Thời kỳ Tăm tối Tái ion hóaThời kỳvật chất lấn átMở rộng gia tăngNước trên Trái ĐấtSự sống đơn bàoQuang hợpSự sốngđa bàoĐ.V. có xương sống
←
Vũ trụ sớm nhất
←
Ngôi sao sớm nhất
←
Thiên hà sớm nhất
←
Chuẩn tinh / Hố đen
←
Omega Centauri
←
Thiên hà Andromeda
←
Xoắn ốc Ngân Hà
←
Cụm sao NGC 188
←
Alpha Centauri
←
Trái Đất / Hệ Mặt trời
←
Sự sống sớm nhất
←
Oxy sớm nhất
←
Oxy khí quyển
←
Sinh sản hữu tính
←
Nấm sớm nhất
←
Động vật / cây cối sớm nhất
←
Vụ bùng nổ Cambri
←
Thú vật sớm nhất
←
Vượn người / người sớm nhất
Sống
(tỉ năm trước)
Thiên hà Tiên Nữ, hay tinh vân Tiên Nữ, thiên hà Andromeda và các tên như Messier 31, M31 hay NGC 224, là thiên hà xoắn ốc có vị trí biểu kiến thuộc chòm sao Tiên Nữ nằm ở bầu trời phía bắc gần chòm sao Phi Mã. Đây là thiên hà xoắn ốc gần dải Ngân Hà của chúng ta nhất, khoảng 2,5 triệu năm ánh sáng.[4]
Thiên hà Tiên Nữ từng được xem là thiên hà lớn nhất trong nhóm các thiên hà Địa Phương (Local Group), bao gồm thiên hà Tiên Nữ, dải Ngân Hà, thiên hà Triangulum (trong chòm sao Tam Giác) và khoảng 30 thiên hà nhỏ khác. Do những khám phá gần đây dựa trên các phương pháp đo lường tiên tiến và những dữ liệu mới, mà hiện tại các nhà khoa học tin rằng dải Ngân Hà chứa nhiều vật chất tối hơn thiên hà Tiên Nữ và có thể là thiên hà có khối lượng lớn nhất trong nhóm Địa Phương.[7] Tuy nhiên, những quan sát gần đây của kính viễn vọng không gian Spitzer lại cho thấy rằng M31 chứa khoảng một ngàn tỉ (1012) sao, vượt xa con số các vì sao trong dải Ngân Hà.[8] Các ước tính vào năm 2006 cho thấy khối lượng của dải Ngân Hà vào khoảng ~80% khối lượng của thiên hà Tiên Nữ, tức là khoảng 7,1×1011 lần khối lượng Mặt Trời.[3]
Chúng ta có thể nhìn thấy thiên hà Tiên Nữ một cách dễ dàng bằng mắt thường trên bầu trời của những khu vực thưa dân cư vốn ít bị ô nhiễm bởi khói bụi và ánh sáng như ở các thành phố. M31 trông sẽ khá nhỏ dưới mắt thường bởi vì chỉ có phần lõi thiên hà là đủ sáng để có thể nhìn thấy, nhưng thực tế thì đường kính góc của cả thiên hà gấp 7 lần Mặt Trăng tròn. M31 được xem là thiên thể xa nhất có thể nhìn thấy được bằng mắt thường sau thiên hà Triangulum.
Trong Nhóm Địa Phương, thiên hà Tiên Nữ là thiên hà lớn nhất, ngoài ra có Ngân Hà lớn thứ hai còn thiên hà Triangulum lớn thứ ba.
Lịch sử quan sát
[sửa | sửa mã nguồn]
Quan sát sớm nhất từng được ghi nhận về thiên hà Tiên Nữ là vào năm 905 của nhà thiên văn học người Ba Tư Abd Al-Rahman Al Sufi,[9] người đã mô tả M31 như là một "đám mây nhỏ", và các bản đồ sao thời kỳ đó đều gọi M31 như thế.[9] Simon Marius vào năm 1612 đã cung cấp những thông tin đầu tiên về thiên hà Tiên Nữ dựa vào các quan sát thông qua kính viễn vọng của mình.[9] Năm 1764, Charles Messier đã đưa Andromeda vào danh lục của ông với tên gọi M31 và xem Simon Marius như là người khám phá ra Tiên Nữ thay vì Al Sufi.
