Văn Học Dân Gian Q.Trị...Sưu Tầm - Văn Thiên Tùng

Văn Thiên Tùng   - HƯƠNG THỜI GIAN

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Văn học dân gian Q.Trị...Sưu tầm

VĂN HỌC DÂN GIAN Quảng Trị là một vùng đất giàu có vốn văn hoá phi vật thể, trong đó văn học dân gian có vị trí hết sức đặc biệt. Văn học dân gian Quảng Trị là sản phẩm chứng tỏ sức sống mãnh liệt của dòng văn học truyền khẩu. Xét giá trị nội dung và nghệ thuật, văn học dân gian Quảng Trị có những nét riêng, đóng góp cho văn học dân gian Việt Nam thêm phần phong phú. Văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại (huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện cười, tuồng hài…) song phong phú,đa dạng và giàu màu sắc địa phương và có thể phân thành 4 mảng chính là ca dao-dân ca, Tục ngữ-câu đố, Truyền thuyết-cổ tích-truyện trạng, hò vè Ca dao - Dân ca Nói đến dân ca là nói đến phương thức diễn xướng (bao gồm cả hình thức diễn xướng và môi trường diễn xướng) và các làn điệu. Dân ca lấy khung cảnh làng quê, đồng ruộng, mái đình, giếng nước, cây đa… làm môi trường diễn xướng. Ca hát gắn với con người từ khi lọt lòng đến khi nhắm mắt xuôi tay. Ca hát gắn với lao động, với sinh hoạt giải trí vui chơi, với sinh hoạt gia đình, sinh hoạt thôn xóm… Nhưng tuỳ nơi tuỳ lúc, tuỳ đối tượng sử dụng và thưởng thức mà lúc nó được hát bằng hình thức tập thể, lúc thì chỉ một cá nhân biểu diễn. Ca dao- dân ca của bất cứ miền nào trước hết cũng là tiếng ca của nghĩa tình, tiếng nói của yêu thương. Trong sinh hoạt gia đình, làng xã, lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi, khi tiếng nói của con tim đã đã ở cung bậc cao nhất, người lao dộng dùng lời ca để bày tỏ tâm tình trước cảnh vật, trước những biến diễn của cuộc đời và trao đổi tâm tình với nhau. Tính trữ tình, bởi vậy thấm đượm trong nội dung lẫn âm điệu của các khúc hát dân gian. Một chút buồn thoáng qua của con người trước cảnh vật: Chim kêu ghềnh đá gẫm thân thêm buồn Một tình cảm thành kính dâng lên cha mẹ: Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già Việc tìm kế sinh nhai nhưng người Quảng Trị luôn nhớ về quá khứ, nào công cha, nghĩa mẹ vô bờ bến, tình nghĩa vợ chồng keo sơn, gán bó dù sông cạn đá mòn: Mẹ thương con qua cầu Ái Tử Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu Một mai bóng xế trăng lu Con ve kêu mùa hạ biết mấy thu gặp chàng Tiếp xúc với ca dao – dân ca Bình Trị Thiên, ta thấy có nhiều cách biểu đạt khác nhau về những khía cạnh tinh tế, phức tạp của tình cảm con người. Có bài ca dao hết sức mộc mạc, mộc mạc như là lời ăn tiếng nói hàng ngày, diễn đạt một tiếng long cũng hết sức giản dị, chân thực: Đôi ta thương chắc mần ri Bọ mẹ mần rứa, eng thì mần răng? Có trường hợp là một tiếng nói mạnh mẽ, quyết liệt đấu tranh cho một nguyện vọng, một ước mơ một sự trọn vẹn của nghĩa tình. Thiếp thương chàng gươm vàng không sợ Súng bắn chin, mười lần duyên nợ không buông. Chẳng thà chịu tiếng cho luôn Gươm trường kề cổ không buông nghĩa chàng. Ai về Bích La Đông