Tìm Hiểu Kinh Phật - TRUNG BỘ KINH - Đại Kinh Sư Tử Hống
Có thể bạn quan tâm
Chuyển đến nội dung chính
I. TOÁT YẾU Mahàsìhanàda Sutta - The greater discourse on the lion's roar. The Buddha expounds the ten powers of a Tathàgata, his four kinds of intrepidity, and other superior qualities which entitle Him to "roar his lion's roar in the assemblies". Bài kinh dài nói về tiếng rống sư tử. Phật giảng về Mười lực của một đức Như lai, Bốn vô úy và những đức thù thắng khác; nhờ đó Ngài đủ tư cách "rống tiếng rống sư tử" trong các hội chúng. II. TÓM TẮT Tôn giả Xá lợi phất đi khất thực, về bạch lại với Phật lời rêu rao của Sunakkhatta vừa mới bỏ tu: "Sa môn Gotama không có tri kiến thù thắng, thuyết pháp do mình tạo ra sau khi suy luận, trắc nghiệm. Pháp ấy nhắm đến một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành đến chỗ đoạn tận khổ đau." Phật mỉm cười dạy: "Kẻ ngu ấy vì phẫn nộ muốn chỉ trích mà lại hóa ra ca tụng Như lai." Phần còn lại của Kinh này cho thấy sự chỉ trích của Sunakkhatta là sai lạc. Những ai có lòng tin tuyệt đối sẽ thấy ngược lại, Phật là đấng có mười lực, bốn vô úy và nhiều năng lực khác. A. Tùy pháp về Như lai: 1. Phật đủ mười hiệu là Như lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, vân vân. 2. Ngài đã chứng các thần thông như biến hóa, thiên nhĩ thông, tha tâm thông... 3. Nhờ đã thành tựu mười lực và bốn vô úy, mà Như lai tự nhận địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng và chuyển bánh xe Pháp. B. Những pháp Ngài đã tuệ tri: như bốn sinh, năm thú và con đường đưa đến đấy; niết bàn vàđường đưa đến niết bàn. C. Phật kể lại những khổ hạnh Ngài đã tu tập: như hành hạ thân xác, hạnh bần uế, hạnh yểm ly, hạnh độc cư; trong cả 4 hạnh ấy không ai sánh được với Ngài, nhưng cuối cùng Ngài từ bỏ vì chúng không đưa đến chứng đắc trí tuệ. D. Cuối cùng, Ngài bác bỏ những chủ trương sai lầm của ngoại đạo: như chủ trương chúng sinh đạt thanh tịnh nhờ luân hồi, nhờ tái sinh, nhờ an trú (trong một loại tái sinh nào đó), nhờ tế tự, nhờ thờ lửa. Phật cho biết không có cõi luân hồi nào ở đấy Ngài đã không trải qua một thời gian khá dài, không có cõi nào Ngài chưa từng tái sinh, an trú, chỉ trừ cõi trời Tịnh cư. Nếu Ngài tái sinh vào cõi Tịnh cư thì Ngài đã không trở lại thế gian này. Ngài cũng đã làm tất cả những việc tế tự, thờ lửa trong một thời gian dài lúc còn làm vua dòng Sát đế lợi, hay làm Bà la môn giàu có [nhưng không ích lợi gì]. Ngoại đạo cho rằng khi còn trẻ tuổi, người ta có trí tuệ, biện tài, nhưng về già thì lú lẫn. Ở trong giáo pháp của Phật thì không thế, Ngài có bốn đệ tử đã trên trăm tuổi mà vẫn đầy đủ trí tuệ biện tài. Và bản thân Ngài cũng thế, dù tuổi đã tám mươi, Ngài vẫn thừa sức giảng dạy cho những vị trí tuệ biện tài bậc nhất, và trí tuệ Ngài không sút giảm dù có phải bị gánh trên giường đi chỗ này chỗ kia (khi đã quá già yếu). Ai nói về đức Như lai một cách chân chính sẽ nói rằng: "Ngài là vị hữu tình không còn si ám, sinh ra đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chư thiên và loài người." Một điểm lý thú là kết luận kinh này. Tôn giả Nagasamala lúc ấy đang đứng sau lưng Phật mà quạt cho Ngài. Sau khi nghe Phật kể về thời gian tu khổ hạnh, về những gì Phật đã thành tựu, tôn giả cả cảm khái đến rởn ốc, và bạch Phật: "Thật vi diệu thay, bạch Thế tôn. Sau khi nghe kinh này, lông tóc con dựng ngược. Bạch Thế tôn, kinh này tên gì?" Phật dạy, "Thế thì hãy gọi là kinh Lông tóc dựng ngược." III. CHÚ GIẢI Sunakkhata, Phật giảng