Tên Người Việt Nam – Wikipedia Tiếng Việt

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ. (Tháng 12/2022) (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này)
Bài viết hoặc đoạn này cần người am hiểu về chủ đề này trợ giúp biên tập mở rộng hoặc cải thiện. Bạn có thể giúp cải thiện trang này nếu có thể. Xem trang thảo luận để biết thêm chi tiết. (Tháng 12/2022)
Bài viết hay đoạn này có thể chứa nghiên cứu chưa được công bố. Xin hãy cải thiện bài viết bằng cách xác minh các khẳng định và thêm vào các chú thích tham khảo. Những khẳng định chứa các nghiên cứu chưa công bố cần được loại bỏ. (Tháng 12/2022) (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này)

Tên người Việt Nam được các nhà nghiên cứu cho rằng bắt đầu có từ thế kỷ 2 TCN và càng ngày càng đa dạng hơn.[1]

Tên người Việt Nam (chủ yếu là người Kinh và các dân tộc có cấu trúc tên tương đương như người Mường) được đặt theo thứ tự "họ trước tên sau" của vùng văn hóa Đông Á. Theo khoản 1 Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó”.[2] Dựa theo quy định đó, tên người Việt Nam được cấu tạo bởi hai thành phần "Họ" + "Tên":

  • Họ - phần tên chung được truyền thừa tuyệt đối qua từng thế hệ.[a] Thông thường là họ từ bố, nhưng cũng có người mang họ từ mẹ. Hầu hết họ của người Việt là họ đơn âm tiết như Nguyễn, Trần, ,... nhưng cũng có họ kép là Tôn Thất, Hoàng Phủ, Âu Dương.
  • Tên (hay Tên riêng) - phần tên dành riêng cho từng cá nhân.[3] Tên riêng bao gồm "tên đệm" + "tên chính", trong đó tên đệm không bắt buộc phải có, còn tên chính có thể là từ đơn âm hoặc đa âm.

Cấu trúc tên của người Việt giống với cấu trúc tên người Trung Hoa và tên người Triều Tiên: họ chủ yếu là họ đơn âm, và tên riêng thường là một hoặc hai từ đơn âm. Tên của người Việt thường được chọn lựa khá kỹ về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa, dùng để phân biệt người này với người khác. Không có một nguyên tắc chung nào trong việc đặt tên, nhưng đối với tâm lý của người Việt Nam, việc đặt tên rất quan trọng vì mỗi cái tên gắn chặt với mỗi con người suốt đời. Có thể căn cứ vào đặc điểm, giới tính, hoàn cảnh gia đình, dòng họ, quê hương, xã hội, ước vọng hoặc thậm chí nỗi uất hận của người đặt tên gửi gắm vào cái tên nào đó.

Tên người Việt Nam được đọc và viết theo thứ tự họ trước tên sau. Trước đây, như là một phần của kị húy, người Việt Nam dùng họ để gọi hay xưng hô lịch sự khi xã giao, chỉ gọi tên khi là người nhà hay thân thiết như bạn bè, giống như văn hóa gọi tên của Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Ví dụ: Bà Trưng, Bà Triệu, Cụ Phan, Hồ Chủ tịch / Bác Hồ, Ngô Tổng thống... Từ thời Pháp thuộc, xưng hô bị ảnh hưởng bởi văn hoá Pháp, người Việt chuyển sang xu hướng gọi tên đơn ở cuối thay vì gọi họ như trước. Tuy vậy khi cần xưng hô trang trọng hơn, người Việt thường dùng cả họ tên đầy đủ (đôi khi bỏ hoặc thay tên đệm, đặc biệt là "Thị"), hoặc gọi hai âm tiết trong tên (nếu có đệm "Thị" thì thay bằng tên đệm khác), như là một cách tránh gọi "trống không" và "khô khan", khiến tên không bị thô hay kém trang trọng khi gọi tới. Ví dụ như:

  • Với giới chính trị gia thì gọi đầy đủ họ tên như "Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng" (thay vì "Tổng Bí thư Trọng"), "Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng" (thay vì "Chủ tịch nước Thưởng"), "Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân" (thay vì "Chủ tịch Quốc hội Ngân"),...
  • Với giới nổi tiếng thì gọi "cầu thủ (Lê) Công Vinh" (thay vì "cầu thủ Vinh"), "ca sĩ Hoàng Bách" (thay vì "ca sĩ Bách"), "ca sĩ Hồ Ngọc Hà" (thay vì "ca sĩ " hoặc "ca sĩ Hồ Thị Ngọc Hà"), "ca sĩ Phạm Phương Thảo" (thay vì "ca sĩ Thảo" hoặc "ca sĩ Phạm Thị Thảo").

Người Việt hải ngoại do không bị ràng buộc về quy định đặt tên ở Việt Nam, sẽ đặt tên theo thứ tự phương Tây là tên trước họ sau như Thanh Bùi, và có thể đặt tên có tiếng nước ngoài như Johnny Trí Nguyễn, Patrik Lê Giang.[4][5] Những cái tên này ràng buộc theo luật đặt tên của nước sở tại, là nơi họ sinh ra và mang quốc tịch.

Do tiếng Việt trước thời Pháp thuộc thường được viết bằng chữ Hán với chữ Nôm, nên họ và tên người Việt (nếu tên người đó không phải là tên gốc tiếng phương Tây) cũng có thể viết theo chữ Hán với chữ Nôm, chủ yếu với mục đích để biểu nghĩa (tránh đồng âm khác nghĩa), do chữ Quốc ngữ (chữ Latinh) là chữ tượng thanh nên các từ đồng âm khác nghĩa thì viết giống nhau. Ví dụ như 忠英 ("Trung Anh", trung nghĩa và anh hùng) và 梅櫻 ("Mai Anh", cây mai và cây anh đào).

Cấu trúc và độ dài

[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu trúc

[sửa | sửa mã nguồn]

Thông thường, họ tên người Kinh được nói và viết theo thứ tự "họ trước tên sau" nhưng cấu trúc không đồng nhất tuỳ từng người. Ví dụ như bên dưới:

Nam giới
Họ và tên đầy đủ Họ[b] Tên riêng
Tên đệm (nếu có) Tên chính
Ngô Quyền Ngô Quyền
Triệu Quang Phục Triệu Quang Phục
Đinh Bộ Lĩnh Đinh Bộ Lĩnh
Lê Hoàn Hoàn
Lý Công Uẩn Công Uẩn
Trần Thủ Độ Trần Thủ Độ
Trần Cảnh Trần Cảnh
Trần Quốc Tuấn Trần Quốc Tuấn
Trần Quốc Toản Trần Quốc Toản
Hồ Quý Ly Hồ Quý Ly
Hồ Nguyên Trừng Hồ Nguyên Trừng
Lê Lợi Lợi
Lê Tư Thành Tư Thành
Mạc Đăng Dung Mạc Đăng Dung
Mạc Đăng Doanh Mạc Đăng Doanh
Trịnh Kiểm Trịnh Kiểm
Nguyễn Hoàng Nguyễn Hoàng
Nguyễn Phúc Ánh Nguyễn Phúc Ánh
Nguyễn Phúc Vĩnh San Nguyễn Phúc Vĩnh San
Tôn Thất Thuyết Tôn Thất Thuyết
Tôn Thất Tùng Tôn Thất Tùng
Tôn Đức Thắng Tôn Đức Thắng
Phạm Tuân Phạm Tuân
Hoàng Phủ Ngọc Tường Hoàng Phủ Ngọc Tường
Phan Văn Tài Em Phan Văn Tài Em
Nguyễn Phong Hồng Duy Nguyễn Phong Hồng Duy
Nguyễn Văn Toàn Nguyễn Văn Toàn
Nguyễn Ngọc Trường Sơn Nguyễn Ngọc Trường Sơn
Trần Hữu Đông Triều Trần Hữu Đông Triều
Trần Lê Quốc Toàn Trần Quốc Toàn
Trương Văn Thái Quý Trương Văn Thái Quý
Bùi Hoàng Việt Anh Bùi Hoàng Việt Anh
Nữ giới
Họ và tên đầy đủ Họ[b] Tên riêng
Tên đệm (nếu có) Tên chính
Trưng Trắc Trưng Trắc
Lê Chân Chân
Triệu Thị Trinh Triệu Thị Trinh
Lý Thiên Hinh Thiên Hinh
Nguyễn Thị Ngọc Bảo Nguyễn Thị Ngọc Bảo
Hồ Xuân Hương Hồ Xuân Hương
Lâm Thị Mỹ Dạ Lâm Thị Mỹ Dạ
Tôn Nữ Thị Ninh Tôn Nữ Thị Ninh
Nguyễn Doãn Cẩm Vân Nguyễn Doãn Cẩm Vân
Nguyễn Thị Ánh Viên Nguyễn Thị Ánh Viên
Phương Mỹ Chi Phương Mỹ Chi

Ngoài ra người Việt còn nhiều loại tên khác, có loại đã vĩnh viễn đi vào lịch sử, có loại mới xuất hiện khi Việt Nam tiếp xúc với văn hóa tây phương, có loại dành riêng cho một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định.

Độ dài

[sửa | sửa mã nguồn]

Độ dài của một họ tên đầy đủ cho người Việt không phải đếm dựa theo số lượng ký tự chữ Quốc ngữ, mà là dựa theo số lượng âm tiết, và trước kia được đếm bằng số lượng chữ Hán Nôm. Ví dụ: Hồ Văn Ý với 6 ký tự và Nguyễn Minh Trí với 13 ký tự (không tính dấu cách), tuy số ký tự khác nhau, thực chất là dài bằng nhau khi cùng phát âm bằng 3 âm tiết. Nếu viết theo chữ Hán Nôm thì cũng tương ứng là 3 chữ (Hồ Văn Ý = 胡文意, Nguyễn Minh Trí = 阮明智).

