Thơ Việt Nam Viết Bằng Chữ Hán - Báo Quân đội Nhân Dân

Những bài thơ viết bằng chữ Hán tiêu biểu

LÝ THƯỜNG KIỆT

(Phiên âm Hán - Việt)

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch nghĩa:

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam, vua Nam ở

Rành rành phân định tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Dịch thơ:

     Sông núi nước Nam

      Nước Nam là của vua Nam

Sách trời đã định, biết làm sao đây

      Giặc sang xâm phạm đất này

Chóng chầy thì cũng đến ngày bại vong.

(Đỗ Trung Lai chuyển lục bát)

    *  *  *

MÃN GIÁC THIỀN SƯ

Phiên âm Hán - Việt:

Cáo tật thị chúng

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tòng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dịch nghĩa:

Có bệnh bảo mọi người

Xuân đi, trăm hoa rụng,

Xuân đến, trăm hoa nở.

Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt,

Tuổi già về trên đầu rồi

Đừng nghĩ rằng xuân tàn thì hoa rụng hết,

Sân trước, đêm qua, vừa nở một nhành mai.

 

Dịch thơ:

Có bệnh bảo mọi người

      Xuân tàn, tàn cả trăm hoa

Xuân về, lại thấy trăm hoa khoe màu

      Việc đời trước mặt chen nhau

Già về cho tóc trên đầu vội phai

      Xuân tàn hoa cạn, mặc ai

Một nhành mai nở sân ngoài, đêm qua.

(Đỗ Trung Lai chuyển lục bát)

        *  *  *

 

TRẦN NHÂN TÔNG

Phiên âm Hán - Việt:

Xuân hiểu

Thụy khởi khải song phi

Bất tri xuân dĩ quy

Nhất song bạch hồ điệp

Phách phách sấn hoa phi.

Dịch nghĩa:

Buổi sớm mùa xuân

Ngủ dậy, mở cửa sổ

Còn chưa biết là xuân đã về

Có một đôi bướm trắng

Phấp phới bay về phía hoa xuân.

Dịch thơ:

Buổi sớm mùa xuân

Tan giấc, mở cửa sổ

Nào hay xuân đã về

Kìa, đôi con bướm trắng

Bay vào hoa ngoài kia.

(Đỗ Trung Lai dịch)

 

  *  *  *

TRẦN QUANG KHẢI

(Phiên âm Hán - Việt)

Tòng giá hoàn kinh

Đoạt sáo Chương Dương độ

Cầm Hồ Hàm Tử quan

Thái bình tu trí lực

Vạn cổ thử giang san

Dịch nghĩa:

Theo xe vua về kinh

(Đã) cướp giáo (giặc) ở bến (trận) Chương Dương

(Lại) bắt sống giặc ở cửa (trận) Hàm Tử

Từ nay, thái bình (rồi), phải cùng gắng sức

(Để) nước non này bền vững vạn đời.

Dịch thơ:

Theo xe vua về kinh

Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù

Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy nghìn thu.

(Trần Trọng Kim dịch)

 

    *   *    *

 

NGUYỄN TRÃI

(Phiên âm Hán - Việt)

Thính vũ

Tịch mịch u trái lý

Chung tiêu thính vũ thanh

Tiêu hao kinh khách chẩm

Điểm trích sổ tàn canh

Cách trúc khao song mật

Hòa chung nhập mộng thanh

Ngâm dư hồn bất mị

Đoạn tục đáo thiên minh.

Dịch nghĩa:

Nghe mưa

Trong phòng tối tăm tịch mịch

Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi

Khiến động cả gối khách

Giọt nước điểm mấy canh tàn

Cành trúc bên ngoài khua vào cửa sổ đóng kín

Tiếng chuông đi vào giấc mơ tạm

Ngâm thơ rồi nhưng vẫn không ngủ được

Chập chờn mãi đến lúc trời sáng.

 

Dịch thơ:

Nghe mưa

Mình ta trong phòng tối

Nghe mưa rơi đêm dài

Lời mưa về vỗ gối

Giọt giọt buông canh chầy

Ngoài song, nghe động trúc

Chuông vào lay giấc ai

Ngâm thơ, không ngủ được

Nhìn lên, trời sáng rồi!