Năm 1785, nhà thiên văn học William Herschel phát hiện một đốm mờ màu đỏ ở tâm của M31. Ông đã cho rằng đó chính là tinh vân gần nhất trong số các "Đại tinh vân", và dựa vào màu sắc và độ lớn của "tinh vân", ông đã tính sai vị trí của M31 và cho rằng Trái Đất chỉ cách nó một khoảng cách gấp 2000 lần khoảng cách tới sao Thiên Lang (Sirius).[10]
William Huggins vào năm 1864 đã quan sát quang phổ của Tiên Nữ và phát hiện ra rằng nó khác với quang phổ của một tinh vân bình thường vốn chứa đầy khí.[11] Quang phổ của Tiên Nữ là một dải liên tục các tần số, kết thúc với các dải màu đen. Điều này rất giống với quang phổ của một ngôi sao, do đó Huggins đã suy luận ra rằng thiên hà Tiên Nữ có bản chất của một vì sao.
Năm 1885, người ta phát hiện một siêu tân tinh (hiện nay được đặt tên là "S Andromedae") trong thiên hà Tiên Nữ, đây là siêu tân tinh đầu tiên và duy nhất từng được phát hiện trong thiên hà này. Vào lúc đó, S Andromedae bị cho là một tân tinh, một hiện tượng hoàn toàn không liên quan đến một siêu tân tinh và mờ hơn nhiều, và do đó nó được đặt tên là Nova 1885.
Hình chụp Tinh vân Tiên Nữ của Isaac Roberts.
Những hình ảnh đầu tiên về thiên hà Tiên Nữ được Isaac Roberts tại đài thiên văn riêng của ông ở Sussex (Anh) chụp vào năm 1887. Và cấu trúc xoắn ốc của M31 lần đầu tiên được phát hiện.[12] Tuy nhiên, vào thời điểm đó thiên thể này vẫn còn được xem là một tinh vân trong thiên hà của chúng ta, và Roberts đã cho rằng M31 và những tinh vân xoắn ốc khác là những đĩa tiền hành tinh đang hình thành.
Thiên hà này đang tiến về dải Ngân Hà của chúng ta với vận tốc khoảng 300 km/giây (186 dặm/giây). Vận tốc này được Vesto Slipher đo vào năm 1912 tại đài thiên văn Lowell bằng quang phổ học. Đó là vận tốc lớn nhất từng được biết đến thời bấy giờ.[13]
Ốc đảo vũ trụ
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1917, Heber Curtis đã quan sát một tân tinh trong M31. Sau khi tìm kiếm những hình ảnh lưu trữ về Andromeda, Curtis đã khám phá ra thêm 11 tân tinh khác. Ông thấy rằng cấp sao biểu kiến của những tân tinh này thấp hơn 10 lần so với những tân tinh trong dải Ngân Hà. Do đó ông đã cho rằng Andromeda cách chúng ta khoảng 500.000 năm ánh sáng. Ông cũng trở thành người đề xuất thuyết gọi là "ốc đảo vũ trụ" cho rằng các tinh vân xoắn ốc thực chất chính là những thiên hà độc lập. Và thực tế đã chứng minh điều đó là đúng.[14]
Vào năm 1920 cuộc Tranh Cãi Lớn diễn ra giữa Harlow Shapley và Heber Curtis liên quan tới bản chất của dải Ngân Hà, các tinh vân xoắn ốc, và các chiều của vũ trụ. Để minh chứng cho lý thuyết của mình rằng M31 thực chất là một thiên hà, Curtis đã dẫn chứng về các dải tối trong quang phổ của M31 rất giống với quang phổ của các đám mây khí trong thiên hà của chúng ta, cùng với dịch chuyển Doppler đáng kể.
