Thơ Về Cổ Loa, An Dương Vương Và Mỵ Châu – Trọng Thủy

Thơ về Cổ Loa, An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thủy

Tháng Mười Hai 9, 2011 at 1:43 sáng 35 bình luận

nothan7_kienthucBạn đã đọc bài trước phân tích về Truyền thuyết An Dương Vương và mối tình oan trái Mỵ Châu –Trọng Thủy. Vậy xin mời bạn thưởng thức một số áng văn thơ đề cập đến truyền thuyết này do Phan Duy Kha sưu tầm và giới thiệu.

*

THƠ CHỮ HÁN

Vũ Phạm Hàm

Lân bảng phi thân tế bất sàn

Quân vương dung dị ngộ hồng nhan

Tồn vong mịnh hệ Linh quang nỗ

Sinh tử hồn y Mộ Dạ sơn

Nam hải yên đào châu tích lệ

Bắc lâm phong vũ thạnh thành ban

Chí kim từ vũ lân nguyên miếu

Nguyệt xuất do văn hưởng bội hoàn.

Dịch thơ:

Người thân thích ít, rể khôn lường

Lầm lỡ má hồng bởi phụ vương

Sống chết hồn nương đồi Mộ Dạ

Mất còn mệnh hệ nỏ Linh quang

Bể Nam khói sóng châu hoen lệ

Rừng Bắc phong sương đá lổ loang

Đền miếu tới nay bên điện cũ

Trăng lên khánh ngọc vẫn còn vang.

Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ dịch

*

Lê Huy Phan

Vận tiếp Hồng Bàng thái cổ thiên

Dư đồ vạn lý Thục sơn xuyên

Loa thành nhân hiểm nan di đỉnh

Quy nỗ thần cơ bất cập tiên

Giao cách sự phi do nữ tế

Hưng vong số hữu định thần tiên

Linh phong mỹ tích kim trường tại

Sử luận hoang đường khủng vị nhiên.

Dịch thơ:

Kế tiếp Hồng Bàng vận tại thiên

Nước non vạn dặm đất Thục liền

Loa Thành hiểm yếu đâu thần phục

Móng rùa thần nỗ lắm cái phiền

Sự việc xưa kia do ai nhỉ ?

Hưng vong số định bởi thần tiên

Khí thiêng dấu cũ nay còn đó

Sử luận hoang đường quả dĩ nhiên.

*

Vũ Tuân

Đương dương vạn mã đảo thành âm

Nam hải văn tê bạch trú trầm

Quy trảo dĩ tùy khinh bạc tế

Nga mao thụy lượng nữ nhị tâm

Hà sơn hữu lệ minh châu kết

Oan trái nan điền cổ tỉnh thâm

Đôn phách trinh hồn chung bất tử

Quế kỳ phong vũ dạ tiêu sâm.

Dịch thơ:

Ngựa lướt vầng dương thành sẩm tối

Sừng tê rẽ nước giữa ban ngày

Móng rùa mưu rể đem đi mất

Lông ngỗng lòng con ai biết đây

Sông núi lệ tuôn trai ngọc kết

Oan khiên khôn lấp giếng xưa đầy

Phách hồn trinh trắng còn không mất

Cờ quế đêm mưa gió lắt lay.

Nguyễn Huệ Chi dịch

*

Bùi Phu Kinh

(Họa bài thơ của Vũ Phạm Hàm)

Ông thị hiền vương vị thị sàn

Gian hùng nữ tế thái vô nhan

Thiếp tư báo đức đồng thiên địa

Lang nhẫn vong tình phụ hải san

Quy nỗ thu quang sơn tuyệt mộ,

Bạng châu sải lệ tỉnh lưu ban

Đội lân tịch mịch đình biên miếu

Dạ nguyệt thê lương cổ lũy hoàn

Dịch thơ:

Nhạc phụ vua hiền đâu phải dại

Gian hùng chàng rể quá vô tình

Thiếp mong báo đức ngang trời đất

Chàng nỡ quên ơn phụ thệ minh

Nỏ báu mất thiêng non vắng mộ

Hạt trai tưới lệ giếng lưu hình

Bên đình tòa miếu thiêng mờ mịt

Lạnh lẽo trăng đêm quyện cổ thành.