(Đỗ Trung Lai dịch)

      ****

ĐẶNG DUNG

(Phiên âm Hán - Việt)

Cảm hoài

Thế sự du du nại lạo hà

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

Thời lai đồ điếu thành công dị

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa

Trí chủ hữu hoài phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma

Dịch nghĩa:

Cảm hoài

Việc đời cuồn cuộn như sông mùa lũ

Trời đất mênh mang trong mỗi câu ta hát

Gặp thời, người câu cá kia cũng dễ thành công(*)

Lúc lỡ vận, anh hùng đành nuốt bao nỗi hận

Ý chúa những muốn xoay đất chuyển trời

Nhưng không có đường kéo sông Ngân xuống để rửa giáp

Thù nước chưa trả được mà đầu đã sớm bạc

Bao lần ta mang thanh Long Tuyền ra mài dưới trăng!

(*). Lã Vọng xưa ngồi câu cá bên sông Vị Thủy, gặp được Văn Vương mà thành công.

 

Dịch thơ:

Cảm hoài

      Thế thời như lũ trên sông

Một câu ca cũng mênh mông đất trời

      Dễ sao câu cá gặp thời

Anh hùng lỡ vận đầy vơi ly sầu

Chúa mong xoay đất chuyển lầu

Ngân Hà rửa giáo, giờ đâu thấy đường!

      Giặc còn, tóc đã pha sương

Bao phen dưới nguyệt mài gươm Long Tuyền!

(Đỗ Trung Lai chuyển lục bát)

    *  *   *

NGUYỄN DU

(Phiên âm Hán - Việt)

Độc Tiểu Thanh ký

Tây hồ hoa uyển tẫn thành khư

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư

Chi phấn hữu thần liên tử hậu

Văn chương vô mệnh lụy phần dư

Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vận kỳ oan ngã tự cư

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Dịch nghĩa:

Đọc truyện nàng Tiểu Thanh

Tây hồ, nơi đẹp đẽ ấy nay đã hóa ra gò hoang

Thổn thức bên song, chỉ còn mảnh sách tàn

Người con gái đẹp có thần, chôn đi rồi, còn biết hận

Văn chương dù không có số mệnh, vẫn vương lại hồn cốt

Nỗi hờn (của người ta) xưa nay, đến trời còn khó hỏi

Cái kỳ án của kẻ phong lưu, tự mình phải mang lấy

Không biết 300 năm sau

Có ai dưới trời này còn biết mà nhỏ nước mắt vì Tố Như chăng?

 

Dịch thơ:

Đọc truyện nàng Tiểu Thanh

 

Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang

Thổn thức bên song mảnh giấy tàn

Son phấn có thần, chôn vẫn hận

Văn chương không mệnh, đốt còn vương

Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi

Cái án phong lưu khách tự mang

Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

Ai người còn khóc Tố Như chăng?

(Cao Xuyên dịch)

  *   *   *

CAO BÁ QUÁT

(Phiên âm Hán - Việt)

Bạc vãn túy quy

Mính đính quy lai bất dụng phù

Nhất giang yên trúc chính mô hồ

Nam nam tự dữ liên hoa thuyết

Khả đắc hồng như tửu diện vô

Dịch nghĩa:

Buổi chiều bên sông, say rượu trở về

Chếnh choáng say, trở về chưa cần người đỡ

Cả một dải sông, mịt mờ những khói cùng tre trúc

Khe khẽ ghé hỏi hoa sen:

Hoa có hồng bằng mặt rượu của ta không?

 

Dịch thơ:

Buổi chiều bên sông, say rượu trở về

Chếnh choáng say về, không đợi dắt

Mịt mùng khói trúc một dòng sông

Thì thầm cúi xuống hoa sen hỏi:

Hoa có hồng như mặt rượu không?

(Nguyễn Văn Bách dịch)

Từ khóa » Dịch Thơ Sang Hán Việt