dạy vị này trong Kinh Sunakkhata, Trung bộ kinh 105, có lẽ trước khi ông gia nhập tăng đoàn. Việc thối thất của ông được nói trong Kinh Pàtika thuộc trường bộ 24. Ông bất mãn bỏ về vì Phật không biểu diễn thần thông cho ông xem, cũng không giải đáp cho ông về khởi nguyên các pháp. Cốt lõi lời chỉ trích của Sunakkhata là Phật đắc đạo nhờ tư duy chứ không phải nhờ trí tuệ siêu việt; và theo ông ta, mục đích diệt tận đau khổ không bằng có được các loại thần thông. Tạp nhiễm, sankilesa - là dự phần vào thối giảm, "thanh tịnh" vodàna, là dự phần vào tăng tiến; "xuất khởi" - vutthàna - vừa có nghĩa tịnh hóa vừa có nghĩa ra khỏi một thiền chứng. Mười danh hiệu Phật: Như lai, A la hán, Chính đẳng giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế tôn. Mười lực là: 1. Trí biết thị xứ phi xứ [do thấy rõ tương quan nhân quả, nên biết được cái gì có thể xảy đến, không thể xảy đến.] 2. Trí biết nghiệp báo trong cả ba thời quá, hiện, vị lai. 3. Biết con đường đưa đến các cảnh giới. 4. Biết tất cả yếu tố tạo thành thế gian [nói rõ trong kinh Trung bộ 115.] 5. Biết chí hướng sai biệt của các loại hữu tình; biết các hạng chúng sinh thượng, trung, hạ, chúng thu hút lẫn nhau do luật đồng thanh đồng khí. 6. Biết căn mạnh hay yếu nơi chúng sinh - tức 5 căn tín tấn niệm định tuệ. 7. Tuệ tri sự tạp nhiễm, thanh tịnh, sự xuất khởi các thiền chứng về thiền, giải thoát, định. 8. Trí biết tất cả kiếp trước của bản thân gọi là túc mạng trí. 9. Trí biết sự sống chết của chúng sinh tùy theo nghiệp hay sinh tử trí. 10. Lậu tận trí, sạch hết tất cả nhiễm ô. [Hán văn: 1. Tri thị xứ phi xứ lực; 2. Tri tam thế nghiệp báo lực; 3. Tri nhất thiến đạo trí lực; 4. Tri thế gian chủng chủng tính lực; 5. Tri tha chúng sinh chủng chủng dục lực; 6. Tri tha chúng sinh chư căn thượng hạ lực; 7. Tri chư thiền tam muội lực; 8. Túc mạng trí; 9. Sinh tử trí; 10. Lậu tận trí.] Bốn vô úy: 1. Phật không lo sợ bất cứ ai trên đời chỉ trích Ngài chưa chứng mà mạo nhận. 2. Không sợ ai chỉ trích Ngài chưa đoạn trừ lậu hoặc mà tự cho đã đoạn trừ. 3. Những gì Ngài dạy chướng ngại đạo chắc chắn là chướng ngại, không sợ ai nói ngược lại. 4. Pháp Ngài dạy chắc chắn dẫn đến đoạn tận đau khổ, không ai có thể bảo là không. Nagasamala là thị giả Phật trong 20 năm đầu sau khi Ngài ra giáo hoá. IV. PHÁP SỐ Bốn khổ hạnh: khổ hạnh, bần uế, viễn ly, độc cư. Bốn vô úy Bốn sinh: noãn, thai, thấp, hóa. Năm thú: năm chỗ mà sự tái sinh hướng đến, là trời (gồm a tu la), người, địa ngục, ngạ quỷ, bàng sinh. Sáu thông Tám giải thoát được kể trong các kinh Trung bộ 77 và 137. Tám hội chúng: Sát lợi, bà la môn, gia chủ, sa môn, tứ thiên vương, ma vương và phạm thiên, tam thập tam thiên. Chín định là 4 thiền, 4 không và diệt thọ tưởng. Mười danh hiệu Phật Mười lực Mười hai nhân duyên V. KỆ TỤNG A. Nguyên nhân thuyết kinh này Một người từ bỏ Pháp Tên Su-na-khat-ta Rêu rao: "Go-ta-ma Không có thượng nhân pháp Ngài chỉ có giảng dạy Một con đường diệt khổ Chính Ngài đã tỏ ngộ Khiến tận diệt khổ đau." Xá lợi phất thuật lại Phật nghe, chỉ mỉm cười: "Kẻ ngu muốn chê bai Trở thành khen Như lai." B. Mười lực Phật Đối với kẻ ngu si Sẽ không có tùy pháp: "Ngài là đức Như lai Đầy đủ mười tôn hiệu: Là bậc A la hán Là đấng Chính đẳng giác Là đấng Minh hạnh túc Thiện thệ, Thế gian giải Là đấng Vô thượng sĩ Đấng Điều ngự trượng phu Đấng Thiên nhân sư, Phật Thế tôn, quý nhất đời. Đối với kẻ ngu si Sẽ không có tùy pháp Về mười Như lai lực Phật như thật chứng tri: Ngài có thần túc