Edwin Hubble kết thúc cuộc tranh cãi vào năm 1925 khi ông lần đầu tiên xác định được các sao biến quang Cepheid trong M31, và đồng thời cũng giúp xác định được khoảng cách tới thiên hà này. Những hình ảnh của các sao biến quang này được chụp nhờ vào một kính viễn vọng phản xạ đường kính 2,5 m. Các đo đạc của ông cho phép kết luận rằng M31 không phải là một cụm sao và khí trong dải Ngân Hà mà là một thiên hà độc lập cách chúng ta rất xa.[15]
Andromeda đóng một vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu thiên hà (xem thêm thiên văn học thiên hà), vì đây là thiên hà xoắn ốc lớn gần chúng ta nhất (mặc dù không phải là thiên hà gần nhất). Vào năm 1943, Walter Baade là người đầu tiên phân loại các ngôi sao tại phần trung tâm của thiên hà Andromeda. Dựa vào những quan sát của mình, ông đã phân thành hai nhóm sao khác biệt, với những ngôi sao trẻ có vận tốc lớn ở phần đĩa ngoài là sao Nhóm I và các sao già màu đỏ ở khối phồng trung tâm là Nhóm II. Cách đặt tên này sau đó được áp dụng để phân loại các ngôi sao trong dải Ngân Hà cũng như những thiên hà khác trong vũ trụ (Trước đó, Jan Oort cũng đã nhắc đến sự tồn tại của hai nhóm sao này.)[16]. Tiến sĩ Baade cũng khám phá ra các sao biến quang Cepheid cũng có hai nhóm, dẫn đến việc nhân đôi khoảng cách đã ước tính đến M31 cũng như phần còn lại của vũ trụ.
Những bản đồ vô tuyến đầu tiên của thiên hà Andromeda do John Baldwin và các cộng sự trong nhóm thiên văn vô tuyến Cambridge tạo ra vào thập niên 1950. Nhân thiên hà Andromeda được đặt tên là 2C 56 trong cuốn mục lục Cambridge thứ hai về các nguồn sóng vô tuyến (2C).
Vùng tâm của thiên hà M31 hiện được cho là có tập trung nhiều lỗ đen xung quanh lỗ đen siêu khổng lồ ở tâm.[17]
Thông tin sơ lược
[sửa | sửa mã nguồn]
Thiên hà Tiên Nữ đang tiến đến Mặt Trời với vận tốc khoảng 300 km/s (186 dặm/s), do đó đây là một trong số ít các thiên hà có dịch chuyển xanh. Khi tính đến chuyển động của hệ Mặt Trời trong dải Ngân Hà, người ta thấy rằng thiên hà Tiên Nữ và dải Ngân Hà đang tiến về nhau với vận tốc khoảng 100 đến 140 km/s (62-87 dặm/s).[18] Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là M31 chắc chắn sẽ va chạm với dải Ngân Hà, vì các nhà khoa học vẫn chưa đo được vận tốc tiếp tuyến của thiên hà này. Nếu cả hai thiên hà đang trên đường va chạm với nhau, thì sự kiện này được dự đoán là sẽ diễn ra sau khoảng 3 tỉ năm nữa. Trong trường hợp đó thì 2 thiên hà rất có thể sẽ hợp thành một thiên hà elip khổng lồ,[19] được một số nhà khoa học đặt tên là Milkomeda. Những sự kiện như thế này rất thường xảy ra trong các nhóm thiên hà.
Khoảng cách đến M31 được nhân đôi sau khi Walter Baade khám phá ra một loại sao biến quang Cepheid khác, mờ hơn bình thường vào năm 1953. Vào thập niên 1990, các dữ liệu của vệ tinh Hipparcos được dùng để xác định khoảng cách của các Cepheid. Các giá trị được chỉnh sửa cho thấy Andromeda cách chúng ta 2,9 triệu năm ánh sáng. Không may là tất cả các Cepheid đều nằm xa hơn khoảng cách mà Hipparcos có thể đo một cách chính xác, do đó dữ liệu về các Cepheid của Hipparcos chưa có đủ độ tin cậy cần thiết.
Thiên hà Andromeda, ảnh chụp tử ngoại của GALEX Xem thêm: Va chạm giữa thiên hà Andromeda và Ngân Hà
Khoảng cách ước tính gần đây
[sửa | sửa mã nguồn]
Đã có ít nhất 4 phương pháp khác nhau được dùng để xác định khoảng cách đến M31.