Phần lớn họ tên đầy đủ của người Việt (im đậm họ) có độ dài tiêu chuẩn từ 2 đến 4 âm tiết, trong đó:

  • Độ dài 3 âm tiết như Mai An Tiêm, Dương Đình Nghệ, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Lê Tư Thành, Tôn Thất Thuyết, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Thị Bình,... là độ dài phổ biến nhất của họ tên người Việt trong mọi thời kỳ.
  • Độ dài 2 âm tiết như Trưng Trắc, Ngô Quyền, Lý Bí, Trần Cảnh, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Trần Phú, Phạm Tuân, Tô Lâm,... thì phổ biến ở thời phong kiến, nhưng sau thời Pháp thuộc lại có tần suất giảm đi.
  • Độ dài 4 âm tiết như Nguyễn Thị Minh Khai, Tôn Nữ Thị Ninh, Nguyễn Ngọc Trường Sơn, Trần Lê Quốc Toàn,... thời gian gần đây bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, khi mà trước thời nhà Nguyễn thì tài liệu lịch sử chỉ ghi lại được duy nhất một nữ giới có tên dài 4 âm tiết là Nguyễn Thị Ngọc Bảo, còn nam giới thì lại không có ai. Trong thời nhà Nguyễn, nam giới đầu tiên mà họ tên đầy đủ có 4 âm tiết là Nguyễn Phúc Miên Tông (vua Thiệu Trị).

Luật pháp Việt Nam chưa có quy định giới hạn số lượng âm tiết hay số lượng ký tự chữ Quốc ngữ của tên, nên có những trường hợp bố mẹ vì suy nghĩ nhất thời, không được thấu đáo mà đặt tên con với những cái tên bất thường với truyền thống tên người Việt, khi nó quá dài với hơn 4 âm tiết, gây khó khăn cho việc gọi tên, ghi nhớ hay lưu tên vào giấy tờ, thủ tục hành chính như Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi, Lê Hoàng Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhân, Đào Thị Long Lanh Kim Ánh Dương,...[6]

Họ

[sửa | sửa mã nguồn]
Thống kê tên họ người Việt Nam (2022)
Bài chi tiết: Họ người Việt

Họ là phần tên chung được truyền thừa tuyệt đối qua từng thế hệ. Tuân theo thứ tự "họ trước tên sau" của vùng văn hóa Đông Á, họ của người Việt được đặt ở đầu tiên, trước tên riêng. Họ người Việt hầu hết là đơn âm. Một số họ kép có ghi nhận là Tôn Thất, Hoàng Phủ, Âu Dương. Trong đó đặc biệt là họ Tôn Thất vốn là được tách ra từ hậu duệ hoàng tộc nhà Nguyễn, và có truyền thống là đặt cho nữ giới theo họ Tôn Nữ.

Nếu như họ người ở các nước khác còn gọi là "tên gia tộc", nghĩa là những người có chung họ thường sẽ thuộc một gia tộc có chung huyết thống, thì những người Việt nếu có chung họ cũng không thể khẳng định đều là từ một gia tộc hoặc chung huyết thống. Bởi vì trong lịch sử, nhiều người đã được vua chúa ban cho họ mới, hoặc phải đổi họ (hay vay mượn họ gia đình khác) để hoạt động chính trị hoặc tránh sự trừng phạt hay tàn sát bản thân hoặc gia đình. Do ảnh hưởng thay đổi chính trị dẫn đến việc cải, đổi họ tên, họ người Việt hiện tập trung 90% dân số trong 14 họ chính.[7]

Luật pháp Việt Nam quy định mỗi cá nhân chỉ được mang một họ từ bố hoặc mẹ, nên thời gian gần đây có một số cá nhân mà trong tên chứa cả họ bố và họ mẹ, thực chất không phải là chứa họ kép chính thống, mà là họ đơn âm đi cùng tên đệm lấy từ họ của người thân còn lại. Tục lệ này không phải là truyền thống vốn có ban đầu của Việt Nam mà là từ phong tục đặt tên với hai họ của người phương Tây, đặc biệt là Bồ Đào Nha và Pháp, thông qua truyền giáo và tiếp nhận văn hoá phương Tây từ thời Pháp thuộc. Chưa có tài liệu nào ghi nhận được một người Việt trước thời Pháp thuộc mà trong họ tên thật lại mang tới hai họ.

  • Ví dụ như Trần Lê Quốc Toàn, họ của người này không phải họ là Trần Lê, mà họ chính xác là Trần truyền thừa từ họ bố, và là họ của mẹ đóng vai trò là tên đệm. Do đó, con của Trần Lê Quốc Toàn sẽ phải mang họ Trần (hoặc họ của vợ), nhưng nếu mang họ Trần thì không bắt buộc phải bắt đầu là Trần Lê, vì Trần Lê không phải là một họ chính thống.

Tuy vậy, cũng vì họ người Việt hầu hết là đơn âm, nên đã xảy ra trường hợp nhầm lẫn họ kép với một họ đơn âm khác do đồng âm chữ đầu, dẫn đến chữ thứ hai của họ kép bị hiểu sai là tên đệm, như nhầm họ Tôn Thất (cùng họ Tôn Nữ) và họ Tôn, họ Hoàng Phủ và họ Hoàng, họ Âu Dương và họ Âu. Ví dụ, Tôn Thất Bách có một người con gái được đặt tên là là Tôn Nữ Hiếu Thảo (theo họ Tôn Nữ), nhưng lại có người con trai được đặt tên là Tôn Hiếu Anh (nhầm sang họ Tôn).

Ngoài ra có trường hợp cá biệt khi có phong tục khiến hàng ngàn người nam thuộc 9 dòng họ ở 3 thôn Cẩm Khê, Bối Khê, Cẩm Bối, thuộc xã Liên Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, đi theo họ chung là Đỗ, với tên khai sinh bắt đầu bằng Đỗ Tràng, Đỗ Văn, Đỗ Bá, Đỗ Quang, Đỗ Đình, Đỗ Trí, Đỗ Đắc, Đỗ Khoa, Đỗ Trọng..., nhưng sau cùng lại xin chính quyền địa phương cho phép cải họ theo chữ thứ hai. Theo lí giải của người làng, "Đỗ" không phải là họ chính xác mà chỉ là chữ đệm, còn họ chính xác là chữ thứ hai như Tràng, Văn, Bá, Quang, Đình... Trong khi con gái thì lại đặt tên có họ chính đứng đầu như người bình thường như Tràng Thị Xuân, Văn Thị Thu...[8] Điều này gây khó khăn cho chính quyền địa phương trong việc kiểm tra lý lịch cá nhân.

Tên riêng

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên riêng của người Việt (thường được đề cập đơn giản là "Tên"), tức phần tên dành riêng cho từng cá nhân[3] và không bao gồm họ, được đặt theo cấu trúc "tên đệm" + "tên chính". Tên đệm là tuỳ ý, có thể có hoặc không. Tên chính có thể là từ đơn âm hoặc đa âm.

Hầu hết tên riêng của người Việt có độ dài từ 1 đến 3 âm tiết (chủ yếu là 2 âm tiết), kết hợp với họ tạo nên một họ tên đầy đủ từ 2 đến 4 âm tiết (chủ yếu là 3 âm tiết, xem lại tại mục Độ dài ở trên).

Tên đệm

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên đệm (còn gọi là "chữ đệm, "tên lót" hoặc "chữ lót") là phần tên không bắt buộc phải có, nếu có thì đứng giữa họ và tên chính.

Sự khác biệt giữa "tên đệm" của người Việt và "middle name" của người phương Tây

[sửa | sửa mã nguồn]

Thường có sự đánh đồng rằng "tên đệm" của người Việt cũng sẽ tương đương "middle name" (tên giữa) của người phương Tây do vị trí ở giữa tên đầy đủ. Tuy nhiên, văn hoá Việt Nam không phải là văn hoá phương Tây, do đó "tên đệm" trong tên người Việt và "middle name" trong tên người phương Tây cũng có sự khác biệt lớn ở cách sử dụng: "tên đệm" không bao giờ sử dụng độc lập mà phải dùng kèm với tên chính khi gọi tên người Việt, kể cả khi dùng để phân biệt nhiều người có cùng tên chính; còn "middle name" có thể sử dụng độc lập khi gọi người phương Tây. Ví dụ:

  • Nguyễn Xuân BắcNguyễn Đình Bắc (hai cầu thủ bóng đá) trùng họ với tên chính và khác tên đệm. Để phân biệt khi không gọi đầy đủ tên, người Việt gọi là "Xuân Bắc" và "Đình Bắc", không gọi chỉ bằng mỗi tên đệm là "Xuân" và "Đình".
  • Ở Việt Nam, Nguyễn Quang Thọ có thể được gọi bằng tên riêng "Quang Thọ" hoặc tên chính "Thọ", hoặc họ với tên chính "Nguyễn Thọ", không bao giờ được gọi chỉ bằng tên đệm "Quang" hay gọi họ với tên đệm là "Nguyễn Quang". Còn ở Anh, James Paul McCartney nếu không đề cập bằng họ "McCartney", ông có thể được gọi bằng tên đầu (first name) là "James" hoặc bằng tên giữa là "Paul". Mặc dù theo thông tục thì người Anh hay gọi chi tiết hơn là "James McCartney", thực tế ông được biết tới nhiều hơn dưới tên "Paul McCartney", còn "James McCartney" sau này thường được dùng để gọi một người con của ông là James Louis McCartney.

Đặc điểm

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên đệm thường mang một vài vai trò cơ bản như phân biệt giới tính, thể hiện họ mẹ (khi con theo họ bố) hay phân nhánh họ (như "Phúc" trong Nguyễn Phúc, tuy nhiên tên đệm không lưu truyền tuyệt đối như họ, đời sau có thể bỏ chữ "Phúc" đi), hoặc chỉ đơn giản là đệm cho tên riêng được gọi nghe hay hơn và đỡ "khô khan" hơn. Vì tên đệm không bắt buộc phải có, do vậy không phải người Việt nào cũng có tên đệm như Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Phạm Tuân, Tôn Thất Tùng, Trần Đăng Khoa....