khỏi lòng đau xót ruột Ai về An Hoà khỏi hậm hực thù Tây Mồ mả cha ông hắn cho xe xới, xe cày Bao nhiêu oan hồn nước mắt nghĩ lại trăm đắng nghìn cay căm thù. - Bánh cả mâm răng gọi là bánh ít Trầu cả chợ răng nói trầu không Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi - Chuối không qua Tây răng gọi là chuối sứ ? Cây không biết chữ răng gọi là thông ? Nam nhơn đà đối đặng quyết làm chồng nữ nhi Trong lời hò đối đáp, lối ứng xử thật thông minh: Ngồi buồn nói chuyện trên non Một trăm thứ cá có con không thằng Khi chọc ghẹo nhau vẫn giữ lối văn nhã: Em mở khuôn ra cho anh đúc lấy lượng vàng Hoạ may may hoạ thiếp với chàng dùng chung - Anh về thưa với hai họ rõ ràng Mời thân nhân lại, em mở khuôn vàng cho coi Quảng Trị là vùng đất thành lập sau khi nước ta đã định hình hàng nghìn năm trước. Văn học dân gian vùng này là sản phẩm của những con người có gốc từ Thanh Nghệ truyền vào. Qua cuộc sống chung với dân bản địa ở vùng đất mới, dần dần con người ở đây mới tạo được một phong cách riêng. Sự giao lưu văn hoá thế tất phải xảy ra. Ca dao là thể loại để lại những dấu vết rõ rệt trong ngôn ngữ văn học Truyện truyền thuyết - Cổ tích - Truyện trạng Truyền thuyết ở Quảng Trị phong phú, những truyền thuyết về tên đất, tên làng, và kể lại sự nghiệp của những người có công khai sinh ra làng xã là khá phổ biến trong dân gian. “Nguồn gốc Câu Nhi”, “ Nguồn gốc Như Lệ” là hai truyền thuyết tiêu biểu giải thích làng xã Quảng Trị. Các truyền thuyết về đền- tháp- miếu- chùa như “Sự tích tháp Dương Lệ và tháp Trung Đan”, “ Đề Tương Hầu”, “ Miếu Tương Nghè”…đã vẽ lại một giai đoạn lịch sử lâu đời lúc thần linh còn ngự trị khá sâu sắc trong tư tưởng của nhân dân.. Qua các truyền thuyết đó, ta thấy được lòng tôn trọng văn hoá, biết ơn những vị có công với đất nước, quê hương Truyện cổ tích Mang một nội dung khác. Đó là những chuyện phản ánh tâm tư, nguyện vọng của con người, đề cập đến những tình cảm riêng tư trong sinh hoạt cá nhân, gia đình và xã hội. Hệ tư tưởng nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong các truyện cổ. Nhiều truyện nêu bật các đức tính chung thủy, hiền hậu, đảm đang, cần kiệm. Truyện” Vác mía tìm dâu”, “Tình mẹ con” có mục đích khuyến dụ thanh niên nam nữ giữ gìn và phát triển những đức tính ấy để bảo vệ tình cảm, đạo đức trong cuộc sống gia đình. Truyện” Vợ làm quan cho chồng” đề cao người vợ khôn ngoan cũng là truyện có khuynh hướng đạo lý… Có thể nói các truyện cổ tích dân tộc kinh tại vùng đất Quảng trị dù phương thức diễn đạt khác nhau, có truyện mang tính thần kỳ, có truyện mang tính khôi hài… nhưng nhìn chung xu hướng trong các truyện cổ là đe cao đạo lý làm người. So với truyện cổ dân tộc kinh thì truyện cổ miền núi Quảng Trị phong phú hơn. Một số truyện cổ tích có tính suy nguyên luận như “ Sự tích sao hôm sao mai” (Tà ôi), “ Tình nghĩa gà vịt” (Vân kiều)…phản ánh sinh hoạt xã hội, có mục đích khuyến giáo đạo lý làm người, đề cao sự chung thuỷ, phê phán những hạng xảo trá, lừa đảo trong quan hệ gia