nh một phong tr�o c�ng nh�n thuần t�y, kh�ng c� phần tử tư sản n�o nữa. C�c cơ quan b�o ch� đ�i quyền đầu phiếu "ho�n to�n": "Weekly Dispatch", "Weekly Chronicle", "Examiner", v.v. dần rơi v�o giọng điệu nhạt nhẽo như c�c b�o kh�c của ph�i tự do; ủng hộ tự do bu�n b�n, c�ng k�ch dự luật mười giờ v� mọi y�u cầu đặc biệt của c�ng nh�n, n�i chung l� �t thấy chủ nghĩa cấp tiến. Trong mọi cuộc xung đột, bọn tư sản cấp tiến đều li�n kết với Đảng tự do để chống ph�i Hiến chương; họ tập trung v�o vấn đề c�c đạo luật ngũ cốc, m� với người Anh th� đ� cũng ch�nh l� vấn đề tự do cạnh tranh. Do đ�, giai cấp tư sản cấp tiến đ� ho�n to�n lệ thuộc v�o ảnh hưởng của giai cấp tư sản tự do, v� hiện nay, họ đ�ng vai tr� hết sức thảm hại. Những c�ng nh�n thuộc ph�i Hiến chương lại c�ng tham gia t�ch cực bội phần v�o mọi cuộc chiến đấu của giai cấp v� sản chống giai cấp tư sản. Tự do cạnh tranh g�y nhiều đau khổ cho c�ng nh�n n�n họ căm th� n�; những kẻ ủng hộ việc đ�, bọn tư sản, ch�nh l� kẻ th� của họ. Tự do cạnh tranh ho�n to�n chỉ c� hại cho c�ng nh�n th�i. Tất cả y�u s�ch của họ từ trước đến nay: dự luật mười giờ, bảo vệ c�ng nh�n chống lại nh� tư bản, lương cao, bảo đảm đời sống, x�a bỏ đạo luật mới về người ngh�o; tất cả những c�i đ� trở th�nh một phần thiết yếu của ph�i Hiến chương, cũng như l� "s�u điểm", đều trực tiếp chống lại tự do cạnh tranh v� tự do bu�n b�n. Thế n�n kh�ng c� g� lạ, khi c�ng nh�n kh�ng muốn biết g� về tự do cạnh tranh, về tự do bu�n b�n, về việc x�a bỏ c�c đạo luật ngũ cốc; �t nhất th� họ rất thờ ơ với những y�u cầu ấy, họ căm gh�t s�u sắc những người ủng hộ ch�ng; điều ấy, to�n thể giai cấp tư sản Anh kh�ng thể hiểu nổi. Ch�nh v� vấn đề n�y m� giai cấp v� sản chia tay với giai cấp tư sản, phong tr�o Hiến chương chia tay với phong tr�o cấp tiến; v� l� tr� của người tư sản kh�ng hiểu được điều đ�, v� n� kh�ng hiểu được giai cấp v� sản. Nhưng đ� cũng l� điểm kh�c nhau giữa nền d�n chủ của phong tr�o Hiến chương với mọi kiểu d�n chủ ch�nh trị tư sản trước đ�y. Về bản chất, phong trào Hiến chương là một hiện tượng có tính xã hội. "S�u điểm" với người tư sản cấp tiến l� ho�n to�n đầy đủ, n� c�ng lắm chỉ dẫn đến một v�i cải c�ch hiến ph�p; c�n với người v� sản, đ� chỉ l� một phương tiện. "Quyền lực ch�nh trị l� phương tiện của ta, hạnh ph�c x� hội l� mục đ�ch của ta", đ� l� khẩu hiệu m� ph�i Hiến chương giờ đ�y đ� n�u r�. Lời của gi�o sĩ Stephens n�i về "vấn đề b�t đĩa", v�o năm 1838 chỉ l� ch�n l� với một bộ phận của ph�i Hiến chương, đến năm 1845 đ� l� ch�n l� với mọi người. Trong ph�i Hiến chương kh�ng c� những nh� ch�nh trị thuần t�y nữa. D� rằng chủ nghĩa x� hội của họ c�n rất ph�i thai, đến tận b�y giờ họ vẫn cho rằng "chia nhỏ ruộng đất" (allotment-system) l� biện ph�p ch�nh để ti�u diệt ngh�o khổ, trong khi n� đ� bị sự ph�t triển c�ng nghiệp l�m cho v� hiệu (xem "Lời n�i đầu"), v� n�i