thông Biến hình nhiều thể loại Ngài đắc thiên nhĩ thông Nghe đủ tiếng các loài. Ngài có tha tâm thông Tự tâm biết tâm khác Đi sâu vào tâm niệm Của vô số sinh loài Với mười Như lai lực Phật rống tiếng Sư tử Chuyển xe Pháp thanh tịnh Thành địa vị Ngưu vương. "Thị xứ phi xứ lực" Việc có, không xảy ra Phật đều biết tỏ tường Nhờ liễu tri nhân quả. "Biết nghiệp báo ba đời" "đường đến các cảnh giới" "Các căn tính chúng sinh" Cùng "khuynh hướng mọi loài." "Biết căn tu mạnh, yếu" - tinh tấn niệm định tuệ - "Biết các thiền, giải thoát" - chư thiền tam muội lực. Ngài đắc "túc mệnh trí" biết các đời trước mình Và đắc "sinh tử trí" Biết sống chết chúng sinh Cuối cùng "lậu tận trí" Là trí sạch ô nhiễm Như lai đã thân chứng Thành Vô thượng bồ đề. Ngài rống tiếng sư tử Chuyển xe Pháp thanh tịnh Ở giữa tám hội chúng: Sát lợi, Bà la môn Gia chủ và sa môn Hội chúng Tứ thiên vương Ma vương và Phạm thiên Cùng Tam thập tam thiên. Giữa tám hội chúng ấy Ngài thuyết pháp vô ngại Nhờ đắc mười tự tại Và bốn Không sợ hãi: C. Bốn vô úy Không sợ ai chỉ trích "Chưa chứng nói đã chứng" Vì Như lai hoàn toàn Thâm nhập pháp sở chứng. Không sợ ai chỉ trích "Chưa đoạn nói đã đoạn" Vì Như lai thực sự Đã trừ sạch nhiễm ô. Không sợ ai bác bỏ "Chướng đạo, chướng gì đâu?" Vì Như lai biết rõ Có dục, không giải thoát. Không sợ ai phản bác "Pháp Ngài không giải thoát" Vì Pháp Như lai dạy Thực tận diệt khổ đau. D. Bốn sinh, Năm thú "Trứng sinh" và "thai sinh", "Thấp sinh" và "hóa sinh" - Hóa sinh ở nhiều cõi - Ấy là bốn sinh loài. Năm cõi là địa ngục, Bàng sinh và ngạ quỷ Loài người và chư thiên, Đây năm cõi tái sinh. Như lai biết thấy rõ Cõi nào đợi nghiệp nào Ngài cũng tuệ tri được Niết bàn và hành lộ. E. Bốn khổ hạnh: khổ, bần uế, độc cư, yểm ly Không một khổ hạnh nào Phật không từng tu tập Như ngoại đạo đang hành Và vượt xa hơn chúng. Không hạnh ở dơ nào Phật chưa từng sống qua Như ngoại đạo đang sống Ngài vượt họ rất xa. Ngài đã từng độc cư Nơi tuyệt dấu người ta Sống yểm ly, tỉnh giác Trải tâm từ lan xa. Ở trong bãi tha ma Đêm nằm gối xương ngủ Mục đồng đến khạc nhổ Trú xả, không kêu ca. Vì Ngài ăn quá ít Thân chỉ còn xương, da Dù khổ hạnh tối đa Không chứng thượng nhân pháp. Bởi thế, đây toàn là Sai lầm của ngoại đạo Mà Phật đã trải qua Các đời kiếp lâu xa: Tái sinh vô số lần, Tế tự và thờ lửa Tái sinh cõi này kia Với hy vọng giải thoát. Phật chứng lý Trung đạo Từ bỏ các cực đoan Hưởng lạc và ép xác Trường tồn và đoạn diệt Đạt hoàn toàn giải thoát Và trí tuệ biện tài Không tranh chấp cùng ai Vì không còn thủ trước. "Không bị si chi phối Ngài đã sinh ra đời Vì hạnh phúc an lạc Cho tất cả muôn loài Vì lòng thương tưởng đời Cả chư thiên, loài người." Một hữu tình như vậy Chính là đức Như lai. -ooOoo- Trích nguồn: Giáo trình do Ni sư Thích Nữ Trí Hải biên soạn, y cứ theo bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, với phần Anh ngữ của Hòa thượng Nanamoli Xem đầy đủ bài kinh: Đại Kinh Sư Tử Hống Chia sẻ
Tìm Hiểu Kinh Phật - TRUNG BỘ KINH - Đại kinh Sư tử hống
TRUNG BỘ KINH - BÀI KINH SỐ 12 Đại kinh Sư tử hống