đình, xã hội. Truyện cổ tích thần kỳ miền núi khá hấp dẫn ở những yếu tố người thần, vật thần. Truyện “Con voi thần” hấp dẫn ở nội dung độc đáo, thể hiện sự chất phác cùng sự dung dị trong nếp sống, nếp nghĩ của dân tộc miền núi. Tư tưởng bao trùm lên các truyện cổ là điều thiện thắng điều ác, tình yêu chung thuỷ luôn được đề cao, những kẻ thống trị tàn bạo luôn bị lên án, cuối cùng bị trừng phạt. Nghệ thuật xây dựng truyện được cấu trúc trên hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện, từ đó chủ đề truyện được bộc lộ. Trong kho tàng truyện kể Quảng Trị, truyện cười cũng chiếm số lượng lớn và vô cùng phong phú. Đặc biệt vùng đất Như Lệ khô cằn lại tập hợp một khối lượng truyện cười đáng kể. Đáng chú ý hơn cả là truyện Trạng Vĩnh Hoàng. Nghệ thuật kể truyện Trạng Vĩnh Hoàng tuy cũng dùng biện pháp khoa trương, phóng đại, nhưng dựa trên cơ sở hiện thực như chuyện "Trâu đen trâu bạc" là để phóng đại dưa hấu ở Vĩnh Hoàng, chuyện "Mắc cọp mà cày" là để phóng đại việc người Vĩnh Hoàng ngày trước đi cày rất sớm và vùng này cũng nổi tiếng có nhiều cọp như ở Thuỷ Ba. Về phương thức phóng đại, người Vĩnh Hoàng không dùng lối trực tiếp mà diễn tả bằng lối gián tiếp. Để chỉ quả dưa khổng lồ, họ không so sánh quả dưa đó với vật thể nào mà diễn đạt một cách thông minh hơn: dưa mà đạn bắn vào mắc kẹt không ra được, cả đàn quạ chui vào ruột khoét dưa ăn, rồi mang cả dưa lẫn quạ bay lên cao. Truyện Trạng Vĩnh Hoàng đã nêu bật được bản sắc độc đáo của con người Việt Nam ở Vĩnh Hoàng. Tuy là truyện Trạng nhưng vẫn có một giá trị hiện thực. Đây không phải là những truyện bông lơn, nói láo một cách hời hợt dễ dãi mà xây dựng từ những thành quả lao động và chiến đấu. Giá trị ấy cần phải được khẳng định khi xét đến mối tương quan của nó với các loại truyện khác như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn... Ngoài ra, một loại truyện khác mang tính chất vui tươi, hài hước, thú vị và nhẹ nhàng là các giai thoại dân gian. Phần lớn những giai thoại này xuất phát từ những cuộc hò đâm bắt, hò môi miếng. Có những giai thoại tập trung vào một nhân vật như thợ Thiềm. Thợ Thiềm được lưu truyền trong dân gian nhờ tài năng, sự thông minh nhanh nhẹn trong cuộc hò đối đáp, nhưng nhiều lúc, thợ Thiềm cũng phải chịu thua trước nữ nhi. Tục ngữ - Câu đố Tục ngữ và câu đố là hai thể loại suy lý phổ biến ở Quảng Trị . Cũng như ở các nơi khác, tục ngữ Quảng Trị được phân làm hai tiểu loại: Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết và sản xuất. Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về đời sống xã hội. Đây là phần quan trọng nhất là mọi người cần quan tâm khi viết về đề tài ca dao- tục ngữ Nhìn chung, kinh nghiệm của nhân dân ở đau cũng tương tự như nhau. Ở Quảng Trị có những câu tục ngữ phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết như sau: Chớp ngã Cồn Tiên; Mưa liền một trộ; hoặc : Sấm Đầu mâu không cầu cũng đến. Lại có những câu đề cập đến sản vật đặc biệt của từng địa phương. Chính qua những câu tục ngữ này, chúng ta lại càng hiểu sâu sắc hơn văn hoá vật chất của vùng đất Quảng Trị: -Nem chợ Sãi, vải La Vang -Khoai quán Ngang, dầu tràm Đại Nại -Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ - Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông -Cá bống Bích La, gà Trại Lộc... Kinh nghiệm về đời sống xã hội có những câu thật xác đáng và thực tế: -Chạy lóc xóc không bằng góc vườn -Nhiều nghề cá trê húp nác(nước) Người miền núi cũng bày tỏ kinh nghiệm của họ: - Đừng mau phai như hoa Toang-a-rát - Đừng chóng bạc như vôi - Xách bầu phải xem quai - Địu con phải xem vải buộc - Làm cỏ phải xem cán nắm Về hình thức nghệ thuật, các câu tục ngữ ở Quảng Trị thường hợp vần theo lối yêu vận chứ không theo lối cước vận. Câu đố Quảng Trị có thể phân thành những tiểu loại: -Về những bộ phận cơ thể của con người -Về những hoạt động của con người -Về các con vật -Về các loại cây trái -Về các sự vật hiện tượng khác. Qua những câu đố ấy, ta thấy được sự tinh vi trong những nhận xét về sự vật, con vật sống cạnh người, như đố về con gà trống: Đầu rồng, đuôi phụng cánh tiên Ngày năm bảy mụ tối ngủ riêng một mình. Hoặc con chó : Khen ai nho nhỏ Mắt tỏ như gương Tối trời như mực Biết người thương ra chào Có nhiều khi sự liên tưởng vô cùng sâu sắc. Đố về cau, trầu, vôi có câu: Hai cây cao đã nên cao Một người dưới rào xa đã nên xa Ba người họp lại một nhà Kết duyên phu phụ duyên đà mặn duyên Có thể nói sự thông minh dí dỏm, óc nhận xét tinh vi của người Quảng Trị đều được thể hiện trong câu đố: Da non mà bọc lấy xương Lửa cháy trên đầu chúa chẳng thương Đêm năm canh tiêu hao mình thiếp Nghĩ đến đoạn trường nước mắt nhỏ sa ( Cây đèn sáp) Một mẹ sinh đặng ngàn con Trai có gái có , tài khôn rõ ràng Mặt trời đã xế vàng vàng Con xa ngái mẹ lại càng thương thay Cách nhau đã bốn năm ngày Con lại gặp mẹ mừng thay là mừng (Phiên chợ Cam Lộ) Một số câu đố khác theo lối "đố tục giảng thanh" cũng thường được nhân dân Quảng Trị vận dụng để sáng tác. Hò vè Hò địch vận ở Như Lệ vốn là biến điệu của hò mái nhì nhưng vang xa như tiếng ngân vút cao mạnh mẽ phát ra từ con tim yêu nước nồng nàn. Tiếng hò Như Lệ là nét độc đáo trong dân ca kháng chiến Quảng Trị, nó đã phát huy tác dụng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Vè là một thể loại kể chuyện bằng văn vần phổ biến ở Quảng Trị, phát triển mạnh vào thế kĩ XIX. Vè Quảng Trị cũng như các nơi khác, phần lớn là những bài có dung lượng vừa phải được sáng tác theo thể lục bát, hoặc tứ tự, song thất lục bát. Một số bài nổi bật với nội dung mang tính xã hội sâu sắc. Đó là loại vè thế sự. Vè "Mẹ Hẹ" là một sáng tác độc đáo. Hình thức sáng tác gần như lối thoại kịch với lời đối đáp của hai nhân vật: cô Hẹ và quan huyện. Nội dung bài vè kể lại câu chuyện cô Hẹ vào tuổi xuân tình phơi phới đã bị quan huyện lừa phỉnh. Sau khi để lại một bầu thai cho cô Hẹ, quan huyện ấy đã tàn nhẫn đuổi cô Hẹ ra khỏi nhà. Cô Hẹ nuốt hận trở về nhà mẹ. Sau khi sinh nở, thấy cô vẫn còn xuân sắc, quan huyện lại giở trò tán tỉnh. Cô