Nguyễn Huệ Chi dịch

*

Chu Mạnh Trinh

Lang quân tình trọng, phụ ân thâm

Bất bạch kỳ oan, hận đáo câm

Trường trảo vô linh quy diệc khứ

Minh châu hữu lệ bạng do trầm

Hoang bi cổ mộc thiên niên quốc

Bích hải thanh thiên nhất phiến tâm

Tịch mịch An Dương cung ngoại miếu

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt âm âm.

Dịch thơ:

Tình chàng dù nặng , nghĩa cha sâu

Ôm ấp oan kia đến tận đâu.

Nỏ thiếu móng thiêng, rùa lẩn bóng

Trai chìm đáy nước , lệ hoen châu.

Bia mòn cây cỗi, ngàn thu hận

Bể biếc trời xa một mối sầu.

Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt

Trăng mờ khắc khoải cuốc kêu thâu.

Nguyễn Tường Phượng dịch.

*

Sở Cuồng Lê Dư

Vịnh An Dương Vương

Ngã nguyên vô trá, nhĩ vô ngu

Vị giám tiền xa thỉ nữ ngô

Chỉ niệm bắc nam đôn quốc hảo

Thục tri tế tử sính gian đồ

Hà sơn đa cố quy vô trảo

Cốt nhục thương tâm bạng hữu châu

Hoa miếu thiên thu công luận tại

Tín trung trường thống nữ vô cô.

Dịch nghĩa: Ta không dối người mà cũng không phòng bị

Làm cái gương xe đổ về việc gả con sang Tàu

Chỉ muốn bắc nam được thuận hòa

Đâu ngờ rẻ kia là kẻ gian tế

Non sông mấy đỗi rùa không móng

Cốt nhục đau lòng trai ngậm châu

Công luận ngàn năm còn vẳng bên miếu

Con gái thành thật không lỗi lầm mà phải mang nỗi xót xa này.

Vịnh Mỵ Châu công chúa

Thâm cung sinh trưởng quán kiều si

Thế thái ba đào kỷ đắc tri

Kỳ vị ái ân nghi tế thiểu

Cánh giao trung tín bỉ lang khi

Châu trầm ngọc vẫn tâm câu toái

Quốc phá gia phong hối diệc trì

Thiên cổ Loa Thành di hận tại

Hồn oanh hoa biểu hạt thăng bi.

Dịch nghĩa: Nàng ngây thơ lớn lên trong cung cấm

Việc đời lắm sóng gió làm sao mà biết được

Vui vẻ ái ân nào có để dạ nghi chồng

Bởi quá thật thà mà bị lừa dối

Châu chìm ngọc rơi cõi lòng tan nát

Nước mất nhà tan hối có kịp đâu

Loa Thành ngàn năm còn vương nỗi hận

Hồn vấn vương bia mộ, sầu kể sao nguôi.

( Hai bài thơ của Sở Cuồng Lê Dư chỉ mới thấy dịch nghĩa, chưa tìm thấy bản dịch thơ, tạm bằng lòng vậy)

*

nothan10_kienthuc

THƠ QUỐC ÂM

Thành Cổ Loa

Thành quách còn mang tiếng Cổ Loa

Trải bao gió táp với mưa sa

Nỏ thiêng hờ hững dây oan buộc

Giếng  Ngọc vơi đầy hạt lệ pha

Cây cỏ vẫn cười ai bạc mệnh

Cung đình chưa sạch bụi phồn hoa

Hưng vong biết chửa, người kim cổ

Tiếng cuốc năm canh bóng nguyệt tà.

Á Nam Trần Tuấn Khải

*

 Đề miếu Mỵ Châu

Một khối oan tình đập chửa tan

Nghìn thu hiu hắt khói hương tàn

Bia mòn rêu biếc, ngàn mây phủ

Nỏ đó người đâu giếng nước tràn

Tần Tấn bởi tin phường bạch nhãn

Việt Ngô để lụy khách hồng nhan

Cơ trời dâu bể vì ai đấy

Riêng mỗi thơ đào mắc tiếng oan.