I. TOÁT YẾU Mahàsìhanàda Sutta - The greater discourse on the lion's roar. The Buddha expounds the ten powers of a Tathàgata, his four kinds of intrepidity, and other superior qualities which entitle Him to "roar his lion's roar in the assemblies". Bài kinh dài nói về tiếng rống sư tử. Phật giảng về Mười lực của một đức Như lai, Bốn vô úy và những đức thù thắng khác; nhờ đó Ngài đủ tư cách "rống tiếng rống sư tử" trong các hội chúng. II. TÓM TẮT Tôn giả Xá lợi phất đi khất thực, về bạch lại với Phật lời rêu rao của Sunakkhatta vừa mới bỏ tu: "Sa môn Gotama không có tri kiến thù thắng, thuyết pháp do mình tạo ra sau khi suy luận, trắc nghiệm. Pháp ấy nhắm đến một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành đến chỗ đoạn tận khổ đau." Phật mỉm cười dạy: "Kẻ ngu ấy vì phẫn nộ muốn chỉ trích mà lại hóa ra ca tụng Như lai." Phần còn lại của Kinh này cho thấy sự chỉ trích của Sunakkhatta là sai lạc. Những ai có lòng tin tuyệt đối sẽ thấy ngược lại, Phật là đấng có mười lực, bốn vô úy và nhiều năng lực khác. A. Tùy pháp về Như lai: 1. Phật đủ mười hiệu là Như lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, vân vân. 2. Ngài đã chứng các thần thông như biến hóa, thiên nhĩ thông, tha tâm thông... 3. Nhờ đã thành tựu mười lực và bốn vô úy, mà Như lai tự nhận địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng và chuyển bánh xe Pháp. B. Những pháp Ngài đã tuệ tri: như bốn sinh, năm thú và con đường đưa đến đấy; niết bàn vàđường đưa đến niết bàn. C. Phật kể lại những khổ hạnh Ngài đã tu tập: như hành hạ thân xác, hạnh bần uế, hạnh yểm ly, hạnh độc cư; trong cả 4 hạnh ấy không ai sánh được với Ngài, nhưng cuối cùng Ngài từ bỏ vì chúng không đưa đến chứng đắc trí tuệ. D. Cuối cùng, Ngài bác bỏ những chủ trương sai lầm của ngoại đạo: như chủ trương chúng sinh đạt thanh tịnh nhờ luân hồi, nhờ tái sinh, nhờ an trú (trong một loại tái sinh nào đó), nhờ tế tự, nhờ thờ lửa. Phật cho biết không có cõi luân hồi nào ở đấy Ngài đã không trải qua một thời gian khá dài, không có cõi nào Ngài chưa từng tái sinh, an trú, chỉ trừ cõi trời Tịnh cư. Nếu Ngài tái sinh vào cõi Tịnh cư thì Ngài đã không trở lại thế gian này. Ngài cũng đã làm tất cả những việc tế tự, thờ lửa trong một thời gian dài lúc còn làm vua dòng Sát đế lợi, hay làm Bà la môn giàu có [nhưng không ích lợi gì]. Ngoại đạo cho rằng khi còn trẻ tuổi, người ta có trí tuệ, biện tài, nhưng về già thì lú lẫn. Ở trong giáo pháp của Phật thì không thế, Ngài có bốn đệ tử đã trên trăm tuổi mà vẫn đầy đủ trí tuệ biện tài. Và bản thân Ngài cũng thế, dù tuổi đã tám mươi, Ngài vẫn thừa sức giảng dạy cho những vị trí tuệ biện tài bậc nhất, và trí tuệ Ngài không sút giảm dù có phải bị gánh trên giường đi chỗ này chỗ kia (khi đã quá già yếu). Ai nói về đức Như lai một cách chân chính sẽ nói rằng: "Ngài là vị hữu tình không còn si ám, sinh ra đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chư thiên và loài người." Một điểm lý thú là kết luận kinh này. Tôn giả Nagasamala lúc ấy đang đứng sau lưng Phật mà quạt cho Ngài. Sau khi nghe Phật kể về thời gian tu khổ hạnh, về những gì Phật đã thành tựu, tôn giả cả cảm khái đến rởn ốc, và bạch Phật: "Thật vi diệu thay, bạch Thế tôn. Sau khi nghe kinh này, lông tóc con dựng ngược. Bạch Thế tôn, kinh này tên gì?" Phật dạy, "Thế thì hãy gọi là kinh Lông tóc dựng ngược." III. CHÚ GIẢI Sunakkhata, Phật giảng dạy vị này trong Kinh Sunakkhata, Trung bộ kinh 105, có lẽ trước khi ông gia nhập tăng đoàn. Việc thối thất của ông được nói trong Kinh Pàtika thuộc trường bộ 24. Ông bất mãn bỏ về vì Phật không biểu diễn thần thông cho ông xem, cũng không giải đáp cho ông về khởi nguyên các pháp. Cốt lõi lời chỉ trích của Sunakkhata là Phật đắc đạo nhờ tư duy chứ không phải nhờ trí tuệ siêu việt; và theo ông ta, mục đích diệt tận đau khổ không bằng có được các loại thần thông. Tạp nhiễm, sankilesa - là dự phần vào thối giảm, "thanh tịnh" vodàna, là dự phần vào tăng tiến; "xuất khởi" - vutthàna - vừa có nghĩa tịnh hóa vừa có nghĩa ra khỏi một thiền chứng. Mười danh hiệu Phật: Như lai, A la hán, Chính đẳng giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế tôn. Mười lực là: 1. Trí biết thị xứ phi xứ [do thấy rõ tương quan nhân quả, nên biết được cái gì có thể xảy đến, không thể xảy đến.] 2. Trí biết nghiệp báo trong cả ba thời quá, hiện, vị lai. 3. Biết con đường đưa đến các cảnh giới. 4. Biết tất cả yếu tố tạo thành thế gian [nói rõ trong kinh Trung bộ 115.] 5. Biết chí hướng sai biệt của các loại hữu tình; biết các hạng chúng sinh thượng, trung, hạ, chúng thu hút lẫn nhau do luật đồng thanh đồng khí. 6. Biết căn mạnh hay yếu nơi chúng sinh - tức 5 căn tín tấn niệm định tuệ. 7. Tuệ tri sự tạp nhiễm, thanh tịnh, sự xuất khởi các thiền chứng về thiền, giải thoát, định. 8. Trí biết tất cả kiếp trước của bản thân gọi là túc mạng trí. 9. Trí biết sự sống chết của chúng sinh tùy theo nghiệp hay sinh tử trí. 10. Lậu tận trí, sạch hết tất cả nhiễm ô. [Hán văn: 1. Tri thị xứ phi xứ lực; 2. Tri tam thế nghiệp báo lực; 3. Tri nhất thiến đạo trí lực; 4. Tri thế gian chủng chủng tính lực; 5. Tri tha chúng sinh chủng chủng dục lực; 6. Tri tha chúng sinh chư căn thượng hạ lực; 7. Tri chư thiền tam muội lực; 8. Túc mạng trí; 9. Sinh tử trí; 10. Lậu tận trí.] Bốn vô úy: 1. Phật không lo sợ bất cứ ai trên đời chỉ trích Ngài chưa chứng mà mạo nhận. 2. Không sợ ai chỉ trích Ngài chưa đoạn trừ lậu hoặc mà tự cho đã đoạn trừ. 3. Những gì Ngài dạy chướng ngại đạo chắc chắn là chướng ngại, không sợ ai nói ngược lại. 4. Pháp Ngài dạy chắc chắn dẫn đến đoạn tận đau khổ, không ai có thể bảo là không. Nagasamala là thị giả Phật trong 20 năm đầu sau khi Ngài ra giáo hoá. IV. PHÁP SỐ Bốn khổ hạnh: khổ hạnh, bần uế, viễn ly, độc cư. Bốn vô úy Bốn sinh: noãn, thai, thấp, hóa. Năm thú: năm chỗ mà sự tái sinh hướng đến, là trời (gồm a tu la), người, địa ngục, ngạ quỷ, bàng sinh. Sáu thông Tám giải thoát được kể trong các kinh Trung bộ 77 và 137. Tám hội chúng: Sát lợi, bà la môn, gia chủ, sa môn, tứ thiên vương, ma vương và phạm thiên, tam thập tam thiên. Chín định là 4 thiền, 4 không và diệt thọ tưởng. Mười danh hiệu Phật Mười lực Mười hai nhân duyên V. KỆ TỤNG A. Nguyên nhân thuyết kinh này Một người từ bỏ Pháp Tên Su-na-khat-ta Rêu rao: "Go-ta-ma Không có thượng nhân pháp Ngài chỉ có giảng dạy Một con đường diệt khổ Chính Ngài đã tỏ ngộ Khiến tận diệt khổ đau." Xá lợi phất thuật lại Phật nghe, chỉ mỉm cười: "Kẻ ngu muốn chê bai Trở thành khen Như lai." B. Mười lực Phật Đối với kẻ ngu si Sẽ không có tùy pháp: "Ngài là đức Như lai Đầy đủ mười tôn hiệu: Là bậc A la hán Là đấng Chính đẳng giác Là đấng Minh hạnh túc Thiện thệ, Thế gian giải Là đấng Vô thượng sĩ Đấng Điều ngự trượng phu Đấng Thiên nhân sư, Phật Thế tôn, quý nhất đời. Đối với kẻ ngu si Sẽ không có tùy pháp Về mười Như lai lực Phật như thật chứng tri: Ngài có thần túc thông Biến hình nhiều thể loại Ngài đắc thiên nhĩ thông Nghe đủ tiếng các loài. Ngài có tha tâm thông Tự tâm biết tâm khác Đi sâu vào tâm niệm Của vô số sinh loài Với mười Như lai lực Phật rống tiếng Sư tử Chuyển xe Pháp thanh tịnh Thành địa vị Ngưu vương. "Thị xứ phi xứ lực" Việc có, không xảy ra Phật đều biết tỏ tường Nhờ liễu tri nhân quả. "Biết nghiệp báo ba đời" "đường đến các cảnh giới" "Các căn tính chúng sinh" Cùng "khuynh hướng mọi loài." "Biết căn tu mạnh, yếu" - tinh tấn niệm định tuệ - "Biết các thiền, giải