đã vạch trần thói bạc tình, bạc nghĩa của tên quan này bằng một ngôn ngữ cay chua, mang sắc thái địa phương đậm đà mà không phải bài vè nào cũng thể hiện được. Xoay quanh thể loại này có những giai thoại mà mỗi khi quây quần bên ấm chè xanh hoặc đôi phút giải lao nơi đồng áng thường được người dân truyền tụng. Chuyện ông Bộ ở làng Gia Độ và O Thơi ở làng Xuân Thành là một trong số đó. Ông Bộ là người nho nhã, có vốn nho học. Tuy đã có gia đình nhưng lại rất say mê hò hát. Còn O Thơi là một gái chưa chồng, tài sắc vào đám nhất vùng thời ấy. Một hôm, gặp O Thơi quang gánh di chợ qua cánh đồng giáp hai làng, ông Bộ nổi hứng cất câu hò: “ Buôn bán chi chi rày lời mai lỗ, vất quách thúng rỗ theo anh. Một mai công toại danh thành, ta ngồi chung kiệu hành đó đây” Không hề chần chừ nghĩ ngợi lâu, O Thơi cất giọng hò đối lại ngay lập tức: “ Chữ thánh hiền dược mấy pho mấy bộ, dám huênh hoang xuất lộ vi hành? Một mai đỗ đạt thành danh, đã có O Tam thể nó đợi anh kết nguyền” Ông Bộ đỏ mặt vì câu hò cay độc. Ai đời đường là một đấng trượng phu ra rứa lại cho rằng chỉ có con mèo tam thể mới lấy anh! Vẫn cái máu mê gái lại mê hò, một hôm vợ ông Bộ chuyển bụng sắp sinh, nhà lại hết dầu, vợ ông bảo ông xuống chợ mua dầu. Vừa ra đến đầu ngõ gặp cô Thơi đang đang mò cá. Hai người đối đáp đến nổi quên cả mặt trời đã xuống núi. Bỗng ông Bộ cất lên một câu hò trêu chọc rằng: “ Cảm thương cho Em sớm thì lăn đồng cạn, chiều lại lặn đồng sâu. Con tôm con tép liệu được mấy đồng xu”. O Thơi hò đáp lại: “ Chứ làm ra năm trự mười đồng, trước ngon cơm anh sau lành áo mẹ để tỏ tấm lòng nàng dâu” Cũng cần đề cập thêm một nội dung khác cũng khá phong phú của vè Quảng Trị, đó là vè kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài bao nhiêu năm trên đất Quảng Trị khô cằn là đề tài cho hàng trăm bài vè phản ánh những nỗi khổ cực của người dân trong cuộc chiến tranh xâm lược, nêu bật tinh thần chiến đấu ngoan cường của nhân dân ở một vùng đất có truyền thống đấu tranh. Bao năm tháng qua, văn học dân gian Quảng Trị đã sống cùng nhịp sống của dân tộc bằng tiếng nói hồn hậu, trung thực của mình, ngân vang bằng giọng hò thiết tha, trìu mến thân thương cho đến ngày nay. Nguồn inter... TỤC NGỮ- THÀNH NGỮ & CÂU ĐỐI - CÂU ĐỐ DÂN GIAN Quảng Trị TỤC NGỮ- THÀNH NGỮ QUẢNG TRỊ: - Đất Trung An, gan Mai Xá, Đá Hảo Sơn- Nem chợ Sãi, vải La Vang - Khoai quán Ngang, dầu tràm Đại Nại -Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ - Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông - Cá bống Bích La, gà Trại Lộc... - Muốn dòm l... qua cồn Nhỉ Hạ. - Chạy lóc xóc không bằng góc vườn - Nhiều nghề cá trê húp nác (nước) - Mua heo lựa nái, cưới gái lựa dòng - Miếng thịt làng bằng sàng thịt chợ - Lợi thì nuôi heo nái, hại thì nuôi bồ câu - Mua trâu lại sẹo, mua heo lại rọ - Khôn cho người ta dái - dại cho người ta dờ - Nước đổ trốoc vịt - Xỉa cá mè dè cá chép. - Đất nặn nên bụt - Một lần thì kín, chín lần thì hở. - Đừng mau phai như hoa - Đừng chóng bạc như vôi - Xách