Nguyễn Trung Khuyến

*

Loa Thành hoài cổ

Trông cảnh Tư Long luống ngậm ngùi

Nỏ rùa chuyện cũ, phải hay sai

Hình thành sao khéo xoay trôn ốc

Nước giếng nay còn sáng ngọc trai

Trừ bại ma gà nhờ có thuật

Mắc mưu lông ngỗng vị thương ai

Bể nam sóng gió mê đường ngựa

Đà cuống tin chi, hối chậm rồi.

Nguyễn Văn Đào

*

Mỵ Châu -Trọng Thủy

Một đôi kẻ Việt người Tần

Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương

Vuốt rùa chàng đổi máy

Lông ngỗng thiếp đưa đường

Thề nguyền phu phụ

Lòng nhi nữ

Việc quân vương

Nệm gấm vó câu

Trăm năm giọt lệ

Nghìn thu khói hương. . .

Tản Đà

*

Tâm sự

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ, để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

Tố Hữu (Trích  bài thơ Tâm sự)

*

Mị Châu Lông ngỗng lông ngan rơi trắng đường chạy nạn Những chiếc lông không biết tự dấu mình.

Nước mắt thành mặt trái của lòng tin Tình yêu đến cùng đường là cái chết Nhưng người đẹp dẫu rơi đầu vẫn đẹp Tình yêu bị dối lừa vẫn nguyên vẹn tình yêu.

Giá như như trên đời còn có một Mỵ Châu Vừa say đắm yêu thương vừa luôn luôn cảnh giác Không sơ hở, chẳng mắc lừa mẹo giặc Một Mỵ Châu như ta vẫn hằng mơ

Thì hẳn Mỵ Châu không sống đến bây giờ Ðể chung thuỷ với tình yêu hai ngàn năm có lẻ Như anh với em dẫu yêu nhau chung thuỷ Ðến bạc đầu bất quá chỉ trăm năm.

Nên chúng ta dù rất đỗi đau lòng Vẫn không thể cứu Mỵ Châu khỏi chết Lũ trai biển sẽ thay người nuôi tiếp Giữa lòng mình viên ngọc của tình yêu.

Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu Bởi cụt đầu nên tượng càng rất sống Cái đầu cụt gợi nhớ dòng màu nóng Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào.

Anh cũng như em muốn nhắc Mỵ Châu Ðời còn giặc xin đừng quên cảnh giác Nhưng nhắc sao được người hai ngàn năm trước Nên em ơi ta đành tự nhắc mình. Anh Ngọc

*

Vô đề

Am Mỵ Châu thờ bức tượng không đầu

Cảnh báo một trái tim khờ dại

Thử hỏi , nửa thế giới này đang tồn tại

Đã yêu rồi, ai không giống Mỵ Châu ?

Hạnh Mai

(Tạp chí Người Hà Nội, số 115)

*

MỴ CHÂU

Không thể tưởng có đường gươm như thế

Dù lời thần mách bảo tự trời cao

Thần có lúc cũng nhầm như hạ giới

Đứa con thương tội lỗi tự khi nào?

.

Khi ngực trẻ hồn nhiên non nớt quá

Thì tình yêu có phút dại khờ thôi

Nắm lông ngỗng rải đường hoa trắng xóa

Hoa theo nàng rải khắp nắng mồ côi.

.

An Dương Vương dưới đáy mồ nghìn tuổi

Vẫn hằng đêm nức nở lưỡi gươm xưa

Mây vẫn trắng để tang trời vĩnh cửu

Mỵ Châu ơi, oan nghiệt đến bao giờ ?

Quang Huy

( Hà Nội mới cuối tuần,10.3.2012)

*

Ảnh trong bài

1. 2 : Lẫy nỏ và kho mũi tên đồng đào được ở Cổ Loa

3:  Tượng không đầu Công chúa Mỵ Châu

Chia sẻ:

  • Facebook
  • X
Thích Đang tải...

Có liên quan

Entry filed under: Uncategorized.

Từ khóa » Thơ Về Mị Châu Trọng Thủy