Tên đệm phổ biến nhất của người Việt là Văn (文), Hữu (有) dùng cho nam giới và Thị (氏) dùng cho nữ giới. Ví dụ như Thị Kính, Thị Mầu trong Quan Âm Thị Kính, Thị Nở trong Chí Phèo, hay Hoàng Thị Ngọ trong tác phẩm Ngày xưa Hoàng Thị của Phạm Duy... đều là nữ.

Dù vậy ngày nay, những tên lót phổ biến này lại không được người Việt ưa thích vì chúng được cho rằng không hay bằng những tên lót khác, đặc biệt là "Thị":

  • Chữ "Thị" (氏) vốn là của từ thị tộc (氏族) mang nghĩa là "người/vật của dòng họ" (như Hồng Bàng thị, Đại Lý Đoàn thị, Lý thị Triều Tiên, Tô thị, Phan thị,...). Do vậy xét tới liên kết nghĩa với tên chính thì chữ "Thị" không có tác dụng bổ nghĩa cho tên chính.
  • Chữ "Thị" (氏) cũng đồng âm với một chữ "Thị" (侍, khác chữ Hán) có nghĩa là "hầu hạ", như trong thị vệ (侍衛), hay thị nữ (侍女) có nghĩa là "hầu gái", khiến nữ giới mang cảm giác bị đánh giá thấp kém.
  • Quan điểm của người Việt với tên đệm "Thị" cũng khác hẳn với hầu hết các tên đệm khác trong việc gọi tên nữ giới, khi cho rằng gọi chỉ kèm "Thị" mà không kèm thêm họ sẽ bị coi là không tôn trọng với đối phương, còn với tên đệm khác là điều bình thường. Ví dụ như "Nguyễn Ngọc Hoa" thì có thể gọi thành "Ngọc Hoa", nhưng "Nguyễn Thị Hoa" lại không thể gọi thành "Thị Hoa" một cách thoải mái được.

Do đó một số lượng không nhỏ phụ nữ Việt Nam hiện nay sở hữu tên đệm "Thị" có hành động kiêng kị như bỏ hẳn chữ "Thị" hoặc thay bằng chữ khác khi viết hay xưng đầy đủ họ tên. Ví dụ loại bỏ chữ "Thị" ngoài đời có:

  • Hồ Thị Ngọc Hà bỏ đi chữ "Thị" và hoạt động nghệ thuật dưới tên "Hồ Ngọc Hà".[9]
  • Phạm Thị Thảo thay chữ "Thị" bằng chữ "Phương" và hoạt động nghệ thuật dưới tên "Phạm Phương Thảo".
  • Phạm Thị Hương bỏ đi chữ "Thị" và hoạt động nghề mẫu dưới tên "Phạm Hương".[10]
  • Trên poster phim Kiều do Mai Thu Huyền sản xuất, công bố nữ diễn viên Trình Thị Mỹ Duyên trong vai chính, tên của cô được viết là "Trình Mỹ Duyên" và bỏ đi chữ "Thị".[11]

Nhiều người cũng có tư tưởng xác định phần tên giữa không được coi là tên đệm, tức là tên chính sẽ là hai âm tiết trở lên.

Nhầm lẫn tên đệm là phần của họ

[sửa | sửa mã nguồn]

Do tập quán thường gọi chữ cuối cùng trong tên của người Việt, nên nhiều người có sự hiểu nhầm rằng tên đệm ở giữa là thuộc phần họ. Tuy nhiên không giống như họ, tên đệm không mang tính lưu truyền tuyệt đối qua các thế hệ, khi mà tên đệm của bố (hoặc của mẹ nếu theo họ mẹ) và của con có thể khác nhau. Do đó tên đệm là thành phần của tên riêng, việc áp tên đệm thuộc phần họ là không chính xác, và cũng là điều không nên.

Ví dụ như cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có ba người con: Nguyễn Thanh Nghị, Nguyễn Thanh Phượng và Nguyễn Minh Triết. Không ai thừa hưởng tên đệm "Tấn". Khi ghi lại họ tên các thành viên của gia đình này vào trong một đơn từ hay hồ sơ với mục "Họ" (Surname hay Family name hoặc Last name) và "Tên" (First Name hoặc Given Name) được tách riêng, với hai kiểu ghi tên bên dưới, nếu phải đảo ngược thành "tên trước họ sau" theo phong cách của ngôn ngữ phương Tây (đặc biệt là tiếng Anh) thì tương ứng như sau:

Ghi tách riêng tên "Nguyễn Tấn Dũng" và các con
Mục ghi Họ Tên Đảo ngược theo "tên trước họ sau"
Cách ghi đúng Nguyễn Tấn Dũng Tan Dung Nguyen
Thanh Nghị Thanh Nghi Nguyen
Thanh Phượng Thanh Phuong Nguyen
Minh Triết Minh Triet Nguyen
Cách ghi sai Nguyễn Tấn Dũng Dung Nguyen Tan
Nguyễn Thanh Nghị Nghi Nguyen Thanh
Nguyễn Thanh Phượng Phuong Nguyen Thanh
Nguyễn Minh Triết Triet Nguyen Minh

Lợi ích của việc xác định chính xác các phần tách riêng này thể hiện ở một số điều:

  • Theo thói quen của văn hoá phương Tây, với phong tục viết và đọc tên theo thứ tự "tên trước họ sau" và gọi họ trong phép xã giao, người phương tây có quan niệm "last name" (tên ở cuối cùng) phải là họ. Do vậy, khi nhìn "Dung Nguyen Tan", người phương Tây sẽ hiểu nhầm họ là "Tan" thay vì "Nguyen", dẫn đến việc gọi "Mr. Tan" (gọi nhầm sang tên giữa), thay vì nhìn thấy "Tan Dung Nguyen" và gọi "Mr. Nguyen" (gọi đúng phần họ).
  • Một số quốc gia có thủ tục hành chính cần truy cứu lý lịch, trong đó yêu cầu họ của bố (hoặc mẹ) và họ của con, hay họ của anh chị em ruột phải giống nhau hoàn toàn 100%. Do đó, nếu ghi cả tên đệm vào với mục "họ", trong trường hợp tên đệm của hai bên không giống nhau, thì sẽ có nguy cơ xảy ra trường hợp phía cơ quan xử lý thủ tục của nước ngoài cho rằng không có quan hệ huyết thống hay quan hệ họ hàng do sự khác biệt về "họ" được ghi nhận giữa hai bên. Ở đây, cơ quan sẽ dựa vào việc bố có họ "Nguyen Tan" mà các con lại có họ "Nguyen Thanh" hay "Nguyen Minh", từ đó sẽ cho rằng không có quan hệ bố con hay anh chị em. Điều này khiến các cá nhân phải tự tìm cách khác để bổ sung bằng chứng chứng minh quan hệ, gây lãng phí thời gian, công sức và tiền bạc.

Để thể hiện rõ ràng hơn điều này, từ năm 2023, Cục Quản lý xuất nhập cảnh đã thay đổi kiểu trình bày họ và tên trong hộ chiếu Việt Nam theo cách tách "họ" (surname) với "chữ đệm và tên" (given names, tức tên riêng) thành hai dòng riêng biệt, thay vì để chung một dòng "họ và tên" (full name) như cũ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân Việt Nam khi làm thủ tục xuất nhập cảnh, cư trú ở nước ngoài.[12] Việc này giúp các cơ quan chức năng nước ngoài phân định được đâu là họ, đâu là tên riêng của công dân, hoặc tránh nhầm lẫn trong việc giao dịch cũng như cấp giấy tờ cho công dân Việt Nam.[13]

Trường hợp là người có họ kép vốn sẵn như "Âu Dương Lâm" (họ Âu Dương), "Tôn Thất Lâm" (họ Tôn Thất)... thì có thể ghi chính xác là "Họ: Âu Dương | Tôn Thất" và "Tên: Lâm". Khi bị đảo họ, cách đảo đúng sẽ là "Lam Ton That", "Lam Au Duong". Phần họ có thể thêm gạch ngang thành "Lam Ton-That", "Lam Au-Duong" hoặc viết liền thành "Lam Tonthat", "Lam Auduong" để chỉ rõ họ kép, ví dụ như Hoan Ton-That (Tôn Thất Hoàn). Tuy nhiên vì không còn phổ biến viết gạch nối (-) cho từ ghép hay từ phức trong tiếng Việt như thời kỳ Pháp thuộc, nên ngay từ việc xác định họ thì thường xảy ra việc nhầm họ kép Tôn Thất sang họ đơn âm Tôn và đảo ngược tên thành "That Lam Ton", còn đảo ngược thành "Lam Ton That" tuy là đảo đúng cho họ kép Tôn Thất nhưng không có dấu gạch nối nên dễ bị người phương Tây hiểu nhầm họ là "Thất".

Hình thức và mối liên kết nghĩa

[sửa | sửa mã nguồn]

Xét về hình thức: tên đệm nếu có thường là đơn âm như Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Ngọc Trường Sơn

Xét về mặt liên kết ngữ nghĩa: tên đệm thường là những loại sau:

  • Tên đệm độc lập ngữ nghĩa: là loại tên đệm không phối hợp được với tên họ hay tên chính để làm thành từ kép. Ví dụ với Nguyễn Đình ChiểuLê Văn Sơn thì từ "Đình" hay "Văn" không thể phối hợp với tên họ hoặc tên chính để làm thành từ kép có một ý nghĩa khác.
  • Tên đệm phối hợp với tên chính: hầu hết tên chính người Việt Nam là âm Hán-Việt. Trong văn chương, các từ này được coi là hay hơn các từ Nôm nên khi đặt tên người ta cố gắng lựa tên đệm nào có thể đi chung với tên chính để có ý nghĩa rộng hơn, tốt đẹp hơn như Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Trọng Thành Công...
  • Tên đệm phối hợp với họ: rất ít tên người Việt có tên đệm phối hợp được với tên họ để làm thành từ kép có ý nghĩa như Hoàng Kim Vui, Võ Văn Trung...