Năm 2003, thông qua các dữ liệu về dao động ánh sáng hồng ngoại bề mặt (infrared surface brightness fluctuations (I-SBF)) và điều chỉnh cho phù hợp với các dữ liệu mới năm 2001 về mối quan hệ chu kì-độ sáng các sao biến quang của Freedman và một số nhà khoa học khác, cùng với việc hiệu chỉnh -0,2 độ kim loại (O/H), cho ra một khoảng cách 2,57 ± 0,06 triệu năm ánh sáng (787 ± 18 kpc).
Sau đó, vào năm 2004, bằng phương pháp đo các sao biến quang Cepheid, người ta đo được một khoảng cách bằng 2,51 ± 0,13 triệu năm ánh sáng (770 ± 40 kpc).[2][3]
Năm 2005, một nhóm các nhà khoa học gồm có Ignasi Ribas (CSIC, IEEC) và các cộng sự tuyên bố phát hiện một sao đôi che nhau trong thiên hà Andromeda. Sao đôi này được đặt tên là M31VJ00443799+4129236[c], bao gồm 2 ngôi sao sáng màu xanh thuộc loại O và B. Bằng cách nghiên cứu sự giao nhau của 2 ngôi sao, xảy ra mỗi 3,54969 ngày, các nhà thiên văn đã có thể đo được kích thước của chúng. Khi đã biết được kích thước và nhiệt độ của 2 ngôi sao, thì cấp sao tuyệt đối của chúng cũng được xác định. Và khi biết được cấp sao tuyệt đối và cấp sao biểu kiến, thì việc xác định khoảng cách chỉ còn là vấn đề thời gian. Khoảng cách từ hai ngôi sao này đến dải Ngân Hà là khoảng 2,52 ± 0,14 triệu năm ánh sáng (770 ± 40 kpc) và toàn bộ thiên hà Andromeda cách khoảng 2,5 triệu năm ánh sáng.[4] Con số này rất gần với khoảng cách đo được bằng phương pháp đo các sao biến quang Cepheid trước đó.
Do thiên hà Andromeda cách chúng ta khá gần, nên các nhà khoa học cũng có thể sử dụng phương pháp "Tip of the Red Giant Branch" (TRGB) để dự đoán khoảng cách. Khoảng cách của M31 đo được bằng phương pháp này năm 2005 là 2,56 ± 0,08 triệu năm ánh sáng (785 ± 25 kpc).[5]
Khi tính trung bình tất cả các khoảng cách đó, ta có được con số 2,54 ± 0,06 triệu năm ánh sáng (778 ± 17 kpc)[a].
Dựa vào khoảng cách trên, đường kính của M31 tại điểm rộng nhất là khoảng 141 ± 3 ngàn năm ánh sáng[d].
Hình ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]
M31 nhìn qua kính viễn vọng nhỏ.
Hình chụp nhân thiên hà Andromeda của Kính viễn vọng Hubble (HST) cho thấy có thể có hai cấu trúc bên trong nhân. NASA/ESA.
Thiên hà Andromeda chụp bằng tia hồng ngoại bởi Kính viễn vọng không gian Spitzer của NASA.
Thiên hà Andromeda (M31) do Spitzer chụp qua tia hồng ngoại, 24 micrômét
^ abcdef"NASA/IPAC Extragalactic Database". Results for Messier 31. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2006.
^ abI. D. Karachentsev, V. E. Karachentseva, W. K. Hutchmeier, D. I. Makarov (2004). "A Catalog of Neighboring Galaxies". Astronomical Journal. Quyển 127. tr. 2031–2068.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
^ abcKarachentsev I. D.; Kashibadze O. G. (2006). "Masses of the local group and of the M81 group estimated from distortions in the local velocity field". Astrophysics. Quyển 49 số 1. tr. 3–18.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
^ abcdI. Ribas, C. Jordi, F. Vilardell, E.L. Fitzpatrick, R.W. Hilditch, F. Edward (2005). "First Determination of the Distance and Fundamental Properties of an Eclipsing Binary in the Andromeda Galaxy". Astrophysical Journal. Quyển 635. tr. L37 –L40.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
^ abMcConnachie A. W.; Irwin M. J.; Ferguson A. M. N.; Ibata R. A.; Lewis G. F.; Tanvir N. (2005). "Distances and metallicities for 17 Local Group galaxies". Monthly Notices of the Royal Astronomical Society. Quyển 356 số 4. tr. 979–997.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
^ Jensen Joseph B.; Tonry John L.; Barris Brian J.; Thompson Rodger I.; Liu Michael C.; Rieke Marcia J.; Ajhar Edward A.; Blakeslee John P. (tháng 2 năm 2003). "Measuring Distances and Probing the Unresolved Stellar Populations of Galaxies Using Infrared Surface Brightness Fluctuations". Astrophysical Journal. Quyển 583 số 2. tr. 712–726.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngày tháng và năm (liên kết) Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
^ "Dark matter comes out of the cold". BBC News. ngày 5 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2006.