thoát" - chư thiền tam muội lực. Ngài đắc "túc mệnh trí" biết các đời trước mình Và đắc "sinh tử trí" Biết sống chết chúng sinh Cuối cùng "lậu tận trí" Là trí sạch ô nhiễm Như lai đã thân chứng Thành Vô thượng bồ đề. Ngài rống tiếng sư tử Chuyển xe Pháp thanh tịnh Ở giữa tám hội chúng: Sát lợi, Bà la môn Gia chủ và sa môn Hội chúng Tứ thiên vương Ma vương và Phạm thiên Cùng Tam thập tam thiên. Giữa tám hội chúng ấy Ngài thuyết pháp vô ngại Nhờ đắc mười tự tại Và bốn Không sợ hãi: C. Bốn vô úy Không sợ ai chỉ trích "Chưa chứng nói đã chứng" Vì Như lai hoàn toàn Thâm nhập pháp sở chứng. Không sợ ai chỉ trích "Chưa đoạn nói đã đoạn" Vì Như lai thực sự Đã trừ sạch nhiễm ô. Không sợ ai bác bỏ "Chướng đạo, chướng gì đâu?" Vì Như lai biết rõ Có dục, không giải thoát. Không sợ ai phản bác "Pháp Ngài không giải thoát" Vì Pháp Như lai dạy Thực tận diệt khổ đau. D. Bốn sinh, Năm thú "Trứng sinh" và "thai sinh", "Thấp sinh" và "hóa sinh" - Hóa sinh ở nhiều cõi - Ấy là bốn sinh loài. Năm cõi là địa ngục, Bàng sinh và ngạ quỷ Loài người và chư thiên, Đây năm cõi tái sinh. Như lai biết thấy rõ Cõi nào đợi nghiệp nào Ngài cũng tuệ tri được Niết bàn và hành lộ. E. Bốn khổ hạnh: khổ, bần uế, độc cư, yểm ly Không một khổ hạnh nào Phật không từng tu tập Như ngoại đạo đang hành Và vượt xa hơn chúng. Không hạnh ở dơ nào Phật chưa từng sống qua Như ngoại đạo đang sống Ngài vượt họ rất xa. Ngài đã từng độc cư Nơi tuyệt dấu người ta Sống yểm ly, tỉnh giác Trải tâm từ lan xa. Ở trong bãi tha ma Đêm nằm gối xương ngủ Mục đồng đến khạc nhổ Trú xả, không kêu ca. Vì Ngài ăn quá ít Thân chỉ còn xương, da Dù khổ hạnh tối đa Không chứng thượng nhân pháp. Bởi thế, đây toàn là Sai lầm của ngoại đạo Mà Phật đã trải qua Các đời kiếp lâu xa: Tái sinh vô số lần, Tế tự và thờ lửa Tái sinh cõi này kia Với hy vọng giải thoát. Phật chứng lý Trung đạo Từ bỏ các cực đoan Hưởng lạc và ép xác Trường tồn và đoạn diệt Đạt hoàn toàn giải thoát Và trí tuệ biện tài Không tranh chấp cùng ai Vì không còn thủ trước. "Không bị si chi phối Ngài đã sinh ra đời Vì hạnh phúc an lạc Cho tất cả muôn loài Vì lòng thương tưởng đời Cả chư thiên, loài người." Một hữu tình như vậy Chính là đức Như lai. -ooOoo- Trích nguồn: Giáo trình do Ni sư Thích Nữ Trí Hải biên soạn, y cứ theo bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, với phần Anh ngữ của Hòa thượng Nanamoli Xem đầy đủ bài kinh: Đại Kinh Sư Tử Hống Chia sẻ Nhãn
Chia sẻNhận xét
Đăng nhận xét
BÀI ĐĂNG PHỔ BIẾN
Kinh Tăng Chi Bộ - 10 kiết sử
(III) (13) Các Kiết Sử 1. - Này các Tỷ-kheo, có mười kiết sử này. Thế nào là mười? 2. Năm hạ phần kiết sử, năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm hạ phần kiết sử? 3. Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Ðây là năm hạ phần kiết sử. Chia sẻ Đọc thêm »Thiền Vipassana - Thiền Tứ Niệm Xứ (Thích Trí Siêu)
Thiền Tứ niệm xứ (Thích Trí Siêu - 1998) _______________________ Mục Lục [1] Vài lời cùng bạn đọc [2] Mở đầu [3] Tứ Niệm Xứ và Bát Nhã Tâm Kinh [4] Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông [5] Thiền và Tịnh Ðộ [6] Tứ Niệm Xứ và Bồ Tát Ðạo [7] Phương pháp hành thiền Tứ Niệm Xứ [8] Kết luận [9] Phụ Lục - Kinh Quán Niệm Sách Thiền Tứ Niệm Xứ đã được tái bản nhiều lần. Riêng trong kỳ tái bản này sách được bổ túc thêm phần Phụ Lục với Kinh Niệm Xứ, dịch từ "Discourse on the Applications of Mindfulness" (Satipatthanasutta) trong "Middle Length Sayings" (Trung Bộ Kinh) của Pali Text Society, I.B. Horner, 1967. Chia sẻ Đọc thêm »Kinh Tương Ưng Bộ - Tham luyến