Vai trò của tên đệm

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên đệm không bắt buộc phải có, nên chức năng của nó đôi khi cũng không rõ ràng. Một số tên đệm có chức năng cơ bản như:

  • Phân biệt giới tính: nữ giới với tên đệm "Thị"; nam giới với tên đệm "Văn", "Hữu",...
  • Phân biệt nhánh trong một dòng họ lớn: Nguyễn Phúc, Ngô Thì,... Về bản chất đây chỉ là rẽ nhánh bằng tên đệm, không phải là các họ kép chính thống từ đầu như Tôn Thất hay Hoàng Phủ. Và như đã đề cập trước đó, tên đệm không mang tính lưu truyền tuyệt đối qua các thế hệ giống như họ, nên nó có thể sẽ bị bỏ đi vào một thế hệ nào đó.
  • Thẩm mỹ: một số tên đệm chỉ có chức năng thẩm mỹ để cho tên riêng được gọi nghe hay hơn và bớt "khô khan", như dùng từ Hán-Việt có ý nghĩa tốt như các từ chỉ vật quý, mùa đẹp, màu đẹp, từ chỉ phẩm hạnh, tài năng: Xuân, Thu, Cẩm, Châu, Hồng, Hoàng, Đức, Hạnh, Đình, Đại...
  • Tri ân song thân:
    • Tên đệm lấy từ họ của mẹ (hoặc bố): hầu hết người Việt đều mang họ bố, nên có một số lượng được đặt tên đệm từ họ mẹ như một sự tri ân như Trần Lê Quốc Toàn (có mẹ là Lê Thị Quỳnh Nga), hoặc ngược lại khi mang họ mẹ và tên đệm theo họ bố như Cao Pendant Quang Vinh (mẹ là Cao Ngọc Châu, người Việt Nam, còn Pendant là họ của người bố gốc Pháp).[14]
    • Tên đệm lấy từ họ gốc khi thay đổi họ tên: người đi làm con nuôi một nhà họ nào đó thì lấy họ nhà ấy, và chuyển họ gốc của bản thân sang làm tên đệm.
    • Lấy tên đệm của bố hoặc mẹ làm tên đệm hoặc một phần tên đệm cho con: Cù Huy Cận (bố) > Cù Huy Hà Vũ (con),...
    • Lấy tên chính hay toàn bộ tên riêng của bố hoặc mẹ làm tên đệm cho con: Nguyễn Cao Kỳ (bố) > Nguyễn Cao Kỳ Duyên (con),...

Tên chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên chính là tên dùng để xác định chính xác một cá nhân và nó mang một ý nghĩa mà người khai sinh gửi gắm tới cá nhân đó. Trong tên của người Việt, tên chính luôn ở vị trí cuối cùng.

Tên chính thường có 1 âm tiết như Lê Duẩn, Nguyễn Văn Thể, Nguyễn Thị Bình, hoặc 2 âm tiết như Nguyễn Phúc Vĩnh San, Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Kim Ngân...

Lưu ý tên chính khác với tên thường gọi ở cuối. Người Việt có tập quán gọi tên đơn âm cuối cùng, nhưng nhiều trường hợp chỉ riêng tên đơn âm cuối là chưa đủ mà nó cần phải kết hợp với phần tên đứng trước (mà thường bị hiểu nhầm là tên đệm) mới tạo nên tên chính mang ý nghĩa đích thực.

  • Ví dụ như Nguyễn Ngọc Trường Sơn, tên người này phân tích đúng sẽ là họ: "Nguyễn"; tên đệm: "Ngọc"; tên chính: "Trường Sơn" (nghĩa là "núi dài"). Do bình thường mọi người chỉ gọi anh là "Sơn", nên sẽ hay hiểu nhầm rằng tên đệm là "Ngọc Trường" và tên chính là "Sơn".

Đặc điểm

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên chính của người Việt thường có những đặc điểm sau:

  • Có lựa chọn và có lý do:
    • Người Việt Nam quan niệm tên chính là một bộ phận gắn chặt với người mang tên đó. Tục ngữ có câu: "Xem mặt đặt tên", bởi vậy khi đặt tên người ta thường chọn lựa kỹ và căn cứ đặc điểm, giới tính, hoàn cảnh gia đình, dòng họ, quê hương xã hội, ước vọng bố mẹ... mà chọn, không đặt tùy tiện.
    • Tuy nhiên, nhiều bố mẹ đặt tên con tuỳ tiện vì cảm xúc nhất thời, lý do rất vô nghĩa mà không suy nghĩ cho tương lai của con như:
      • Chọn tên để ghi dấu biến cố xảy ra: lấy số tiền bị phạt do sinh đẻ vượt kế hoạch để đặt tên cho con như "Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi" hoặc "Mai Phạt Ba Ngàn Rưởi".[15]
      • Chọn tên con chỉ để xả giận cho bản thân bố mẹ khi gặp chuyện bức xúc trong cuộc sống: Dương Thị Ly Tan, Lê Thị Vô Lý, Võ Thị Xin Thôi, Hoàng Thị Hoãn, Nguyễn Thị Nghĩa Trang, Trần Uất Hận, Trần Trường Hận, Vũ Văn Hận Đời...[16]
      • Đặt tên "độc lạ", "nghe rất hoành tráng", nhưng thực tế quá dài, gây khó nhớ và khó lưu trữ trên giấy tờ: Lê Hoàng Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhân, Đào Thị Long Lanh Kim Ánh Dương,...
      • Lấy tên người yêu cũ hoặc kẻ thù để đặt tên.[17]
      • Lấy tên dịch bệnh, virus để đặt tên con: Nguyễn Cô Vy ("Cô Vy" là đọc tắt kiểu Việt hóa cho "Coronavirus" và tên dịch bệnh COVID-19).[18]
      • Đặt tên con chỉ vì sở thích của bản thân: Đỗ Rê Mon (vì ông bố thích đọc Doraemon),[19] Phan Hết Gas hết Số (vì ông bố thích đua xe),...[20]
  • Số lượng phong phú: So với họ và tên đệm, tên chính phong phú hơn về số lượng. Do có tính lựa chọn, những cái tên mang nghĩa tích cực thường được chọn nhiều hơn những cái tên mang nghĩa tiêu cực đối với cả hai giới tính. Ví dụ, những cái tên như: Mạnh, Dũng, Tuấn, Phương, Dung, Hạnh... thì luôn phổ biến hơn những tên là Lừa, Bịp, Dốt, Sầu, Đau... (những cái tên này cực kỳ ít phổ biến và không còn nhiều trong xã hội hiện đại). Một cách đặt tên khác: đặt tên theo theo ngày kỷ niệm, theo sự kiện như "Quốc Khánh" (cho trẻ sinh ngày 2/9), "Thống Nhất" (cho trẻ sinh ngày 30/4),...
  • Âm Hán-Việt giữ vai trò chủ đạo: hầu hết người Việt sử dụng các từ vựng theo âm Hán-Việt cho tên, thay vì dùng từ vựng theo âm thuần Việt. Ví dụ như Mỹ Hoa (thay vì "Hoa Đẹp"), Kim Ngân (thay vì "Vàng Bạc"), Kim Chi (thanh vì "Cành Vàng"), Hải Yến (thay vì "Én Biển"), Trường Sơn (thay vì "Núi Dài"), Quang Hải (thay vì "Biển Sáng"),...
  • Có sự xác định giới tính: Về nguyên tắc, tên chính của nam nữ không có gì để phân biệt. Tuy nhiên căn cứ vào ý nghĩa của tên chính ấy, phối hợp tên chính với tên đệm và dựa vào thói quen có thể phán đoán tương đối một tên là nam hay nữ.
    • Tên nữ thường là tên loài hoa: Mai, Lan, Cúc, Hoa, Hương...; tên loài chim đẹp có tiếng hót hay: Yến, Oanh...; tên đá quý: Bích, Ngọc, Trân...; tên loại vải quý: Nhung, Gấm, Là, Lụa...; từ ngữ chỉ đức tính: Hạnh, Thảo, Hiền, Dung...; hay từ ngữ có âm thanh nhẹ nhàng, có ý nghĩa hoa mỹ: Vân, Thúy, Diễm, Lệ, Nguyệt, Nga, Trang, Huyền, Ngân...
    • Tên nam thường được chọn trong các tiếng biểu lộ được sự mạnh mẽ về thể xác lẫn tinh thần. Tên nam thường là tiếng chỉ sức mạnh: Cương, Cường, Hùng, Tráng, Dũng...; tiếng chỉ trí tuệ: Thông, Minh, Trí, Tuệ, Quang, Sáng...; tiếng chỉ đức hạnh: Nhân, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Công, Hiệp, Phúc... hay tiếng chỉ tiền tài danh vọng: Phú, Quý, Kim, Tài, Danh, Đạt... hay chỉ địa vật như Sơn, Giang, Lâm, Hải, Dương...; hoặc một số từ có âm hưởng mạnh mẽ như Long, Quốc...
    • Ngoài ra còn có tên trung tính (cả nam và nữ đều dùng được) được người Việt Nam sử dụng khá phổ biến như Anh, An, Bình, Hà, Khánh, Linh, Lương, Nguyên, Tâm, Thanh, Tú. Trong các trường hợp này có thể phân biệt giới tính của tên thông qua tên đệm, ví dụ như Quốc Khánh là tên nam (nghệ sĩ hài Quốc Khánh) còn Ngân Khánh là tên nữ (diễn viên Ngân Khánh).
  • Kị huý: tuy đã có sự giảm bớt so với thời trước Pháp thuộc, việc kị huý của người Kinh vẫn còn áp dụng ở nhiều gia tộc, khi đặt tên không được trùng với tên thần thánh, vua chúa, những người thuộc thế hệ trước của gia đình, gia tộc.[21] Ngoài ra dù Bộ Tư pháp chưa có văn bản nào chính thức quy định việc cấm đặt tên theo các chính khách, người nổi tiếng, lỗi lạc..., nhưng điều này gần như trở thành luật "bất thành văn" trong việc đặt tên. Ví dụ, nếu đặt tên là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp... thì chắc chắn sẽ khó được chấp nhận trong xã hội Việt Nam.

