Tiếng Chuông Trấn Vũ, Canh Gà Thọ Xương.

Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Mịt mù khói tỏa ngàn sương, Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ

Nhắc đến bốn câu này, ai cũng nghĩ đây là bốn câu ca dao của người Hà Nội xưa truyền lại. Hầu hết các giáo trình đều ghi đây là ca dao và cho đó là cảm hứng của quần chúng nhân dân “có tính chất là niềm vui, niềm tự hào, những cảm xúc dạt dào trước vẻ đẹp của giang sơn đất nước thân yêu” (Văn học dân gian, tập I, phần 2, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1976, tr.22).

Trước hết cần phải khẳng định, đây không phải là bốn câu ca dao mà là bài thơ có nhan đề Hà Nội tức cảnh của Dương Khuê. Người được Tam nguyên Yên Đỗ - Nguyễn Khuyến đề cập trong bài Khóc Dương Khuê (Hay Khóc bạn), mở đầu bằng hai câu:

“Bác Dương thôi đã thôi rồi. Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” Dương Khuê (1839 – 1902), tự Giới Nhu, hiệu Vân Trì, là quan nhà Nguyễn và là nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ 19. Tuy vậy, về thơ Dương Khuê không có nhiều dấu ấn so với các nhà thơ cùng thời. Có vẻ ông nổi tiếng bởi bài ca trù tiêu biểu được bắt đầu bằng câu: “Hồng Hồng, Tuyết, Tuyết” (Gặp lại cô đầu cũ). Nguyên bản bài thơ Hà Nội tức cảnh của Dương Khuê như sau: Hà Nội tức cảnh Phất phơ ngọn trúc trăng tà, Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương. Mịt mùng khói tỏa ngàn sương, Dịp chầy An Thái, mặt gương Tây hồ. Người có công phiên âm từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ bài thơ này đầu tiên là nhà sưu tập Trần Trung Viên vào đầu thế kỷ 20. Cuối thập kỷ 50 đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20, nhà giáo Nguyễn Duy Diễn, tác giả sách luận đề về Dương Khuê đã công bố thêm một phiên bản, có vài tiểu tiết khác so với bản của Trần Trung Viên: Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương Mịt mùng khói tỏa ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ. Về cái sự chuyển hóa bài thơ này thành ca dao cũng có nhiều ý kiến, trong đó có những ý kiến mâu thuẫn, trái chiều. Có tài liệu viết, theo nhà giáo Nguyễn Duy Diễn cho biết, Dương Thiệu Cương – anh ruột của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và tiến sĩ giáo dục Dương Thiệu Tống đã hiệu đính nguyên tác của ông nội mình 2 chi tiết mà không ngại phạm tội “bất kính” vì đã biến thơ thành ca dao. “Phất phơ ngọn trúc la đà” thành: “Gió đưa cành trúc la đà” “Mịt mù” thành “mịt mùng” Song, cũng có nguồn ghi, dựa theo Dương gia phả ký của dòng họ, tham khảo thêm Luận đề về Dương Khuê của Nguyễn Duy Diễn (Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1960), tiến sĩ Dương Thiệu Tống đã chép lại nguyên văn bài thơ Hà Nội tức cảnh trong thiên khảo luận Tâm trạng Dương Khuê và Dương Lâm (NXB Văn học, Hà Nội, 1995) kèm theo nhận xét về câu lục mở đầu: “Có người đã sửa đổi câu thơ này là Gió đưa cành trúc la đà, nhưng có lẽ là sai vì làm mất đi ý nghĩa ẩn dụ của toàn câu mà chỉ có ý nghĩa tả cảnh mà thôi!” Cũng từ nguồn này cho hay, người sửa thơ của Dương Khuê là Phạm Quỳnh (1892 – 1945). Khi có dịp ra Huế, ông mượn nửa bài thơ cũ (của Dương Khuê), thêm bớt đôi chỗ để thành một bài “tức cảnh” cho xứ Huế. Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương. Vậy đã rõ, thay vì phong cảnh Hà Nội, nó đã thành ra phong cảnh Huế. Bấy giờ là tháng 4 – 1918, lần đầu Phạm Quỳnh được ghé chốn Thần Kinh và sau đó thực hiện liền bút ký Mười ngày ở Huế để kịp đăng trên tạp chí Nam Phong (NXB Văn học in lại thành sách, Hà Nội, 2001). Dưới cặp lục bát tân trang, Phạm Quỳnh viết thêm: “Cả cái hồn thơ của xứ Huế như chan chứa trong hai câu ca ấy. Chùa Thiên Mụ là một chốn danh lam, có cái tháp bảy tầng, làng Thọ Xương thì ở bờ bên kia. Đêm khuya nghe tiếng chuông chùa với tiếng gà gáy xa đưa văng vẳng ở giữa khoảng giời nước long lanh mà cảm đặt thành câu ca". Và cũng bắt đầu từ đó, hai câu lục bát của Phạm Quỳnh nổi lên, chưa hẳn vì hay mà vì thiên ha tranh nhau tranh luận, giành địa danh. Khoan bàn đúng sai, hai câu lục bát này đã gây ra hiệu ứng dư luận thời bấy giờ. Tập I Ca dao xứ Huế bình giải do Ưng Luận soạn thảo (Sở Văn hóa - Thông tin Thừa Thiên - Huế, 1991) phản ánh: "Không ngờ hai câu này đã gây nên nhiều cuộc bàn cãi sôi nổi, vì chùa Thiên Mụ ở Huế mà huyện Thọ Xương ở Hà Nội". Ở Hà Nội, huyện Thọ Xương thuở xưa kéo dài từ khu vực Nhà Thờ Lớn ra tới Đồn Thủy, tương đương hai quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng hiện nay. Nhưng người Huế cũng có lý của người Huế bởi ở Huế, tuy chẳng có làng nào tên Thọ Xương đối ngạn chùa Thiên Mụ qua sông Hương như Phạm Quỳnh nhầm tưởng. Thế nhưng, địa bàn đó có ngọn đồi từng mang tên Thọ Xương. Đó là đồi Long Thọ ở làng Nguyệt Biều, nay thuộc phường Thuỷ Biều, thành phố Huế. Nếu thế, dù Phạm Quỳnh có công với đất nước và phê bình ông bà không được người Việt chấp nhận nhưng rõ ràng trong trường hợp này, Phạm Quỳnh có dấu hiệu đạo văn, thuổng thơ của Dương Khuê. Thậm chí ăn cắp một cách trắng trợn. Có thể ở thời này, người ta chưa thực sự ý thức về tác quyền nhưng qua cách làm (đổi địa danh rồi khoe khoang, khoác lác) của Phạm Quỳnh. Và giờ đây, chúng ta cần phải khẳng định, không ai có quyền hiệu đính một vài tiểu tiết của một bài thơ hoàn chỉnh để phù phép nó trở thành ca dao cả. Có chăng, ở thời loạn lạc, khi người ta còn quá nhiều việc để làm nên đành phải chấp nhận như vậy. Khi có điều kiện, phải trả bài thơ ấy về cho Dương Khuê. Của Ceasar thì hãy trả lại cho Ceasar! Nhất là với một bài thơ có số phận chứ không thể nhập nhằng mãi được. Qua câu chuyện này chúng ta sẽ thấy, chỉ cần làm một điều gì đó sai dù rất nhỏ đều có thể để lại những hệ lụy khủng khiếp cho con cháu. Và hệ lụy giờ đây là bao thế hệ cứ nghĩ bốn câu thơ trong bài thơ Hà Nội tức cảnh là ca dao nó xuất phát chỉ từ cái trò mèo của Phạm Quỳnh. Từ trò mèo ấy, Phạm Quỳnh đã tạo ra một dị bản cho bài Tức cảnh Hà Nội mà dị bản chính là một đặc trưng cơ bản của ca dao nên khiến người ta nhầm tưởng. Và hãy nhìn vào đó để biết cân chỉnh hành vi của mình ở thời đại hôm nay. Lưu