chung th� đa số kiến nghị về thực tiễn của họ (những biện ph�p bảo hộ c�ng nh�n, v.v.) nh�n bề ngo�i đều mang t�nh phản động; nhưng một mặt, ch�nh những biện ph�p ấy sẽ kh�ng chịu nổi sức mạnh của cạnh tranh, khi đ� th� t�nh trạng trước kia sẽ trở lại, hoặc l� ch�ng sẽ vượt qua v� ti�u diệt cạnh tranh; mặt kh�c, ch�nh t�nh trạng mơ hồ hiện nay của phong tr�o Hiến chương, v� việc n� t�ch khỏi đảng ch�nh trị thuần t�y, tất yếu sẽ l�m cho c�c đặc trưng mang t�nh x� hội của phong tr�o Hiến chương tiếp tục ph�t triển. Phong tr�o Hiến chương tất nhi�n tiến gần đến chủ nghĩa x� hội, nhất l� khi cuộc khủng hoảng sắp tới nổ ra, n� tất yếu sẽ xuất hiện, theo sau t�nh h�nh phồn vinh hiện nay của c�ng thương nghiệp, chậm nhất l� v�o 18479*, m� cũng c� thể l� ngay sang năm; n� sẽ vượt xa mọi lần khủng hoảng trước kia về qui m� v� mức độ kịch liệt, n� sẽ buộc c�ng nh�n c�ng phải t�m lối tho�t khỏi cảnh ngh�o khổ, nhưng l� theo c�ch thức x� hội, chứ kh�ng phải l� c�ch thức ch�nh trị. C�ng nh�n tất nhi�n sẽ thực hiện được Hiến chương của m�nh, nhưng tới l�c đ�, họ sẽ hiểu r� th�m rất nhiều việc m� m�nh c� thể thực hiện th�ng qua Hiến chương, c�n b�y giờ th� họ vẫn hầu như chưa h�nh dung được. Trong khi đ�, việc cổ động cho chủ nghĩa x� hội cũng tiếp tục ph�t triển. Về chủ nghĩa xã hội Anh, ở đ�y ta chỉ n�i đến ảnh hưởng của n� với giai cấp c�ng nh�n. Những người x� hội chủ nghĩa Anh đ�i thực hiện dần chế độ c�ng hữu t�i sản, bằng c�ch lập những "khu di d�n trong nước" gồm 2-3 ngh�n người, chuy�n về c�ng nghiệp hay n�ng nghiệp, được b�nh đẳng về quyền lợi v� gi�o dục; họ c�n y�u cầu tạo điều kiện dễ d�ng hơn cho việc li h�n, thiết lập một ch�nh thể hợp l�, trong đ� người ta được ho�n to�n tự do về tư tưởng, thủ ti�u c�c h�nh phạt, thay v�o đ� l� việc đối xử hợp l� với tội phạm. Đ� l� những y�u cầu thực tiễn của họ; ch�ng t�i kh�ng ch� � đến nguy�n tắc l� luận của họ ở đ�y. Người s�ng lập ra chủ nghĩa x� hội Anh l� một chủ xưởng, t�n l� Owen. Thế n�n thuyết của �ng, d� về thực chất, đ� vượt l�n tr�n sự đối lập giữa giai cấp tư sản v� giai cấp v� sản, cũng như đ� y�u cầu x�a bỏ sự đối lập đ�; nhưng về h�nh thức th� n� vẫn rất khoan dung với giai cấp tư sản, v� lại rất bất c�ng với giai cấp v� sản ở nhiều mặt. Những người x� hội chủ nghĩa hết sức hiền l�nh v� �n h�a, d� chế độ x� hội hiện tại c� tệ thế n�o th� họ vẫn thừa nhận n�; đ� l� v� họ phủ nhận mọi phương thức cải biến x� hội, trừ việc tranh thủ dư luận. Nhưng đồng thời, những nguy�n tắc của họ lại trừu tượng tới mức ch�ng kh�ng bao giờ c� thể tranh thủ dư luận x� hội, nếu vẫn giữ nguy�n h�nh thức hiện tại. Những người x� hội chủ nghĩa lu�n than thở về sự suy đồi đạo đức của c�c giai cấp dưới; nhưng họ kh�ng thấy được những yếu tố tiến bộ trong sự tan r� đ� của chế độ x� hội, cũng như kh�ng thấy được sự suy đồi đạo đức tệ hại hơn nhiều của c�c giai