Tục lệ đặt tên

[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam, thời hạn đặt tên cho con - tính từ ngày sinh - thay đổi theo từng vùng. Người Kinh, theo phong tục xưa thì không đặt tên ngay khi đứa trẻ mới chào đời mà chỉ gọi nôm na như thằng cu, cái nhỏ, thằng Tèo, cái Tộp... (những tên này hiện nay ít được sử dụng. Nếu có thì sẽ xảy ra khi một người lớn tuổi gọi một đứa trẻ hoặc trẻ vị thành niên khi không biết tên của người đó), hoặc một cái tên gì đó xấu xí trong vòng 100 ngày để ma quỷ khỏi bắt nó đi.[22][23] Ở Huế nói riêng, đúng 100 ngày sau mới làm lễ tạ ơn "mười hai bà mụ" bấy giờ mới đặt tên húy.[24][25] Tên húy là tên chính thức của mỗi người, thường do bố mẹ đặt. Tên chính còn được gọi là tên húy, tên thật, hay tên khai sinh.

Một số địa phương khác, trong dịp tế tổ, các gia đình có con cháu mới sinh sắm sửa cơi trầu, chai rượu, hương hoa, lễ vật đến nhà thờ họ yết cáo tiên tổ và vào sổ họ cho các con trai trước lễ yết cáo, ngày đó mới có tên húy chính thức, được họ hàng công nhận. Trong khi vào sổ họ phải đối chiếu gia phả để xem có trùng tên các vị tiên tổ hoặc ông bà chú bác trong nội thân hay không. Nếu có tức là phạm húy thì phải đổi tên. Ở nông thôn, các vị có uy vọng trong làng, trong họ thường được dân chúng biếu trầu rượu và nhờ đặt tên cho con. Người đặt tên được gia đình đó nhớ ơn suốt đời.[26] Ngày nay, theo nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ Việt Nam về đăng ký và quản lý hộ tịch, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con; bố, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu bố mẹ không thể đi khai sinh thì ông bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ.[27]

Những cách chọn tên chính phổ biến

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Chọn tên có liên hệ với họ tên bố, mẹ hoặc anh, chị: Nghị hay Đồng (tên bố là Hội); Điểm hay Đài (khi tên chị là Trang)...
  • Chọn tên liên hệ đến ngành nghề, sản phẩm[cần dẫn nguồn]: Sĩ, Nông, Công, Thương; Cột, Kèo, Rui, Mèn...
  • Lấy số thứ tự: Một, Hai, Ba... hay Nhất, Nhị, Tam...
  • Lấy tên động vật thực vật: Loan, Phụng, Sơn Ca...; Hồng, Lan, Huệ...
  • Tên mang ý nghĩa tốt đẹp: Phúc, Lộc, Thọ, Đoan, Trang, Tuyết, Trinh, Hiền, Thương, Hùng, Dũng, Bảo, Trân, Trọng, Châu...
  • Tên biểu lộ bố con cùng huyết thống ví dụ tên các chúa Trịnh: Kiểm, Tùng, Tráng, Tạc, Căn, Cương, Giang, Doanh, Sâm, Cán, Khải đều thuộc bộ Mộc còn tên các chúa Nguyễn: Kim, Hoàng, Nguyên, Lan, Tần, Trăn, Chu, Trú đều thuộc bộ Thủy...
  • Theo địa danh nơi sinh: Ngụy Như Kontum
  • Theo thời gian sinh như Xuân, Hạ, Thu, Đông; hoặc , Sửu, Dần... hoặc; Giáp, Ất, Bính...
  • Lấy tiếng nước ngoài như: Phạm Bá Rose, Vũ Thị Noel, Đặng Thị Milla... Tuy nhiên, tên dạng này sẽ không được luật pháp Việt Nam công nhận do không đúng cấu trúc chính tả và từ vựng tiếng Việt.
  • Nhận tên theo một bài thơ để phân biệt thế hệ: như vua Minh Mạng đã làm một bài thơ và quy định cho con cháu phải đặt tên theo bài thơ đó:
Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh Bảo, Quý, Định, Long, Trường Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật Thế, Thụy, Quốc, Gia, Xương.

Theo bài thơ trên, tên các hoàng tử thuộc dòng đế, mỗi thế hệ sẽ dùng một bộ chữ.

Lúc mới sinh, các trẻ sơ sinh thường được gọi bằng tên quai nôi hay tên cúng cơm như: Tèo, Tộp, Út, Thôi, Nữa, Gắng, Ráng... và cũng có thể là Tom, Henry, Ghita, Mary... Chỉ tên chính được ghi trong giấy khai sinh khi đăng ký và trong mọi hồ sơ về sau này.

Quy định về họ tên trong luật pháp Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

Quyền đối với họ, tên

[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ luật Dân sự Việt Nam ban hành ngày 27/6/2005, phần thứ nhất (Những quy định chung), chương III (Cá nhân), mục 2 (Quyền nhân thân), điều 26 (Quyền đối với họ, tên) quy định:[28]

  1. Cá nhân có quyền có họ, tên. Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó.
  2. Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
  3. Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Cải chính họ, tên

[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 27 trong bộ luật Dân sự 2005 liệt kê 7 trường hợp cho phép cá nhân có quyền thay đổi họ, tên.[28]

  1. Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;
  2. Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;
  3. Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;
  4. Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại;
  5. Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;
  6. Thay đổi họ, tên của người được xác định lại giới tính;
  7. Các trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

Việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ 9 tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó. Việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ, tên cũ.

Thủ tục

[sửa | sửa mã nguồn]

Những cái tên gây nhầm lẫn, phiền toái, phản cảm, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống tinh thần... làm cho người mang tên khó hòa nhập với cuộc sống, có thể xin đổi lại (theo điều 27 của bộ Luật Dân sự năm 2005[28]) dù việc này có thể gặp rắc rối khi thay đổi cho đồng bộ các giấy tờ liên quan như sổ hộ khẩu, học bạ, chứng minh nhân dân, giấy tờ nhà đất, xe cộ...

Thẩm quyền đăng ký việc thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc đó được đăng ký trong bản chính giấy khai sinh là ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đã đăng ký khai sinh của người có đơn yêu cầu.

Người xin thay đổi, cải chính hộ tịch phải nộp đơn (theo mẫu quy định) và xuất trình các giấy tờ sau đây: bản chính giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình (hoặc giấy đăng ký tạm trú có thời hạn hoặc giấy xác nhận cư trú của cơ quan công an) của người có đơn yêu cầu, chứng minh nhân dân.

Thời hạn giải quyết là 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Những trường hợp phải thay đổi tên xảy ra trong lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử Việt Nam, một lượng người Việt đã thay đổi tên do một trong các nguyên nhân sau:

  • Phạm húy vua: Phan Văn San do trùng tên húy vua Duy Tân (Nguyễn Phúc Vĩnh San) nên phải đổi thành Phan Bội Châu.
  • Được vua đổi tên: vua có lệ ban tên (tứ danh) cho các quan được vua chiếu cố. Nguyễn Hễ (tiến sĩ cập đệ nhất danh khoa Giáp Tuất 1514) được vua Lê Tương Dực đổi tên là Nguyễn Đức Lượng; Nguyễn Văn Chương được vua Tự Đức đổi là Nguyễn Tri Phương.
  • Một số người do thi hỏng nên đổi tên. Nguyễn Thắng thi hội hai lần không đỗ nên đổi thành Nguyễn Khuyến, Trần Duy Uyên thi hương hỏng nên đổi là Trần Tế Xương, rồi Trần Cao Xương và, cuối cùng, quay lại Trần Tế Xương.
  • Tên xấu đổi thành tên đẹp.
  • Trốn tránh không để chính quyền biết được nhân thân như:
    • Trốn lính: Một số người ở miền Nam Việt Nam trước 1975 đổi tên, đổi ngày tháng năm sinh để trốn lính.
    • Đổi tên để hoạt động cách mạng.
    • Trốn lệnh truy nã, trốn nợ, trốn vợ chồng, muốn rũ bỏ một quãng đời trước đó (thường kèm theo di chuyển nơi ở).

Việc đăng ký tên được thực hiện tại mỗi làng xã qua lệ mỗi năm khai số hộ, đàn ông 18 tuổi gọi là hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên gọi là đại nam để phục vụ việc thu thuế thân. Nếu là phụ nữ, phải cải trang thành nam thì mới có tên để đăng ký dự thi, trường hợp tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ[29] là một ví dụ. Bố bà vì tiếc tài con gái, cho cải trang thành nam [30] để đi học và đổi thành tên Nguyễn Du.[31]

Từ khoa thi năm 1829 học trò ứng thi phải khai đủ tên họ, lý lịch ông bố ba đời trên mặt quyển, lời khai phải được lý trưởng chứng nhận. Những người có ông bố ba đời làm nghề xướng ca, hay can án trộm cắp, hoặc làm giặc đều không được đi thi, cho nên nhiều người muốn đi thi đành phải thay tên đổi họ. Thời nhà Lê có khi lý trưởng còn phải ra tận trường thi để nhận diện thí sinh, tránh những vụ nhờ người đi thi hộ. Nhiều người ở xa đến kỳ thi không kịp về nguyên quán để thi cũng phải khai gian nên năm 1832 lại có đạo dụ cấm không được đổi tên họ quê quán để đi thi.

Lệ quy năm 1831 định rằng họ tên, quê quán phải được duyệt xét cho tường tận, đích xác rồi quan Trấn mới đóng ấn triện vào, sau đó Học quan mới chuyển quyển thi vào trường.[30]

Các loại tên khác

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Các loại tên khác của người Việt

Xưng hô tên của người Việt

[sửa | sửa mã nguồn]

Cách xưng hô cho tên của người Việt thay đổi theo các tầng lớp trong xã hội, ngoài ra thay đổi theo tuổi tác, giới tính... Ngày nay, người Việt hay dùng tên đơn âm ở cuối để xưng hô, gọi, giao tiếp và rất ít dùng họ (trừ những người đặc biệt có tầm ảnh hưởng rất lớn tới chính trị, kinh tế - xã hội Việt Nam như Hồ Chí Minh - "Bác Hồ").