^ Young, Kelly (ngày 6 tháng 6 năm 2006). "Andromeda galaxy hosts a trillion stars" (bằng tiếng Anh). NewScientistSpace. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2006.
^ abcThe Night Sky Observer's Guide, Volume 1. Willmann-Bell, Inc. 1998. tr. 18. ISBN 0-943396-58-1. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |authors= (trợ giúp)
^ W. Herschel (1785). "On the Construction of the Heavens". Philosophical Transactions of the Royal Society of London. Quyển 75. tr. 213–266.
^ William Huggins (1864). "On the Spectra of Some of the Nebulae". Philosophical Transactions of the Royal Society of London. Quyển 154. tr. 437–444.
^ Roberts, Isaac (1899). A Selection of Photographs of Stars, Star-clusters and Nebulae, Vol. II. London: The Universal Press.
^ V.M. Slipher (1913). "The Radial Velocity of the Andromeda Nebula". Lowell Observatory Bulletin. Quyển 1. tr. 2.56 –2.57.
^ Heber D. Curtis (1/1988). "Novae in Spiral Nebulae and the Island Universe Theory". Publications of the Astronomical Society of the Pacific. Quyển 100. tr. 6. {{Chú thích tạp chí}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |year= (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “http://adsabs.harvard.edu/abs/1988PASP..100....6C” (trợ giúp)Quản lý CS1: năm (liên kết)
^ E. P. Hubble (1929). "A spiral nebula as a stellar system, Messier 31". Astrophysical JournalEngl. Quyển 69. tr. 103–158.
^ W. Baade (1944). "The Resolution of Messier 32, NGC 205, and the Central Region of the Andromeda Nebula". Astrophysical Journal. Quyển 100. tr. 137.
^ M31: Black Hole Bonanza Turns up in Galaxy Next Door 12/6/2013
^ Malik, Tariq (ngày 7 tháng 5 năm 2002). "Crash Course: Simulating the Fate of Our Milky Way" (bằng tiếng Anh). SPACE.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2006.
^ John Dubinski, Đại học Toronto. "A Collision Between The Milky Way And The Andromeda Galaxy". Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2006.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Thiên hà Tiên Nữ.
Cổng thông tin Thiên văn học
Thiên hà Tiên Nữ trên WikiSky: DSS2, SDSS, IRAS, Hydrogen α, X-Ray, Astrophoto, Sky Map, Bài viết và hình ảnh
StarDate: M31 Fact Sheet
Messier 31, SEDS Messier pages
Astronomy Picture of the Day
A Giant Globular Cluster in M31 1998 October 17.
M31: The Andromeda Galaxy 2004 July 18.
Andromeda Island Universe 2005 December 22.
Andromeda Island Universe 2010 January 9.
WISE Infrared Andromeda 2010 February 19
M31 and its central Nuclear Spiral
Amateur photography – M31
Globular Clusters in M31 at The Curdridge Observatory
First direct distance to Andromeda − Astronomy magazine article
Andromeda Galaxy Lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2010 tại Wayback Machine at SolStation.com
Andromeda Galaxy at The Encyclopedia of Astrobiology, Astronomy, & Spaceflight
M31, the Andromeda Galaxy Lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2010 tại Wayback Machine at NightSkyInfo.com
Than, Ker (ngày 23 tháng 1 năm 2006). "Strange Setup: Andromeda's Satellite Galaxies All Lined Up". Space.com.