I. Tham Luyến (Tạp 2, Ðại 2,9a) (S.iii,53) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, tham luyến là không giải thoát. Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh. 4) Hay do tham luyến thọ ... tham luyến tưởng ... tham luyến hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh. 5) Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, sự tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức", sự việc như vậy không xảy ra. 6-10) Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới... đối với t... Chia sẻ Đọc thêm »TÌM HIỂU KINH PHẬT - TƯƠNG ƯNG BỘ TẬP 3 - Chương 9 - Tương Ưng Kim Xí Ðiểu
PHẦN CHÁNH KINH KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 3 [30] Chương IX: Tương Ưng Kim Xí Ðiểu I. Chủng Loại (S.iii,246) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Kim xí điểu về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Kim xí điểu từ trứng sanh, loại Kim xí điểu từ thai sanh, loại Kim xí điểu từ ẩm ướt sanh, loại Kim xí điểu hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Kim xí điểu. II. Mang Ði (Tăng 19, Ðại 2, 646a) (S.iii,247) 1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi... 3) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Kim xí điểu về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Kim xí điểu từ trứng sanh... loại Kim xí điểu hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Kim xí điểu. 4) Tại đây, này các Tỷ-kheo, các loại Kim xí điểu từ trứng sanh chỉ mang đi các loại Nàga từ trứng sanh, không mang đi các loại Nàga từ thai sanh, từ ẩm ướt sanh và hóa sanh. 5) Tại đây, này các Tỷ-kheo, các loại Kim xí điểu từ thai sanh, mang đi các loại Nàga từ trứng sanh và các loại Nàga từ thai sanh, không mang đi các loại Nàga từ ẩm ướt sanh và các loại... Chia sẻ Đọc thêm »Kinh Tương Ưng Bộ - Sức mạnh của Đàn Bà
30. VI. Họ Ðuổi Ði (S.iv,247) 1) ... 2) -- Này các Tỷ-kheo, người đàn bà có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, sức mạnh giới hạnh. 3) Này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc và sức mạnh tài sản, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. Và này các Tỷ-kheo, nếu người đàn bà đầy đủ sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, nhưng không có sức mạnh giới hạnh, thời họ đuổi người đàn bà ấy, không cho ở trong gia đình. 4) Này các Tỷ-kheo, người đàn bà đầy đủ sức mạnh giới hạnh,... Chia sẻ Đọc thêm »Kinh Tương Ưng Bộ - Vô ngã tưởng
VII. Năm Vị (Vô ngã tưởng) (Ðại 2,7c) (Luật tạng, Ðại phẩm q.1, từ trang 3) (S.iii,66) 1) Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển. 2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: 3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!" 4) Và này các Tỷ-kheo, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!" Chia sẻ Đọc thêm »Kinh Tương Ưng Bộ - Ví dụ mũi tên
6. VI. Với Mũi Tên (S.iv,207) 1-2) ... 3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. 4) Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. 5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu? Chia sẻ Đọc thêm »Kinh Tương Ưng Bộ - Dục là căn bản của Khổ
XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha (S.iv,327) 1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla. 2) Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. 3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn: -- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ! -- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ"; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai"; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta ... Chia sẻ Đọc thêm »Kinh Tăng Chi Bộ - Ác ý