Trong môi trường cần sự chuyên nghiệp và trang trọng như một chương trình hay sự kiện, hoặc đề cập tới người có danh tiếng, để tránh cho tên bị gọi một cách "trống không" hay "khô khan", người Việt dùng đầy đủ họ và tên, hoặc dùng hai âm tiết trong tên để xưng hô, và tuỳ từng trường hợp chữ "Thị" có thể bị lược bỏ. Ví dụ:

Tên đầy đủ Cách xưng tên thường thấy Cách xưng tên không thường thấy
Nguyễn Thị Hương Nguyễn Thị HươngNguyễn Hương Thị Hương
Nguyễn Lan Hương Nguyễn Lan HươngLan HươngNguyễn Hương
Nguyễn Thị Lan Hương Nguyễn Thị Lan HươngLan HươngNguyễn Hương Thị Lan Hương

Đối với vua chúa

[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với vua

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Gọi bằng họ và miếu hiệu: Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tông (có trường hợp đặc biệt như vua Lê Đại Hành, trong đó "Đại Hành" không phải là miếu hiệu mà là từ thường dùng để xưng hoàng đế mới băng hà, song vì vua kế vị là Lê Long Đĩnh không đặt thụy hiệu, miếu hiệu nên "Đại Hành" trở thành hiệu của vua Lê Hoàn luôn).
  • Gọi bằng họ kèm niên hiệu: Trần Trùng Quang, Lê Chiêu Thống,...
  • Gọi bằng niên hiệu: Quang Trung, Gia Long, Tự Đức hoặc thêm từ "vua" vào trước trở thành: vua Quang Trung, vua Gia Long, vua Tự Đức...
  • Gọi bằng thụy hiệu: Lý Chiêu Hoàng, Trần Giản Định,...
  • Gọi bằng tên chính thức (cách gọi phổ biến): Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung,...

Đối với chúa

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Gọi bằng tên tước và tên chính: Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, Định Vương Nguyễn Phúc Thuần, có trường hợp chỉ cần gọi tước như "Hiền Vương" (Nguyễn Phúc Tần).
  • Dùng từ "chúa" và tên thường gọi: Chúa Sãi, Chúa Hiền...
  • Gọi bằng tên chính thức: Nguyễn Hoàng, Trịnh Sâm...
  • Gọi bằng họ kèm chữ "Vương": Nguyễn Vương (chỉ Nguyễn Phúc Ánh trong giai đoạn trước khi lên ngôi).

Đối với nho sĩ, quan lại

[sửa | sửa mã nguồn]

Nho sĩ

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng tự, hiệu và thêm từ "tiên sinh": Băng Hồ tiên sinh (Trần Nguyên Đán); Tố Như tiên sinh (Nguyễn Du)...
  • Dùng biệt hiệu: La Sơn Phu tử (Nguyễn Thiếp)
  • Dùng tên chức vụ và tên quê: Uy Viễn tướng công (Nguyễn Công Trứ)
  • Dùng từ chỉ học vị và tên quê: Trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan), Tam nguyên Yên Đổ (Nguyễn Khuyến)...
  • Dùng từ chỉ học vị và phẩm hàm: Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
  • Dùng từ chỉ học vị và tên chính: Nghè Tân, Tú Xương, Đồ Chiểu, Thủ khoa Huân...
  • Dùng chức vụ và nơi làm việc của chồng: Bà Huyện Thanh Quan.

Quan lại

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng chức vụ và tên chính: Nghị Quế, Hương Điểm, Xã Tài, Đề Thám,..
  • Dùng phẩm hàm và tên chính: Thiên hộ Dương, Bá Nọn...
  • Chỉ gọi chức vụ: Binh, Cai, Đội, Lý (lý trưởng), Bạ (chưởng bạ), Tham (tham tá)...
  • Chỉ gọi phẩm hàm: Ôn Như Hầu, Thiếu (thái tử thiếu bảo), Hường (hồng lô tự khanh), Cửu (cửu phẩm), Bát (bát phẩm)...

Đối với lãnh tụ, trí thức

[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với lãnh tụ

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng từ xưng hô và họ: Cụ Phan (Phan Bội Châu); Cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng)..., trong một vài trường hợp, từ xưng hô lại trở thành danh từ riêng như từ "Bác": Bác Hồ; Bác Tôn...
  • Dùng họ và phẩm hàm: Trần Hưng Đạo
  • Dùng họ kết hợp chức vụ: Hồ Chủ tịch, Ngô Tổng thống (Ngô Đình Diệm)...
  • Cách phổ biến hơn là dùng danh từ chỉ chức vụ hoặc quân hàm và họ tên đầy đủ: Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đối với trí thức

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng học hàm, học vị và tên chính: Giáo sư Cẩn, Tiến sĩ Dương, Kỹ sư Hòa, Bác sĩ Long...
  • Dùng học hàm, học vị và họ tên: Phó giáo sư Nguyễn Nguyên Trứ, Giáo sư Tiến sĩ Trần Kim Thạch...
  • Có khi dùng họ và từ "quân" để gọi: Lê quân, Phạm quân... (cách gọi này ngày nay hiếm gặp).
  • Một số phụ nữ được gọi theo tên chồng: Bà Ngô Bá Thành, Bà Nguyễn Phước Đại...

Đối với văn nghệ sĩ

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng tự, hiệu hoặc bút danh và họ tên đầy đủ: Ưu Thiên Bùi Kỷ, Thuần Phong Ngô Văn Phát...
  • Đơn giản chỉ dùng bút danh, nghệ danh: Đông Hồ, Út Trà Ôn...
  • Dùng từ chỉ ngành nghề và bút danh, nghệ danh: Nhà thơ Tố Hữu, nghệ sĩ Kim Cương, ca sĩ Hồng Vân...
  • Dùng họ và tự, hiệu: Nguyễn Tố Như, Lê Thọ Xuân...
  • Dùng biệt hiệu, biệt danh, nghệ danh: Ưng Hoàng Phúc, Bảo Thy, Sơn Tùng M-TP, Soobin Hoàng Sơn, Quang Anh Rhyder,...

Đối với tu sĩ

[sửa | sửa mã nguồn]

Phật giáo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng từ chỉ chức vụ và pháp tự, pháp hiệu: Ni sư Trí Hải, Thượng toạ Thích Tuệ Sĩ, Hòa thượng Thích Đức Nhuận...

Công giáo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng từ chỉ chức vụ và họ tên thật: Linh mục Võ Thành Trinh, Hồng y Trịnh Văn Căn...
  • Dùng từ chỉ chức vụ, tên thánh và họ tên thật: Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình...
  • Đơn giản dùng từ chỉ chức vụ và tên chính: Cha Trinh, Giám mục Bình...
  • Đơn giản dùng từ chỉ chức vụ và tên thánh: Cha Phan-xi-cô,Cha Giu-se...

Cao Đài giáo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng từ để chỉ chức vụ, Thánh danh: Đầu sư Thái Bộ Thanh, Đầu sư Thượng Sáng Thanh, Đầu sư Ngọc Nhượn Thanh, Nữ Đầu sư Hương Thanh, Nữ Đầu sư Hương Hiếu...

Tin lành

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng từ chỉ chức vụ và tên các vĩ nhân (Cựu Ước): Mục sư Isaac,Truyền Đạo Daniel...
  • Dùng từ chỉ chức vụ và tên thật: Mục sư Phạm Đình Nhẫn
  • Đơn giản dùng từ chỉ chức vụ và tên: Mục sư Nhẫn

Xưng hô trong dân thường

[sửa | sửa mã nguồn]

Gọi theo họ tên

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng tên chính: Ngọc, Lan, Mai, Hoa... áp dụng khi người lớn tuổi gọi người nhỏ tuổi hơn (như bố mẹ gọi con, cô chú gọi cháu, thầy cô giáo gọi học sinh...) hoặc giữa những người có quan hệ gần gũi thân thiết với nhau.
  • Dùng tên chính sau một từ xưng hô: anh Hoa, chị Mai, cô Thắm, cụ Tâm (người có vai vế thấp gọi người có vai vế cao hơn hoặc người nhỏ tuổi gọi người lớn tuổi hơn buộc phải gọi theo hình thức này) hay thằng Minh, con Liễu... (người lớn tuổi gọi người nhỏ tuổi hơn).
  • Dùng tên chính và thêm những từ ni những nhân vật lịch sử: Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân...

Gọi theo ngôi thứ

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dùng từ xưng hô và thứ bậc (trong gia đình của người mang tên): anh Cả, thằng Hai, chị Ba, con Bảy, dượng Mười... như Cả Đỏ (Nguyễn Lương Bằng), Bảy Cường (Phạm Hùng), Sáu Dân (Võ Văn Kiệt). Đặc biệt, người miền Nam (chỉ người miền Nam) gọi con trưởng là "Hai", gọi con thứ nhì là "Ba"...
  • Dùng thứ bậc và tên chính: Ba Khiết, Tư Hồng...
  • Dùng từ xưng hô, thứ bậc và tên chính: anh Tư Rô, bác Cả Hồng...

Gọi kèm tên vợ hoặc chồng

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Út Tịch là tên của bà Nguyễn Thị Út, có chồng tên là Tịch.
  • Vợ chồng xưng hô: anh-em, mình-tôi, ông xã-bà xã, mẹ nó-bố nó...
Gọi theo tên chồng
[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với một số vùng nông thôn ở miền Bắc, người ta thường gọi vợ một người nào đó theo tên của chồng. Chẳng hạn chồng là A vợ là B nhưng người ta gọi B là "bà A". Cách gọi này thông dụng đến nỗi có khi những ai con cháu của bà B cũng không biết được tên thật của bà B.

Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam khi kết hôn vẫn giữ và dùng tên họ riêng theo khai sinh mà không đổi theo tên họ nhà người chồng.

Gọi theo tên con

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Ở miền Nam Việt Nam người ta thường gọi gắn tên con đầu lòng theo kiểu: "danh từ xưng hô + từ chỉ thứ bậc + tên chính con đầu lòng": chị Hai Tùng, anh Ba Hiển...[cần dẫn nguồn]
  • Ở nhiều vùng thuộc tỉnh Thanh Hoá, những người đã lên chức ông bà (hoặc đã già) cũng được gọi gắn tên con đầu lòng nhưng không kèm từ chỉ thứ bậc. Ví dụ ông Dương, bà Dương là tên thường gọi của bố và mẹ anh Dương. Nhưng khi đã qua đời thì không được gọi theo tên con nữa mà gọi theo tên khai sinh, còn gọi là "tên cúng cơm".
  • Ở nông thôn miền Bắc Việt Nam bố, mẹ thường gọi nhau theo tên hoặc tên tục của con: bố thằng A, mẹ cái B, bố cái Đĩ, bu con Cún... Cách gọi này không áp dụng đối con cái hoặc với người ngoài gia đình.

Thuật ngữ công tác

[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam, thuật ngữ xưng hô gọi nhau bằng đồng chí cũng khá phổ biến do ảnh hưởng từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Người ta thường gọi nhau khi làm việc bằng từ Đồng chí + Tên gọi, ví dụ như: đồng chí Nam, đồng chí An, đồng chí công an... mặc dù người được gọi là đồng chí không nhất thiết phải là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xưng hô khuyết danh

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giao tiếp hằng ngày, nếu không cần thiết, người Việt thường xưng hô khuyết danh với nhau (chỉ gồm đại từ nhân xưng, không tên gọi). Trong nhiều ngôn ngữ khác, tiếng Anh chẳng hạn, đại từ nhân xưng không minh định vị trí và địa vị của từng cá nhân, nhưng áp dụng trong mọi trường hợp; nhưng Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ có lượng đại từ nhân xưng vô cùng nhiều, làm cho cách xưng hô này trở nên phức tạp. Tuy nhiên, điều này lại đóng góp tích cực vào việc duy trì đạo đức, trật tự của gia đình và xã hội, là đặc trưng riêng cho ngôn ngữ. Ví dụ: người mẹ nói chuyện với con gái mình thì tự xưng là u (cách dùng cũ ở một phần miền Bắc), mẹ (ở miền Bắc, Bắc Trung Bộ, một phần nhỏ Nam Trung Bộ), má (ở miền Nam), hay một từ tương tự nào đó và gọi con gái mình bằng con... Người nói và người nghe đều xác định được vị trí đích thực của mình không thể nhầm lẫn được.

Ví dụ:

Trạng thái Ngôi thứ nhất Ngôi thứ hai Ngôi thứ ba
Số ít Số nhiều Số ít Số nhiều Số ít Số nhiều
Trung hòa tôi chúng tôi bạn các bạn người đó họ, những người đó
Có cảm tình con, cháu, em... chúng con, chúng cháu, chúng em... mẹ, bà, anh... các chị, các anh... ông ấy, cô ấy, anh ấy... các anh ấy, các bác ấy...
Không cảm tình tao bọn tao, chúng tao... mày, mi... chúng bay, chúng mày, bọn mày, bọn mi... hắn, nó, y... bọn nó, bọn hắn, lũ...

Tên người dân tộc thiểu số

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Tên người dân tộc thiểu số tại Việt Nam

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Đời sống văn hóa gia tộc, tác giả Lê Nguyễn Lưu, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2006.
  • Họ và tên người Việt Nam, tác giả PGS.TS Lê Trung Hoa, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, xuất bản năm 2005
  • Từ điển chức quan Việt Nam, tác giả Đỗ Văn Ninh, Nhà xuất bản Thanh niên, xuất bản năm 2006
  • Tên người Chăm Nam Bộ, tác giả Đinh Thị Hòa [3] Lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2010 tại Wayback Machine

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Tuy nhiên cũng có những người Việt, do hoàn cảnh sống mà sử dụng họ khác, không còn sử dụng họ gốc. Tiêu biểu như Hồ Chí Minh - họ "Hồ", tên khai sinh là "Nguyễn Sinh Cung" - họ "Nguyễn".
  2. ^ a b Thường là họ từ bố, nhưng luật pháp Việt Nam cũng không cấm đặt từ họ của mẹ. Việc người con mang họ bố hay mẹ do bố mẹ quyết định.