ý: Ca dao có thể mượn ý từ các tác phẩm văn học nào đó chứ không thể bê nguyên si tác phẩm hoàn chỉnh, chỉ thay đổi vài chi tiết rồi hô biến thành ca dao. Ngày xưa khi đi học, cô giáo mình có giảng về câu “canh gà Thọ Xương” trong bốn câu ca dao (thực ra là thơ như đã nói) là tiếng gà gáy báo hiệu sang canh mình đã thấy kỳ kỳ nhưng rồi vì bài ấy không phải là trọng tâm, ngày ấy cũng quá nhỏ nên sự việc cũng nhanh chóng đi vào quên lãng. Khi Vnexpress thổi bùng lên câu chuyện này thì mới có dịp bàn lại. Khi sự việc mới bắt đầu mình có viết trên facebook, nếu bảo canh gà Thọ Xương là tiếng gà gáy sang canh là rất khiên cưỡng và sai cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt. Một khi đã ghi “canh gà Thọ Xương” thì theo logic ngữ pháp tiếng Việt chỉ có thể hiểu theo 2 lối: 1 canh (chừng, trông coi) gà (làng) Thọ Xương. 2 canh gà (đặc sản) của làng Thọ Xương. Chứ đã viết là canh gà Thọ Xương mà bảo là tiếng gà gáy sang canh thoạt nghe khá êm tai, thi vị nhưng ngẫm lại thì rất buồn cười vì nó tréo cấu trúc ngữ pháp. Canh gà là canh gà chứ tiếng gà gáy báo hiệu sang canh là thế nào. Nếu muốn hiểu theo cái nghĩa mà ai đó đã đặt để thì phải phá vỡ hệ thống ngữ pháp Việt Nam. 1. Trước hết ta phải thấy, rất đơn giản canh gà không phải là món chỉ mới xuất hiện ở vài chục năm trở lại đây. Thời của Dương Khuê chắc chắn là đã có món canh gà rồi đấy chứ. Thậm chí đó còn là món ăn quen thuộc nữa là đằng khác. Một khi đã biết, đã quen thuộc với món canh gà nhẽ nào một nhà thơ như Dương Khuê khi muốn nói về tiếng gà gáy sang canh, ông lại dùng chữ trùng với cái món canh gà quen thuộc sao? Vô lý. Bởi không những sai cấu trúc mà nó còn khiến người đọc nhầm lẫn một cách rất ngớ ngẩn. Cho nên, nếu muốn hướng người đọc đến với ý gà gáy báo hiệu sang canh chắc chắn Dương Khuê buộc phải tránh cái món canh gà và diễn đạt khác đi chứ. Nên biết, trước khi nghĩ đến những giá trị nghệ thuật thì việc đầu tiên mà các nhà thơ làm là phải biết chọn lọc từ ngữ để tránh cho việc hiểu sai. Trước khi hay, cần phải đúng đã. Ai đã biết cái món canh gà nó sờ sờ ra đấy lại dùng ngay cái từ nói về món đó để nói về tiếng gà gáy sang canh hả giời? Lấy ví dụ tôi là nhà thơ, tôi làm hai câu thế này: Nhớ ngày em gái theo chồng Vẩn vơ giữa một trâu đồng bao la Trâu đồng thì chắc ai cũng hiểu, một là trâu bằng đồng, hai là trâu (ở) đồng. Ý tôi ở đây là cánh đồng trâu, cánh đồng dành cho trâu. Song để hợp vần suông câu tôi có thể dùng trâu đồng không? Rõ ràng là không. Vì tôi biết khi dùng trâu đồng thì cả tôi và các bạn sẽ hiểu đó là trâu (bằng hay ở) đồng chứ làm cách nào mà các bạn có thể nghĩ đó là cánh đồng (dành cho) trâu được? Đúng không? Nếu thế thì tôi buộc phải viết khác chứ, diễn đạt khác đi để trước hết nó phải đúng ý đã chứ. Thế thì tôi buộc phải sửa thành thế này: Nhớ ngày em bỏ đi đâu Vẩn vơ giữa một đồng trâu mà buồn. Đúng không? Tôi phải diễn đạt thế thì cả bạn và tôi mới hiểu chứ. Và canh gà Thọ Xương cũng thế! Cả ông Dương Khuê, tôi và bạn đều biết món này chứ. Thế hà cớ gì