cấp c� của giả nh�n giả nghĩa, chỉ theo đuổi lợi ri�ng. Họ phủ nhận sự ph�t triển lịch sử, thế n�n họ mưu t�nh đưa đất nước tới t�nh trạng cộng sản chủ nghĩa ngay lập tức, chứ kh�ng phải bằng c�ch tiếp tục đấu tranh ch�nh trị cho đến khi đạt mục ti�u10. Tất nhi�n họ hiểu tại sao c�ng nh�n căm th� người tư sản, nhưng họ cho rằng l�ng phẫn nộ ấy, c�i duy nhất c� thể đưa c�ng nh�n tiến l�n, l� v� �ch; thay v�o đ�, họ đề cao l�ng từ thiện v� b�c �i, m� những thứ ấy c�n v� �ch hơn nhiều, trong t�nh thế hiện tại của nước Anh. Họ chỉ thừa nhận sự ph�t triển của t�m l�, sự ph�t triển của con người trừu tượng, kh�ng c� li�n hệ g� với qu� khứ; nhưng to�n bộ thế giới, v� c�ng với n� l� mỗi c� nh�n, đều trưởng th�nh từ qu� khứ đ�. V� thế họ qu� gi�o điều, qu� si�u h�nh, v� hầu như kh�ng c� được kết quả. Một phần m�n đồ của họ l� thuộc giai cấp c�ng nh�n, nhưng họ chỉ thu h�t được rất �t người trong giai cấp ấy, d� đ� l� bộ phận c� học nhất v� ki�n định nhất. Chủ nghĩa x� hội, trong h�nh thức hiện tại của n�, kh�ng bao giờ c� thể trở th�nh tư tưởng chung của giai cấp c�ng nh�n; n� phải hạ thấp tr�nh độ của m�nh, tạm trở lại với quan điểm của ph�i Hiến chương. Nhưng c�n chủ nghĩa x� hội v� sản ch�n ch�nh, đ� trải qua thử th�ch của phong tr�o Hiến chương, đ� loại trừ những th�nh phần tư sản; chủ nghĩa x� hội đ� hiện nay đ� h�nh th�nh, ở rất nhiều người x� hội chủ nghĩa, v� nhiều l�nh tụ của phong tr�o Hiến chương (họ hầu hết l� những người x� hội chủ nghĩa11*); chủ nghĩa x� hội ấy sẽ sớm đảm nhiệm vai tr� ch�nh yếu trong sự ph�t triển lịch sử của nh�n d�n Anh. Chủ nghĩa x� hội Anh c� cơ sở rộng hơn nhiều so với chủ nghĩa cộng sản Ph�p, nhưng sự ph�t triển12 của n� th� lạc hậu hơn; n�n n� tạm thời phải quay về với quan điểm của người Ph�p, để sau n�y sẽ vượt xa hơn. Tất nhi�n l� đến l�c đ� th� người Ph�p cũng sẽ ph�t triển l�n nữa. Chủ nghĩa x� hội cũng l� biểu biện quyết liệt nhất của th�i độ kh�ng t�n gi�o đang ngự trị trong c�ng nh�n; đến mức m� ch�nh c�ng nh�n, vốn c� th�i độ kh�ng t�n gi�o một c�ch không tự giác v� thuần t�y thực tiễn, thường tỏ ra sợ h�i sự quyết liệt đ�. Nhưng ở đ�y, sự ngh�o khổ cũng bắt c�ng nh�n phải từ bỏ t�n ngưỡng; họ ng�y c�ng tin chắc l� c�i đ� chỉ c� thể khiến họ yếu đuối v� y�n phận, ngoan ngo�n phục t�ng những kẻ đang h�t m�u họ - ch�nh l� giai cấp c� của. Vậy, ta thấy phong tr�o c�ng nh�n chia l�m hai ph�i: x� hội chủ nghĩa v� Hiến chương. Ph�i Hiến chương lạc hậu hơn, �t ph�t triển hơn; nhưng họ l� những người v� sản ch�n ch�nh, thực thụ, l� đại biểu của giai cấp v� sản. Những người x� hội chủ nghĩa nh�n xa hơn, đề ra những biện ph�p thực tiễn để loại bỏ ngh�o khổ; nhưng v� c� nguồn gốc từ giai cấp tư sản, n�n họ kh�ng thể h�a m�nh v�o giai cấp c�ng nh�n. Sự hợp nhất giữa chủ nghĩa x� hội v� phong tr�o Hiến chương, sự t�i hiện của chủ nghĩa cộng sản Ph�p theo đặc điểm