bầu phải xem quai - Địu con phải xem vải buộc - Làm cỏ phải xem cán nắm - Cò ăn ruộng sâu thì nắng - Cò ăn ruộng cạn thì mưa - Công cấy thì bỏ, công làm cỏ thì ăn - Chớp ngã Cồn Tiên, mưa liền gặp trộ - Đừng mau phai như hoa Toang-a-rát - Đừng chóng bạc như vôi - Xách bầu phải xem quai - Địu con phải xem vải buộc - Làm cỏ phải xem cán nắm . - Rậm người hơn rậm của - Khun ba năm không ai biết - Dại một giờ bạn hay - Ăn như phát tấu. - Chạc đa cổ trối - Tào lao dịch bọp - Trầy vi, trốc vảy - Cha hồ chú dẫn - Ăn như mỏ koét - Chửi cha chém chú đ.. chị dâu - Thiên hồ địa dẫn - Nắng hui hui thui con nít - Ngó bằng mắt chớ phắt bằng tay - Đi cúi tai về cúi trốôc - Mần quan đi ngày ăn mày đi sáng - Đày mần kép, hẹp mần đơn - Ít nghé rệ rèo - Nhà giàu lôông lau ra lo, Kẻ khó lôông ló ra lau - Ăn mày không tày chự bị - Cấy trong làng như vàng trong tráp - Tháng chiêng nam tố lại - Tháng bởi ngó ra, tháng ba ngó vào - Trốôc cá chang, gan cá nghéo - Nhất gan cá nghéo nhì gan cá thiều - Cá bống kho khô, cá rô kho ngọt - Cá bớp tháng bơ như thịt ca tháng mười - Làm cả năm không bằng trộ xăm tháng tám - Lắm cá, bá nhọoc - Ruốc đỏ, cá đen ngó queng mới biết - Chạy buồm coi gió, ngó luồng buông lái - Khơi: Thu, ngừ, nục ; Lộng: ve, đục, xòe - Cà lơ cà lắc bú c.. ốong tre - Đã mất lả lại mất cả tro. - Thuốc đắng đã tật, nói thật mất lòng - Khun ngoan tới cựa quan mới biết , giàu có bọ mạ chết mới hay - Mần rọong theo làng, Bán hàng theo chợ - Chết lạ mới biết mói ngon - Cơm với cá, như mạ với con - Ngon cá, khá cơm - Vảy cá hơn rá rau - Đắt cá hơn rẻ thịt - Ăn cơm không cá như vại má không có trưa - Cá bống kho tiêu, cái thiều kho ớt - Mùa nắng cá sông, mùa đông cá biển - Ruốc tháng sáu máu rồng - Cá đối tháng bảy, cá gáy tháng mười - Đập đất nhỏ, luống đánh to Xung quanh rắc đậu, trồng ngô xen vào - Đói thì ăn môn ăn khoai Đừng thấy ló lỗ giêng hai mà mừng -Trăng rằm đã to lại tròn Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi - Xứ Cùa đất đỏ ba dan Ai ơi trồng mía làm giàn thả tiêu - Liệu cơm mà gắp mắm ra Liệu cựa liệu nhà mà gả con vô - Đi buôn bữa lỗ bữa lời Ra câu giữa vời bữa có bữa không - Ai ơi chớ lấy học trò Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm - Khoai lang cổ bở cổ trân Làm rễ họ Trần cực lắm ai ơi - Bỏ công múc nước đường xa Có trong thì múc, ngà ngà thì thôi - Sui gia là bà con tiên Ăn ở không hiền là bà con quỷ -Tháng bảy nước tới ngợp bờ Sắm đáy, sắm rớ đợi chờ mần ăn - Nguyên chất nước mắm nục mồng Một thìa giá trị bằng mâm cỗ đầy… - Cá thiều mà nấu măng chua Một chút canh thừa cũng chẳng bỏ mô - Muối mà rang với ruốc khô Có chết duối mồ cũng dậy mà ăn - Cá dở thì hấp hành tươi Cá ngứa thêm nấm, cá buôi thêm ngò - Ba đồng một khúc cá buôi Cũng mua cho được để nuôi mẹ già CÂU ĐỐI - CÂU ĐỐ DÂN GIAN Câu đối : Văn vận tuột quần Văn vận vận Bích La đau bụng Bích La la Cam Lộ buôn cam, Cam Lộ Lộ Bích giang không nón, Bích giang giang Tân Trúc trồng tre, thở hoi hóp Đông Hà xúc hến hát ngêu ngao Câu đố: Hai người