ông ấy lại dùng chữ canh gà để nói về tiếng gà gáy sang canh? Chẳng có lý do nào để Dương Khuê làm thế cả trừ phi Dương Khuê có vấn đề về tâm thần. 2. Có thành viên viết trên một diễn đàn thế này: “Sáng nay có cậu bạn làm trong Viện Hán Nôm bảo, trong sách Vân Đình Dương Khuê Thượng Thư Tiên Sinh (144 tr., 27 x 15. Ký hiệu: A.2185 Thư viện Viện Hán Nôm) cũng chép bài thơ này. Xin lưu ý, Dương Khuê viết thơ bằng chữ Nôm, nỏ phải chữ Quốc ngữ. Nguyên văn viết chữ Canh là bát canh, món canh, không phải canh khuya, canh chầy. Chứng tỏ canh gà là món ăn, chứ chả phải tiếng gà tiếng qué gì cả. Chắc hồi ấy các cụ đi tập thể dục từ sáng sớm, khi chùa Trấn Vũ đổ chuông, quán Thọ Xương mở hàng, các cụ rủ nhau vào ăn canh gà” Thêm một cái test nữa là bạn hãy ghép hai từ canh ở trên kia với chữ gà thì ta sẽ thấy thế này: 1, bát canh, món canh gà 2 canh khuya, canh chầy gà Bạn thấy câu thứ 2 có tréo với cấu trúc của tiếng Việt và buồn cười không? Thì thôi vậy, Dương Khuê đã ghi là canh gà Thọ Xương thì ta cứ hiểu là món canh gà ở làng Thọ Xương cho hợp logic vậy. Đừng tỏ ra sâu sắc, hiểu biết quá làm gì cho khổ tiếng Việt mà lại tội con cháu. 3. Theo cách cảm của tôi ở hai câu tám thì Dương Khuê nói về những nét đặc trưng, những gì rất riêng tư gắn liền với các địa danh Hà Nội mà chẳng nơi nào có được bằng tất cả giác quan, lần lượt như sau: Thính giác: Tiếng chuông Trấn Vũ là tiếng chuông vọng ra từ đền Trấn Vũ, chẳng lẫn vào đâu được. Vị giác: Canh gà Thọ Xương là món đặc sản của người làng Thọ Xương, chẳng nơi nào có thể chế biến được món canh gà như người của làng này cả. Cảm giác: Là nhịp chày Yên Thái – một làng chuyên làm giấy. Nhịp chày ấy cũng chả giống với nơi nào cả. Thị giác: Mặt gương Tây Hồ có thể hiểu ý tác giả là chẳng nơi nào mà mặt hồ phẳng lặng, yên ả tựa mặt gương như Hồ Tây. Về đặc trưng, nếu bảo đó là tiếng gà gáy từ làng Thọ Xương thì rõ ràng sẽ mất ngay tính đặc trưng, cái nét riêng tư của Thọ Xương vì gà chỗ nào gáy chả như nhau, nhẽ nào gà của làng Thọ Xương lại có một kiểu gáy nào đó rất độc đáo mà gà của các làng khác chả co được? Chỉ có thể là đặc sản của Thọ Xương thì mới có tính đặc trưng. Về thính giác: Đã có tiếng chuông từ đền Trấn Vũ thì tác giả lôi thêm chi tiếng gà gáy cho vô nghĩa lại thừa ra trong một khổ thơ cô đọng và hàm súc đến vậy. Thế nên. Canh gà Thọ Xương tôi cho đó là món canh gà của người làng Thọ Xương. Và ai chỉ dạy cho con cháu mình tùy, tôi cũng sẽ gợi ý cho con cháu mình như thế. 4. Sách giáo khoa cho rằng bốn câu lục bát này "có tính chất là những niềm vui, niềm tự hào, những cảm xúc dạt dào trước vẻ đẹp của giang sơn đất nước thân yêu" (Giáo trình Văn học dân gian, tập II, NXB Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1973, tr.375). Tôi cho đây là nhận định sai lầm vì nguyên tác đây là bài thơ buồn bã và rất thế sự. Hai câu sáu đã nói lên điều đó: “Phất phơ ngọn trúc trăng tà” nó gợi cảm giác buồn bã về hiện tại. Có thể hiểu vận nước lúc này rất mong manh. Phất phơ nó gợi ra một không gian tẻ nhạt, buồn