Hubble Finds Mysterious Disk of Blue Stars Around Black Hole Hubble observations (ngày 20 tháng 9 năm 2005) put the mass of the Andromeda core black hole at 140 million solar masses
APOD – 2013 August 1 (M31's angular size compared with full Moon)
Hubble's High-Definition Panoramic View of the Andromeda Galaxy
NationalGeographic.com video of the Hubble High-Definition Panoramic View of the Andromeda Galaxy Lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2017 tại Wayback Machine
Bài viết liên quan đến thiên hà này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.
x
t
s
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn
Quốc tế
VIAF
GND
FAST
Quốc gia
Hoa Kỳ
Nhật Bản
Israel
Khác
Encyclopedia of Modern Ukraine
Yale LUX
x
t
s
Thiên hà Tiên Nữ
Vị trí
Thiên hà Tiên Nữ→Phân nhóm Tiên Nữ→ Nhóm Địa phương → Local Sheet → Siêu đám Xử Nữ → Siêu đám Laniakea → Vũ trụ quan sát được → Vũ trụMỗi → có thể được hiểu là "nằm bên trong" hoặc "là một phần của".
Thiên hà vệ tinh
M32
M110
NGC 185
NGC 147
Andromeda I
Andromeda II
Andromeda III
Andromeda IV*
Andromeda V
Andromeda VI
Andromeda VII
Andromeda VIII
Andromeda IX
Andromeda X
Andromeda XI
Andromeda XII
Andromeda XIII
Andromeda XIV
Andromeda XV
Andromeda XVI
Andromeda XVII
Andromeda XVIII
Andromeda XIX
Andromeda XX
Andromeda XXI
Andromeda XXII
Andromeda XXIII
Andromeda XXIV
Andromeda XXV
Andromeda XXVI
Andromeda XXVII
Andromeda XXVIII
Andromeda XXIX
Thiên hà Tam Giác**không chắc chắn
Danh mục sao
AE Andromedae
M31-RV
Khác
Va chạm giữa thiên hà Tiên Nữ và Ngân Hà
S Andromedae
Mayall II
M32p
NGC 206
AE Andromedae
Thế loại
x
t
s
Chòm sao Tiên Nữ
Sao
Bayer
α
β
γ
δ
ε
ζ
η
θ
ι
κ
λ
μ
ν
ξ
ο
π
ρ
σ
τ
υ
φ
χ
ψ
ω
Flamsteed
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
18
22
23
26
28
32
36
39
41
44
45
47
49
51
55
56
58
59
60
62
63
64
65
66
Biến quang
R
T
U
W
Z
RT
RU
RV
RX
SU
SW
TU
TW
WZ
XZ
AB
AC
AD
AE
AR
BM
BX
CC
CN
DS
DX
EG
ET
EU
FF
GP
GR
GY
HN
KK
KX
KZ
LL
LP
LQ
OP
OS
OU
PX
QR
QV
QX
V385
V455
V529
HD
3
166
895
1185
1606
2421
2767
2942
3322
3346
4778
5608
5789/5788
6114
7853
8673
10307
13931
14622
15082
16004
16028
16175
217811
220105
221246
221776
222109
222155
222399
223229
224365
224801
225218
Khác
3XMM J004232.1+411314
6 Persei
ADS 48
Groombridge 34
HAT-P-6
HAT-P-16
HAT-P-19
HR 178
HR 8768
M31-RV
NGC 44
NGC 82
NGC 84
NGC 91
NGC 162
NGC 464
PA-99-N2
Ross 248
WASP-1
WISE 0146+4234
WISE J0005+3737
WISE J004945.61+215120.0
Ngoại hành tinh
14 Andromedae b
Upsilon Andromedae b
c
d
e
Gliese 15 Ab
HD 13931 b
HD 16175 b
HAT-P-6b
HAT-P-32b
WASP-1b
WASP-33b
Quần tinh
Cụm sao mở
NGC 272
NGC 752
NGC 956
NGC 7686
Cụm sao cầu
Mayall II
Khác
NGC 206
Tinh vân
NGC 7662
Thiên hà
NGC
5
6
11
13
19
20
21
27
29
39
43
48
49
51
67
68
69
70
71
72
74
76
79
80
81
83
85
86
90
93
94
96
97
108
109
112
140
149
160
169
181
183
184
214
218
226
228
229
233
243
252
258
260
262
280
304
317
389
393
404
425
431
477
478
512
513
523
528
531
536
668
679
687
700
703
704
705
708
709
710
712
714
717
732
753
759
891
1000
7640
7836
Đánh số
I
II
III
IV
V
VIII
IX
X
XI
XVIII
XIX
XXI
Khác
3C 66A
3C 66B
Thiên hà Tiên Nữ
Donatiello I
Messier 32
Messier 110
Quần tụ thiên hà
Abell 262
Nhóm NGC 68
Sự kiện thiên văn
GRB 101225A
SN 1885A
Khác
GRB 050824
SN 1885A
Thể loại
x
t
s
Ngân Hà
Vị trí
Ngân Hà → Nhóm con Ngân hà → Nhóm Địa phương → Local Sheet → Siêu đám Xử Nữ → Siêu đám Laniakea → Vũ trụ quan sát được → Vũ trụMỗi mũi tên (→) có thể được hiểu là "nằm bên trong" hoặc "là một phần của".