nước Anh, đ� l� việc sẽ xảy ra trong tương lai gần, v� đ� chớm nở một phần rồi. Chỉ khi đạt được điều đ� th� giai cấp c�ng nh�n mới thật sự trở th�nh chủ nh�n của nước Anh; đồng thời sự ph�t triển ch�nh trị v� x� hội sẽ th�m mạnh mẽ, để tạo điều kiện thuận lợi cho c�i ch�nh đảng mới ra đời ấy, cho bước tiến tiếp theo ấy của phong tr�o Hiến chương. C�c nh�m c�ng nh�n kh�c nhau ấy (những hội vi�n c�ng li�n, những người Hiến chương, những người x� hội chủ nghĩa) khi th� hợp lại, khi th� t�ch ra, đ� tự lập n�n nhiều trường học v� ph�ng đọc s�ch để n�ng cao tr�nh độ tri thức. Ở mỗi tổ chức x� hội chủ nghĩa, trong hầu hết c�c tổ chức Hiến chương, ngay cả nhiều c�ng li�n ri�ng rẽ, đều c� những cơ quan ấy. Ở đ�y, trẻ em được tiếp thu gi�o dục v� sản thuần t�y, tho�t khỏi mọi ảnh hưởng tư sản; tại c�c ph�ng đọc s�ch b�o th� chỉ c�, hoặc hầu như chỉ c�, những s�ch b�o v� sản. Giai cấp tư sản coi những cơ quan ấy l� rất nguy hiểm, v� đ� loại trừ được ảnh hưởng của giai cấp v� sản ở một số tổ chức tương tự, như l� "Mechanics'Institutions"13, v� biến ch�ng th�nh những cơ quan truyền b� c�c tri thức khoa học c� lợi cho giai cấp tư sản. Ở đấy người ta dạy khoa học tự nhi�n, để thu h�t c�ng nh�n ra khỏi cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, v� c� thể l�m cho một số người đi theo con đường ph�t minh, để gi�p nh� tư sản c� th�m thu nhập; nhưng với c�ng nh�n th� việc nghi�n cứu tự nhi�n lúc này l� ho�n to�n v� �ch, v� họ sống ở th�nh phố lớn, v� ng�y lao động rất d�i, n�n kh�ng bao giờ c� thể nh�n thấy thi�n nhi�n. Ở đấy người ta c�n thuyết giảng về kinh tế ch�nh trị học, lấy tự do cạnh tranh l�m thần tượng; từ m�n khoa học n�y, c�ng nh�n chỉ c� thể r�t ra một kết luận: điều tốt nhất cho họ l� �m thầm nhẫn nại chịu chết đ�i. Ở đấy người ta dạy c�ng nh�n c�i đầu, kh�m n�m phục vụ ch�nh trị v� t�n gi�o thống trị; thế n�n c�ng nh�n chỉ được nghe về sự v�ng lời, thụ động v� y�n phận. Tất nhi�n l� quần ch�ng c�ng nh�n kh�ng muốn biết đến những trường học ấy, họ chỉ tới c�c ph�ng đọc s�ch v� sản, v� dự những cuộc thảo luận về c�c vấn đề li�n quan trực tiếp đến lợi �ch của m�nh; khi đ� th� giai cấp tư sản tự m�n liền thốt l�n c�u Dixi et salvavi14 của n�, v� quay mặt đi một c�ch khinh bỉ, kh�ng th�m nh�n c�i giai cấp "chỉ th�ch nghe lời k�u gọi đi�n cuồng của bọn mị d�n �c �, chứ kh�ng th�ch tiếp thu gi�o dục đ�ng ho�ng". Nhưng c�ng nh�n cũng coi trọng cả "gi�o dục đ�ng ho�ng", chỉ cần trong đ� đừng xen lẫn c�i kh�n ngoan vụ lợi của giai cấp tư sản; trong c�c trường học v� ph�ng đọc s�ch của c�ng nh�n, nhất l� của những người x� hội chủ nghĩa, thường tổ chức diễn giảng về khoa học tự nhi�n, nghệ thuật v� kinh tế ch�nh trị học, c� rất đ�ng người nghe. T�i từng gặp c�c c�ng nh�n mặc �o nhung sợi b�ng tồi t�n, nhưng tỏ ra hiểu biết về địa chất học, thi�n văn học v� c�c khoa học kh�c hơn nhiều người tư