chán, lại thêm trăng tà. Ngoài sự báo hiệu của đêm sắp hết, thứ ánh sáng của trăng tà còn làm cho người ta liên tưởng đến sự thê lương, u uẩn. Câu sáu tiếp theo “Mịt mù khói tỏa ngàn sương” có thể hiểu tác giả đang nghĩ về tương lai trước mặt. Nó không tươi sáng mà mịt mù, hư ảo, như trong sương. Tức chẳng có gì để hy vọng. Liên hệ đến vận nước ở thời mà tác giả đang sống ta thấy đất nước hiện giờ rơi vào tay người Pháp, Nho học suy tàn. Vốn là một nhà nho, Dương Khuê bi quan, xót xa cho vận nước lẫn nền nho học là nhẽ dễ hiểu. Và cả sự bất mãn trước thời cuộc nữa. Nên nhớ có nhận xét cho rằng Dương Khuê là đại diện tiêu biểu của khuynh hướng “thoát ly hưởng lạc” trong văn học Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ 19. Người ta cho rằng Dương Khuê lấy thơ, rượu, ca xướng để tiêu khiển…Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tích cực hơn thì đó cũng là thể xem là một thái độ phản kháng nhẹ nhàng. Những tâm sự, trở trăn về mình, về xã hội mà ông đang sống được gửi gắm vào thơ văn, đó cũng là cách giúp ông giải tỏa bất mãn. Như vậy, không phải là niềm vui hay tự hào về vẻ đẹp của giang sơn đất nước gì cả. Lồng giữa hai sáu tả tâm trạng là hai câu tám nói về những giá trị đặc trưng của Hà Nội có thể thấy bài thơ này là một dự cảm xót xa, lo lắng mất mát những điều gì đó rất gần gụi, giản dị mà cũng rất đỗi thiêng liêng của tác giả. Đó là cảm nhận mang tính cá nhân của mình về bài thơ Hà Nội tức cảnh của nhà thơ Dương Khuê. 5. Còn vì sao người ta cứ cố mà nghĩ canh gà Thọ Xương thành tiếng gà gáy báo hiệu sang canh? Lẽ đơn giản là ở một dân tộc bé mọn, yếu đuối và đầy rẫy sự mặc cảm, tự ty người ta hay cả nghĩ, nghiện ước lệ và thờ phụng chủ nghĩa sâu sắc. Họ tin rằng những điều đó sẽ cứu rỗi được họ. Cũng như đàn bà xấu thì mê mệt son phấn, kẻ dốt nát thì thích bốc phét, văn hoa. Nếu chả thế họ sợ bị đánh giá là tầm thường ít học. Ngay cả khi đứng trước một điều gì đó rất gần gụi, giản dị thì họ vẫn không dám chấp nhận nó, họ vẫn cố nghĩ cho nó sâu vào và cao lên để tự an ủi. Hoặc đã nghĩ là thế nhưng chẳng dám nói vì sợ nói ra mình đâm khác mọi người, xứ bầy đàn thì ai dám tách mình ra khỏi đám đông? Thật ra muốn cao, muốn sâu cũng chả sao vì ai chả có quyền làm thế nhưng nên nhớ cũng cần có cơ sở chứ nhỉ!? Chứ canh gà lại nghĩ là tiếng gà gáy báo hiệu sang canh e cũng buồn cười và dễ biến mình thành kẻ ảo tưởng, nếu không thì thần kinh có lẽ cũng đứt vài sợi mẹ nó rồi. Đùa vui thế chứ mình cũng nghĩ canh gà là tiếng gà gáy báo hiệu sang canh cho cho thanh cao và sang trọng. Thi ca ai lại nỡ quẳng vào đấy bọc canh gà vào đấy, thế hóa ra tầm thường quá, phàm tục quá giữa một đất nước thừa mứa sự thanh cao. Thanh cao đến nghẹt thở! Thanh cao đến mức vì yêu nước mà mấy anh Việt kiều lấy clip sex để trị tin đồn. Ác ghê chưa? Sang đến tận Mỹ mà sống rồi vẫn dứt khoát không bỏ bớt thanh cao. Nhắn tin cho tác giả Nguyễn Đức Thăng @ 19:42 23/10/2012 Số lượt xem: 1994 Số lượt thích: 0 người

Từ khóa » đền Tiếng Chuông Trấn Vũ Canh Gà Thọ Xương