Cấu trúc
Tâm Ngân Hà
Nhân Mã A
Nhân Mã A*
Lỗ đen siêu khối lượng
Đĩa
Thuyền Để–Nhân Mã
Củ Xích–Thiên Nga
Lạp Hộ–Thiên Nga
Anh Tiên
Thuẫn Bài–Bán Nhân Mã
Near 3 kpc Arm
Far 3 kpc Arm
Quầng
Aquarius Stream
Fimbulthul stream
Gaia Sausage
Helmi stream
Magellanic Stream
Monoceros Ring
Palomar 5 stream
Pisces-Eridanus stream
Sagittarius Stream
Virgo Stream
Thiên hà vệ tinh
Mây Magellan
Đám mây Magellan Lớn
Đám Mây Magellan Nhỏ
Dòng Magellan
Cầu Magellan
Phỏng cầuNhân Mã
Dòng Nhân Mã
Mục Phu II
Hậu Phát
Messier 54
Palomar 12
Segue 1
Segue 2
Terzan 7
Thiên hà lùn
Tức Đồng II
Mục Phu I
Mục Phu II
Mục Phu III
Lạp Khuyển I
Lạp Khuyển II
Đại Khuyển
Thuyền Để
Hậu Phát
Cự Tước II
Thiên Long
Ba Giang II
Thiên Lô
Vũ Tiên
Sư Tử I
Sư Tử II
Sư Tử IV
Sư Tử V
Sư Tử T
Phượng Hoàng
Song Ngư I
Song Ngư II
Võng Cổ II
Phỏng cầu Nhân Mã
Segue 1
Segue 2
Ngọc Phu
Lục Phân Nghi
Tam Giác II
Đại Hùng I
Đại Hùng II
Tiểu Hùng
Willman 1
Khác
Xúc xích Gaia
Vòng Kỳ Lân
Dòng Thất Nữ
Koposov I
Koposov II
Segue 3
Liên quan
Va chạm giữa thiên hà Tiên Nữ và Ngân Hà
Cửa sổ Baade
Vùng che khuất
Thể loại
Thiên văn học
x
t
s
Thiên thể Messier
Danh sách
M1
M2
M3
M4
M5
M6
M7
M8
M9
M10
M11
M12
M13
M14
M15
M16
|M17
M18
M19
M20
M21
M22
M23
M24
M25
M26
M27
M28
M29
M30
M31
M32
M33
M34
M35
M36
M37
M38
M39
M40
M41
M42
M43
M44
M45
M46
M47
M48
M49
M50
M51
M52
M53
M54
M55
M56
M57
M58
M59
M60
M61
M62
M63
M64
M65
M66
M67
M68
M69
M70
M71
M72
M73
M74
M75
M76
M77
M78
M79
M80
M81
M82
M83
M84
M85
M86
M87
M88
M89
M90
M91
M92
M93
M94
M95
M96
M97
M98
M99
M100
M101
M102
M103
Thêm
M104
M105
M106
M107
M108
M109
M110
Xem thêm
Danh lục Caldwell
Catalogue of Nebulae and Clusters of Stars
Herschel 400 Catalogue
Index Catalogue
Thiên thể NGC
Revised New General Catalogue
Thể loại
Hình ảnh
Cổng thông tin
x
t
s
Thiên thể NGC 1 đến 499
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54
55
56
57
58
59
60
61
62
63
64
65
66
67
68
69
70
71
72
73
74
75
76
77
78
79
80
81
82
83
84
85
86
87
88
89
90
91
92
93
94
95
96
97
98
99
100
101
102
103
104
105
106
107
108
109
110
111
112
113
114
115
116
117
118
119
120
121
122
123
124
125
126
127
128
129
130
131
132
133
134
135
136
137
138
139
140
141
142
143
144
145
146
147
148
149
150
151
152
153
154
155
156
157
158
159
160
161
162
163
164
165
166
167
168
169
170
171
172
173
174
175
176
177
178
179
180
181
182
183
184
185
186
187
188
189
190
191
192
193
194
195
196
197
198