(VIII) (18) Con Cá 1. Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Trong khi đi giữa đường, Thế Tôn thấy tại một chỗ nọ, một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá. Thấy vậy, Ngài bước xuống đường và ngồi xuống trên chỗ đã sửa soạn dưới một gốc cây. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo: 2. - Này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy người đánh cá kia, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá? - Thưa có, bạch Thế Tôn. - Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: "Một người đánh cá, sau khi bắt cá, giết cá, đang bán cá; do nghiệp ấy, do mạng sống ấy, được cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, cưỡi cỗ xe, được thọ hưởng các tài sản, hay được sống giữa tài sản lớn hay tài sản chất đống"? - Thưa không, bạch Thế Tôn. Chia sẻ Đọc thêm »Kinh Trung Bộ - 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi
27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi (Cùlahatthipadopama sutta) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Bà-la-môn Janussoni, với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành Savatthi. Bà-la-môn Janussoni thấy Du sĩ Pilotika từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika: -- Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu về sớm như vậy? -- Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama đến đây. -- Tôn giả Vacchayana nghĩ thế nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem Sa-môn Gotama là bậc có trí không? -- Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Sa-môn Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt. Chia sẻ Đọc thêm »- Trang Chủ
- Giới Thiệu
- Điều khoản dịch vụ và chính sách quyền riêng tư
DANH MỤC
- 1. Kinh Trường Bộ
- 2. Kinh Trung Bộ
- 3. Kinh Tương Ưng Bộ
- 4. Kinh Tăng Chi Bộ
- 5. Kinh Tiểu Bộ
- Chuyện Kể Đạo Phật
- ĐỨC PHẬT và PHẬT PHÁP
- Đường Xưa Mây Trắng
- GIÁO TRÌNH PHẬT HỌC
- Hướng Dẫn Đọc
- Mi Tiên Vấn Đáp
- Thiền Vipassana
- Tìm Hiểu Kinh Phật
- Tìm Hiểu Kinh Phật - 01. Kinh Trường Bộ
- Tìm Hiểu Kinh Phật - 02. Kinh Trung Bộ
- Tìm Hiểu Kinh Phật - 03. Kinh Tương Ưng Bộ
- Tổng Hợp
- Videos
Theo dõi để nhận bài đăng mới nhất:
Theo dõiBlog Ưa Thích
- Cây Thuốc và Vị Thuốc
- Blog Đinh Thắng
- Chuyển Chữ Thành Giọng Nói
- Thủ Thuật Văn Phòng
- Vui Khỏe Có Ích
- Văn Hóa Xã Hội
- Blog Xuân Châu
Từ khóa » Sư Tử Hống Phật
-
Tự điển - Sư Tử Hống - .vn
-
Nghĩa Của Sư Tử Hống Là Gì? Có Liên Hệ Gì Đến Lời Đàm Dân ...
-
Phẩm 23 Sư Tử Hống Bồ Tát - Giảng Giải Kinh - THƯ VIỆN HOA SEN
-
Sư Tử Hống? | KINH ĐIỂN PHẬT PHÁP
-
12. Ðại Kinh Sư Tử Hống - SuttaCentral
-
Sư Tử Hống Linh Vật Thường Nhắc đến Trong Kinh Phật
-
Kinh Đại Bát Niết Bàn – Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống - Phần 1
-
Kinh Trung Bộ 12 (Đại Kinh Sư Tử Hống) - Thích Nhật Từ - YouTube
-
Sư Tử & Linh Cẩu | Giác Ngộ Online
-
TIỂU KINH SƯ TỬ HỐNG - Bhik Samādhipuñño Định Phúc
-
SƯ TỬ HỐNG | Gia Đình Phật Tử Việt Nam Trên Thế Giới - Gdptthegioi
-
Sư Tử Hống - Wiktionary Tiếng Việt
-
Đôi điều Về Hình Tượng Sư Tử | Giác Ngộ Online
-
SƯ TỬ HỐNG QUAN ÂM OM AH HRI... - Phật Giáo Diệu Thoát
-
By Đức Đạt Lai Lạt Ma | Tâm Chú Quán Âm Sư Tử Hống - Facebook
-
Tư Tưởng Thắng Man Sư Tử Hống Từ Góc Nhìn Như Lai Tạng (PDF)
-
Đại Kinh Sư Tử Hống - Toai Khanh
-
103. Kinh Sư Tử Hống