sản Đức c� học. Những người đọc c�c t�c phẩm kiệt xuất nhất về ch�nh trị, triết học v� thơ ca hiện đại hầu hết l� c�ng nh�n, điều ấy đặc biệt chứng tỏ rằng giai cấp v� sản Anh đ� th�nh c�ng đến thế n�o trong việc tạo ra một nền gi�o dục độc lập. Người tư sản l� n� lệ của chế độ x� hội hiện h�nh v� của c�c thi�n kiến li�n quan tới chế độ ấy, anh ta sợ h�i lẩn tr�nh v� trừ bỏ tất cả những c�i g� thực sự c� t�nh tiến bộ; người v� sản th� mở to mắt, nh�n thẳng v�o những c�i ấy, nghi�n cứu ch�ng một c�ch th�ch th� v� hiệu quả. Về mặt n�y, những người x� hội chủ nghĩa đ� l�m được rất nhiều để gi�o dục giai cấp v� sản; họ đ� dịch s�ch của c�c nh� duy vật Ph�p: Helvétius, Holbach, Diderot, v.v. v� xuất bản với gi� rẻ, c�ng với đ� l� những t�c phẩm hay nhất của c�c t�c giả người Anh. "Cuộc đời của Jesus" của Strauss, "T�i sản" của Proudhon, cũng chỉ được lưu h�nh trong những người v� sản. Shelley, nh� ti�n tri thi�n t�i Shelley, v� Byron, người c� nhiệt t�nh say sưa v� ch�m biếm s�u cay x� hội hiện tại, c� độc giả phần lớn trong c�ng nh�n; người tư sản chỉ đọc c�i gọi l� "s�ch gia đ�nh", tức l� những bản đ� bị cắt x�n v� tu sửa cho hợp với c�i đạo đức giả dối ng�y nay. C�c t�c phẩm của hai nh� triết học thực tiễn lớn nhất hiện nay, Bentham v� Godwin, đặc biệt l� Godwin, cũng hầu hết l� t�i sản ri�ng của giai cấp v� sản. Nếu trong giai cấp tư sản cấp tiến c�n c� những đồ đệ của Bentham, th� chỉ c� giai cấp v� sản v� những người x� hội chủ nghĩa l� tiến xa hơn �ng ta. Tr�n cơ sở ấy, giai cấp v� sản tạo ra s�ch b�o ri�ng của m�nh, m� đa số l� tạp ch� v� s�ch mỏng, về nội dung th� vượt xa mọi s�ch b�o của giai cấp tư sản. Sau n�y, ta sẽ trở lại với vấn đề đ�. Cần n�u ra một điểm nữa: hạt nh�n của phong tr�o c�ng nh�n l� c�c c�ng nh�n c�ng xưởng, nhất l� c�ng nh�n b�ng vải sợi. Lancashire, nhất l� Manchester, l� nơi c�ng li�n mạnh nhất, l� trung t�m của phong tr�o Hiến chương, v� c� nhiều người x� hội chủ nghĩa nhất. Chế độ c�ng xưởng c�ng x�m nhập v�o ng�nh n�o th� c�ng nhiều c�ng nh�n ng�nh đ� được l�i cuốn v�o phong tr�o; sự đối lập giữa c�ng nh�n v� tư bản c�ng gay gắt, th� � thức v� sản trong c�ng nh�n c�ng ph�t triển, c�ng s�u sắc. D� c�c thợ cả ở Birmingham cũng chịu đủ cay đắng do khủng hoảng, th� họ vẫn đang ở địa vị trung gian rủi ro, giữa phong tr�o Hiến chương v� sản v� chủ nghĩa cấp tiến tiểu thương. Nhưng n�i chung th� tất cả c�ng nh�n c�ng nghiệp đều bị cuốn v�o một h�nh thức n�o đ� của cuộc đấu tranh chống tư bản v� giai cấp tư sản. Họ đều nhất tr� rằng m�nh l� working-men15; đ� l� danh hiệu m� họ tự h�o, danh hiệu phổ biến trong những cuộc họp của ph�i Hiến chương; n� n�i l�n rằng họ họp th�nh một giai cấp độc lập, c� lợi �ch v� nguy�n tắc ri�ng, c� thế giới quan ri�ng, đối lập với mọi giai cấp c� của, v� cũng l� giai cấp l�m cơ sở cho sức mạnh v� khả năng ph�t triển sau n�y của d�n tộc.