Tham Khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Họ và tên người Việt Nam, PGS.TS Lê Trung Hoa, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2005
  2. ^ "Quyền có họ, tên theo pháp luật Việt Nam và một số vấn đề đặt ra". Tạp chí Dân chủ & Pháp luật. ngày 23 tháng 10 năm 2023.
  3. ^ a b Hoàng Phê (chủ biên) (2003). Từ điển tiếng Việt (Từ điển Hoàng Phê).
  4. ^ Đặt tên nước ngoài cho con mang quốc tịch Việt Nam Lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2014 tại Wayback Machine Luật sư Nguyễn Văn Tuấn - Luật Hoàng Minh, báo Đất Việt cập nhật lúc 10:59, 18/08/2009
  5. ^ Tại sao người Việt dùng tên nước ngoài Long Vu, VnExpress 14/4/2010, 11:24 GMT+7
  6. ^ "Những cái tên dài, độc, lạ của người Việt Nam". Báo điện tử Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh. ngày 13 tháng 5 năm 2015.
  7. ^ baohaiphong.vn (ngày 17 tháng 11 năm 2023). ""Trăm họ" của người Việt Nam là những họ nào?". baohaiphong.vn.
  8. ^ "9 dòng họ ở Hưng Yên nhất loạt xin... đổi họ". VnExpress. ngày 15 tháng 3 năm 2004.
  9. ^ "Chuyện showbiz: Kim Lý gọi tên thật của Hồ Ngọc Hà, ngọt ngào chúc mừng sinh nhật vợ". vov.vn. ngày 26 tháng 11 năm 2022.
  10. ^ "Phạm Thị Hương: 'Tôi tự tin mình có tư cách tốt'". VnExpress. ngày 4 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2025.
  11. ^ "Vừa lộ diện, "Kiều" của Mai Thu Huyền lại gây tranh cãi". Dân Trí. ngày 23 tháng 10 năm 2020.
  12. ^ "Triển khai cấp hộ chiếu bổ sung thông tin "nơi sinh" từ ngày 01/01/2023". bocongan.gov.vn. ngày 1 tháng 1 năm 2023.
  13. ^ "Từ 1/1/2023, hộ chiếu tách "họ", "chữ đệm và tên" thành 2 dòng". Báo điện tử Dân Trí. ngày 31 tháng 12 năm 2022.
  14. ^ "Thú vị đằng sau cái tên Cao Pendant Quang Vinh". Báo điện tử An ninh Thủ đô. ngày 28 tháng 3 năm 2025.
  15. ^ Bi hài quanh cái tên "Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi" Hữu Trà, Thanh Niên (báo) 23:45:00, 09/07/2006
  16. ^ "Bi kịch từ những cái tên". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
  17. ^ thanhnien.vn (ngày 9 tháng 7 năm 2020). "Ý nghĩa tên cha mẹ đặt cho con: Lấy tên người yêu cũ, kẻ thù". Báo Thanh Niên.
  18. ^ "Mẹ bỉm sữa té ngửa khi chồng đặt tên con là 'Nguyễn Cô Vy'". Tuổi trẻ Cười. ngày 3 tháng 3 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2022.
  19. ^ "Vợ phản đối đặt tên con là "Đỗ Rê Mon", chồng trẻ ranh liền bỏ nhà đi bụi, vợ gọi thế nào cũng không chịu về". Webgiaitri.vn. ngày 14 tháng 7 năm 2021.
  20. ^ "'Mai Phạt Sáu Nghìn Rưởi', 'Phan Hết Gas Hết Số', rồi gì nữa?". Tuổi Trẻ Online. ngày 13 tháng 9 năm 2019.
  21. ^ Vì phải tránh nhiều như vậy, nên vợ chồng mới cưới thường có tục bế con đầu lòng đến trước mặt ông bà xin đặt tên cho con. Tục lệ này vừa để tỏ lòng tôn kính bố mẹ, vừa tránh được những tên của họ hàng mà vợ chồng mới lấy nhau chưa biết
  22. ^ Nếu đứa trẻ đó chẳng may xấu số, gia phả sẽ ghi "hữu vị vô danh" tức có người, biết trai gái nhưng chưa có tên
  23. ^ Tên người Việt Nam Lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2008 tại Wayback Machine, Nguyễn Khôi 29/03/2007: "Có ý kiến cho rằng "tên xấu xí" vì sợ quỷ tha ma bắt"
  24. ^ Đời sống văn hóa gia tộc, Lê Nguyễn Lưu, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2006
  25. ^ Nếu đứa trẻ đặt tên húy rồi mà chết non thì gia phả ghi "hữu danh vô vị"
  26. ^ Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam - Tại sao khi mới đẻ chưa đặt tên chính?, Tân Việt, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2001
  27. ^ Thủ tục đăng ký khai sinh trong nước[liên kết hỏng]
  28. ^ a b c Chính phủ Việt Nam (ngày 27 tháng 6 năm 2005). "Bộ luật Dân sự". Công báo Việt Nam. tr. phần thứ nhất, chương III, mục 2, điều 26. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2011.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) Quản lý CS1: ngày tháng và năm (liên kết)
  29. ^ Một số tài liệu khác Nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam[liên kết hỏng], Trần Hồng 09:17 | 15/03/2006 (Tạp chí Trí tuệ, 3-2006), [1] Lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007 tại Wayback Machine... nói rằng bà đậu tiến sĩ. Nguyễn Thị Chân Quỳnh giải thích: "Các sách đều chép bà đỗ thủ khoa, một vài chỗ nói bà đỗ Trạng nguyên, không rõ đó là sự thực hay thấy nói đỗ thủ khoa vội cho ngay là phải đỗ Trạng ? Nhà Nguyễn có lệ không lấy ai đỗ Trạng nguyên, song nhà Mạc hầu như khoa nào cũng lấy người đỗ Trạng, nên tôi cũng để bà đỗ Trạng cho thích hợp với truyền thống nhà Mạc"[2]
  30. ^ a b Nguyen Thi Chan Quynh
  31. ^ "Hội liên hiệp Phụ nữ - Việt Nam". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2007.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  • x
  • t
  • s
Tên cá nhân trong các nền văn hóa khác nhau
  • Anh
  • Albania
  • Akan
  • Armenia
  • Ả Rập
  • Ấn Độ
    • Cộng đồng Cơ đốc Saint Thomas
  • Bangladesh
  • Ba Tư
  • Ba Lan
  • Belarus
  • Bồ Đào Nha
  • Bulgaria
  • Campuchia
  • Canada
  • Croatia
  • Do Thái
  • Thổ dân Đài Loan
  • Đức
  • German
  • Eritrea/Ethiopia
  • Fiji
  • Gaelic
  • Gruzia
  • Ghana
  • Hà Lan
  • Hawaii
  • Hebrew
  • Hungary
  • Hy Lạp
    • Síp
  • Kalmyk
  • Iceland
  • Igbo
  • Indonesia
    • Bali
    • Indonesia gốc Hoa
    • Java
  • Ireland
  • Ý
  • Mỹ
    • Mỹ gốc Phi
  • Nhật
    • Amami
    • Okinawa
  • Lào
  • Latvia
  • Lithuania
  • Macedonia
  • Mã Lai
  • Mông Cổ
  • Myanmar
  • Pakistan
  • Pashtun
  • Philippines
  • Phần Lan
  • Pháp
  • Roma
  • Romania
  • Nga
  • Sakha
  • Serbia
  • Séc
  • Sindh
  • Slav
  • Slovakia
  • Somalia
  • Tamil
    • Các vương quốc Tamil cổ đại
  • Tatar
  • Tây Ban Nha
    • Hispanic America
  • Xứ Basque
  • Catalunya
  • Vùng Galicia
  • Thái Lan
  • Thổ Nhĩ Kỳ
  • Thuỵ Điển
  • Triều Tiên
  • Trung Quốc
    • Mãn Châu
    • Tây Tạng
  • Ukraina
  • Việt Nam
  • Wales
  • Yoruba
  • Zimbabwe
  • x
  • t
  • s
Các họ của người Việt
A
  • An
  • Âu
B
  • Bạch
  • Bành
  • Bùi
C
  • Ca
  • Cái
  • Cam
  • Cao
  • Châu
  • Chu
  • Chung
  • Chử
  • Chương
  • Công
  • Cung
D
  • Diệp
  • Doãn
  • Dương
Đ
  • Đàm
  • Đan
  • Đào
  • Đặng
  • Đầu
  • Đậu
  • Điền
  • Đinh
  • Đoàn
  • Đỗ
  • Đồng
  • Đổng
  • Đới/Đái
  • Đường
G
  • Giáp
  • Giả
  • Giản
  • Giang
  • Giao
H
  • Hạ
  • Hán
  • Hàn
  • Hàng
  • Hình
  • Hoa
  • Hoàng/Huỳnh
  • Hoàng Phủ
  • Hồ
  • Hồng
  • Hùng
  • Hứa
  • Hướng
  • Hữu
K
  • Kha
  • Khang
  • Khổng
  • Kiên
  • Kiều
  • Kim
  • Khuất
  • Khúc
  • Khương
L
  • La
  • Lạc
  • Lại
  • Lam
  • Lâm
  • Lều
  • Lộc
  • Lục
  • Luận
  • Lữ/Lã
  • Lương
  • Lường
  • Lưu
M
  • Ma
  • Mạc
  • Mai
  • Man
  • Mẫn
  • Mâu
N
  • Nghiêm
  • Ngô
  • Ngụy
  • Nguyễn (Nguyễn Phúc)
  • Nhan
  • Nhâm
  • Nhữ
  • Ninh
  • Nông
Ô
  • Ông
P
  • Phạm
  • Phan
  • Phí
  • Phó
  • Phùng
  • Phương
Q
  • Quách
  • Quản
  • Quế
S
  • Sầm
  • Sơn
  • Sử
T
  • Tạ
  • Tăng
  • Thạch
  • Thái
  • Thẩm
  • Thang
  • Thân
  • Thi
  • Thiệu
  • Thiều
  • Tiết
  • Tiêu
  • Tôn
  • Tôn Thất/Tôn Nữ
  • Tống
  • Trang
  • Trà
  • Trần
  • Triệu
  • Trình
  • Trịnh
  • Trương
  • Từ
  • Tưởng
U
  • Ung
  • Uông
V
  • Văn
  • Viên
  • Vũ/Võ
  • Vương
  • x
  • t
  • s
Tổng quan về Việt Nam
Lịch sử - Niên biểu
  • Thời tiền sử
  • Hồng Bàng
  • An Dương Vương
  • Bắc thuộc lần 1
    • Nhà Triệu
  • Khởi nghĩa Hai Bà Trưng
  • Bắc thuộc lần 2
    • Khởi nghĩa Bà Triệu
  • Nhà Tiền Lý và Triệu Việt Vương
  • Bắc thuộc lần 3
  • Thời kỳ tự chủ Việt Nam
  • Nhà Ngô
    • Loạn 12 sứ quân
  • Nhà Đinh
  • Nhà Tiền Lê
  • Nhà Lý
  • Nhà Trần
  • Nhà Hồ
  • Bắc thuộc lần 4
    • Nhà Hậu Trần
    • Khởi nghĩa Lam Sơn
  • Nhà Hậu Lê
    • Lê sơ
    • Lê Trung Hưng
    • Nhà Mạc
    • Trịnh-Nguyễn phân tranh
  • Nhà Tây Sơn
  • Nhà Nguyễn
    • Pháp thuộc
    • Đế quốc Việt Nam
  • Chiến tranh Đông Dương
    • Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
    • Quốc gia Việt Nam
    • Việt Nam Cộng hòa
    • Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
  • Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chính trị
Quốc hội
  • Hiến pháp
  • Chủ tịch Quốc hội
  • Đại biểu
  • Bầu cử
  • Đảng Cộng sản Việt Nam
  • Tổng Bí thư
  • Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Nhà nước và Chính phủ
  • Chủ tịch nước
  • Thủ tướng
  • Văn phòng Chính phủ
Tòa án
  • Tòa án Nhân dân Tối cao
  • Tòa án Nhân dân
  • Viện Kiểm sát Nhân dân
An ninh
  • Quân đội
  • Công an
Kinh tế
  • Lịch sử kinh tế
  • Thời bao cấp
  • Đổi Mới
  • Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
  • Tiền tệ
Địa lý
Các vùng miền
  • Đồng bằng sông Hồng
  • Miền núi và trung du Bắc Bộ
  • Đồng bằng duyên hải miền Trung
  • Tây Nguyên
  • Đồng bằng sông Cửu Long
Thắng cảnh rừng - núi
  • Fansipan
  • Núi Bạch Mã
  • Núi Yên Tử
  • Rừng Cúc Phương...
Thắng cảnh biển - hồ
  • Sầm Sơn
  • Nha Trang
  • Mũi Né
  • Vũng Tàu
  • Phú Quốc
  • Hồ Ba Bể
  • Hồ Núi Cốc
  • Hồ Trúc Bạch...
Di sản thiên nhiên
  • Vịnh Hạ Long
  • Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng
  • Quần thể danh thắng Tràng An
Khu dự trữ sinh quyểnthế giới
  • Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ
  • Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai
  • Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
  • Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng
  • Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang
  • Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An
  • Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau
  • Khu dự trữ sinh quyển Cù lao Chàm
  • Khu dự trữ sinh quyển Langbiang
Công viên địa chất
  • Cao nguyên đá Đồng Văn
  • Công viên địa chất Non nước Cao Bằng
Khác
  • Danh sách điểm cực trị của Việt Nam
  • Danh sách sinh vật định danh theo Việt Nam
Con người
  • Nhân khẩu Việt Nam
  • Đặc điểm
  • Người Việt
  • Việt kiều
  • Dân tộc
  • Ngôn ngữ
  • Tôn giáo
  • Nhân quyền (LGBT)
  • Tên người (họ)
Văn hóa
Di sản thế giớitại Việt Nam
  • Quần thể di tích Cố đô Huế
  • Phố cổ Hội An
  • Thánh địa Mỹ Sơn
  • Quần thể danh thắng Tràng An
  • Hoàng thành Thăng Long
  • Thành nhà Hồ
Di sản phi vật thểtại Việt Nam
  • Kéo co
  • Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh
  • Đờn ca tài tử Nam Bộ
  • Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
  • Hát xoan
  • Hội Gióng
  • Ca trù
  • Quan họ
  • Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
  • Nhã nhạc cung đình Huế
  • Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam
  • Bài chòi
Di sản tư liệu thế giới
  • Mộc bản triều Nguyễn
  • Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long
Âm nhạc
  • Nhã nhạc
  • Đàn bầu
  • Dân ca
  • Quan họ
  • Ca Huế
  • V-pop
Trang phục
  • Áo giao lĩnh
  • Áo dài
  • Áo tứ thân
  • Áo bà ba
Ẩm thực và đồ uống
  • Phở
  • Trà sen
  • Cà phê sữa đá
  • Bánh mì kẹp thịt
Mỹ thuật
  • Tranh Đông Hồ
  • Tranh Hàng Trống
  • Tranh lụa
  • Tranh sơn mài
  • Thư pháp chữ Việt
  • Gốm Bát Tràng
Sân khấu
  • Chèo
  • Tuồng
  • Cải lương
  • Rối nước
Biểu tượng và linh vật
  • Quốc kỳ
  • Quốc huy
  • Quốc ca
  • Biểu tượng không chính thức của Việt Nam

Từ khóa » đó Có Tên Là Gì