199
200
201
202
203
204
205
206
207
208
209
210
211
212
213
214
215
216
217
218
219
220
221
222
223
224
225
226
227
228
229
230
231
232
233
234
235
236
237
238
239
240
241
242
243
244
245
246
247
248
249
250
251
252
253
254
255
256
257
258
259
260
261
262
263
264
265
266
267
268
269
270
271
272
273
274
275
276
277
278
279
280
281
282
283
284
285
286
287
288
289
290
291
292
293
294
295
296
297
298
299
300
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
313
314
315
316
317
318
319
320
321
322
323
324
325
326
327
328
329
330
331
332
333
334
335
336
337
338
339
340
341
342
343
344
345
346
347
348
349
350
351
352
353
354
355
356
357
358
359
360
361
362
363
364
365
366
367
368
369
370
371
372
373
374
375
376
377
378
379
380
381
382
383
384
385
386
387
388
389
390
391
392
393
394
395
396
397
398
399
400
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412
413
414
415
416
417
418
419
420
421
422
423
424
425
426
427
428
429
430
431
432
433
434
435
436
437
438
439
440
441
442
443
444
445
446
447
448
449
450
451
452
453
454
455
456
457
458
459
460
461
462
463
464
465
466
467
468
469
470
471
472
473
474
475
476
477
478
479
480
481
482
483
484
485
486
487
488
489
490
491
492
493
494
495
496
497
498
499
Cổng thông tin:Thiên văn học
Danh sách thiên thể NGC
x
t
s
Các thiên thể NGC 201-300
NGC 201 • NGC 202 • NGC 203 • NGC 204 • NGC 205 • NGC 206 • NGC 207 • NGC 208 • NGC 209 • NGC 210 • NGC 211 • NGC 212 • NGC 213 • NGC 214 • NGC 215 • NGC 216 • NGC 217 • NGC 218 • NGC 219 • NGC 220 • NGC 221 • NGC 222 • NGC 223 • NGC 224 • NGC 225 • NGC 226 • NGC 227 • NGC 228 • NGC 229 • NGC 230 • NGC 231 • NGC 232 • NGC 233 • NGC 234 • NGC 235 • NGC 236 • NGC 237 • NGC 238 • NGC 239 • NGC 240 • NGC 241 • NGC 242 • NGC 243 • NGC 244 • NGC 245 • NGC 246 • NGC 247 • NGC 248 • NGC 249 • NGC 250 • NGC 251 • NGC 252 • NGC 253 • NGC 254 • NGC 255 • NGC 256 • NGC 257 • NGC 258 • NGC 259 • NGC 260 • NGC 261 • NGC 262 • NGC 263 • NGC 264 • NGC 265 • NGC 266 • NGC 267 • NGC 268 • NGC 269 • NGC 270 • NGC 271 • NGC 272 • NGC 273 • NGC 274 • NGC 275 • NGC 276 • NGC 277 • NGC 278 • NGC 279 • NGC 280 • NGC 281 • NGC 282 • NGC 283 • NGC 284 • NGC 285 • NGC 286 • NGC 287 • NGC 288 • NGC 289 • NGC 290 • NGC 291 • NGC 292 • NGC 293 • NGC 294 • NGC 295 • NGC 296 • NGC 297 • NGC 298 • NGC 299 • NGC 300
Xem thêm: Cụm sao cầu • Chòm sao • Thiên hà • Danh sách thiên hà • Tinh vân