Chú thích

1 "kẻ phản bội bãi công" (Chú thích của người dịch).

2 "hồ sơ" (Chú thích của người dịch).

3* Những công nhân ấy được gọi là Thugs, theo tên của một bộ tộc nổi tiếng ở Đông Ấn, chuyên giết hại một cách độc địa tất cả những người lạ lọt vào tay họ.

4* "Một suy nghĩ độc đáo nào đó về "quyền xét xử nguyên thủy" (wild-justice) đã chi phối những con người ấy, khi họ hội họp bí mật, rồi bằng lí tính lạnh lùng, họ tuyên án các bạn công nhân của họ là kẻ đào ngũ và phản bội sự nghiệp của giai cấp mình; kết tội tử hình những người đó, và giao cho các đao phủ bí mật thi hành, vì thẩm phán và đao phủ của nhà nước không làm việc đó. Nó giống như "Femgericht" thời xưa, những tòa án bí mật thời hiệp sĩ, đột nhiên sống dậy trước con mắt kinh ngạc của người ta; chỉ khác là các quan tòa mặc áo nhung sợi bông chứ không phải áo giáp, và tòa án không họp giữa rừng Westphalia, mà ở phố Gallowgate xinh đẹp của Glasgow! Thứ tình cảm đó rất phổ biến và mạnh mẽ trong quần chúng, dù hình thức cao nhất của nó chỉ có thể được biểu hiện ở thiểu số" (Carlyle, "Phong trào Hiến chương", tr. 40).

5 Theo truyền thuyết, nhà quí tộc La Mã Menenius Agrippa đã thuyết phục được những người bình dân khởi nghĩa năm 494 trước Công nguyên, bằng cách kể cho họ nghe câu chuyện ngụ ngôn về các bộ phận của cơ thể đã phản kháng không phục vụ cái dạ dày, vì dạ dày không chịu ăn, cho nên đã dẫn tới một tai họa lớn cho cơ thể (Chú thích của người dịch).

6* Ure, "Triết học về công xưởng", tr. 366 và các trang sau.

7* Ở góc phố Cross Lane và Regent Road.

8* Ta đã thấy những lời đó có tác dụng thế nào với công nhân.

9* (Năm 1892) Dự đoán đã trở thành hiện thực (Chú thích của Engels cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1892).

10 Trong bản tiếng Anh năm 1887 và 1892, nửa sau của câu này đổi thành: "chứ không phải bằng sự phát triển chính trị tất yếu của đất nước, cho đến khi sự biến đổi đó trở thành có thể và cần thiết" (Chú thích của người dịch).

11* (Năm 1892) Tất nhiên là những người xã hội chủ nghĩa theo nghĩa chung, chứ không phải theo nghĩa hẹp của Owen (Chú thích của Engels cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1892).

12 Trong bản tiếng Anh năm 1887 và 1892, sau chữ "phát triển" có chữ "về lí luận" (Chú thích của người dịch).

13 "Mechanics' Institutions" là một loại trường học buổi tối, ở đó công nhân học được các kiến thức phổ thông và kĩ thuật; nó xuất hiện đầu tiên ở Anh vào năm 1823 (ở Glasgow) và năm 1824 (ở London). Đầu những năm 1840 đã có trên 200 trường, chủ yếu là ở các thành phố công xưởng thuộc Lancashire và Yorkshire. Giai cấp tư sản lợi dụng các trường ấy để đào tạo công nhân kĩ thuật cần thiết cho công nghiệp, và cũng nắm lấy những công nhân ấy (Chú thích của người dịch).

14 Dixi et salvavi animam meam (Tôi đã nói, và tôi đã cứu vớt được linh hồn của tôi) (Chú thích của người dịch).

15 "công nhân" (Chú thích của người dịch).

[Chương trước] [Mục lục] [Chương sau]

Thư viện | K. Marx - F. Engels

Từ khóa » Hiến Chương Gọi Là Gì