ở hai buồng Ngó đi nhìn lại như tuồng cấm cung Đêm về sập cửa thả chông Ngày thì vòi vọi đứng trông nhau hoài (Hai con mắt) Gặp nhau đây bất luận đêm ngày Lật ra xem thử lỗ này ở đâu Đâm vô thì rút ra mau Đừng để trung nớ mà đau lòng nàng Rút ra máu chảy tràn lan Khi nớ duyên thiếp, nợ chàng ngái xa (Đạp gai) Họ hàng chỉ sống trên non Tìm cây hút nhụy nuôi con tháng ngày Không may lửa dậy khói bay Thảm thương ấu tử sống rày thác mai (Tổ ong bị đốt) Cây xanh mà lá cũng xanh Dầm mưa dãi nắng theo anh võ vàng Một mai lửa đỏ thành than Mây bay khói lượn truớc mặt chàng, chàng ơi Mình rồng đuôi phụng le te Mùa xuân ấp trứng mùa hè sả conĐầu rồng, đuôi phụng cánh tiên Ngày năm bảy mụ tối ngủ riêng một mình. Khen ai nho nhỏ Mắt tỏ như gương Tối trời như mực Biết người thương ra chào Hai cây cao đã nên cao Một người dưới rào xa đã nên xa Ba người họp lại một nhà Kết duyên phu phụ duyên đà mặn duyên Da non mà bọc lấy xương Lửa cháy trên đầu chúa chẳng thương Đêm năm canh tiêu hao mình thiếp Nghĩ đến đoạn trường nước mắt nhỏ sa ( Cây đèn sáp) Một mẹ sinh đặng ngàn con Trai có gái có , tài khôn rõ ràng Mặt trời đã xế vàng vàng Con xa ngái mẹ lại càng thương thay Cách nhau đã bốn năm ngày Con lại gặp mẹ mừng thay là mừng (Phiên chợ Cam Lộ) Cây xanh mà lá cũng xanh Dầm mưa dãi nắng theo anh võ vàng Một mai lửa đỏ thành than Mây bay khói lượn truớc mặt chàng, chàng ơi Đầu ni e trốong, đầu tê e trốong. CA DAO- DÂN CA . GIỌNG HÒ NHƯ LỆ. Thơ ca dân gian Quảng Trị nội dung phong phú và đậm sắc thái bản địa trong biểu hiện tâm tình và phản ánh đòi sống , con người , thiên nhiên đặc trưng ở Quảng Trị , đồng thời đa dạng trong thể loại và hình thức thể hiện (phương thức hát xướng ). Ngoài nhiều điệu lý, điệu hò là di sản chung của Quảng Trị - Thừa Thiên , Quảng Trị có những điệu dân ca riêng biệt của mình : hò đập bắp, hò dô hậy (hô giang hậy), hò Hải Thanh (hò Như Lệ), hò mái nhì Triệu Hải (một điệu hò trên cạn), hò giả gạo Gio Linh , hò đâm bắt ... , đặc biệt vè là một hình thức sinh hoạt văn hóa phổ biến rộng khắp các thôn xóm với đặt vè , kể vè , nói vè ... Bước đầu một số bài CA DAO- DÂN CA Quảng Trị , tạp chí mong nhận được thêm nhiều câu ca, bài vè dân gian Quảng Trị từ những độc giả sinh thành nơi đây. Bà Ngô Thị Huế ở thôn Như Lệ, xã Hải Lệ (Hải Lăng, Quảng Trị), người giữ lửa cho điệu hò Như Lệ( ảnh trên)

CA DAO- DÂN CA

Mẹ thương con qua cầu Ái TửVợ trông chồng lên núi Vọng PhuMột mai bóng xế trăng luCon ve kêu mùa hạ biết mấy thu gặp chàng * Thiếp thương chàng gươm vàng không sợSúng bắn chin, mười lần duyên nợ không buông.Chẳng thà chịu tiếng cho luônGươm trường kề cổ không buông nghĩa chàng. Đôi ta thương chắc mần ri Bọ mẹ mần rứa, eng thì mần răng? Thiếp thương chàng gươm vàng không sợ Súng bắn chin, mười lần duyên nợ không buông. Chẳng thà chịu tiếng cho luôn Gươm trường kề cổ không buông nghĩa chàng. Về Bích La Đông khỏi lòng đau xót ruột Ai về An Hoà khỏi hậm hực thù Tây Mồ mả cha ông hắn cho xe xới, xe cày Bao nhiêu oan hồn nước mắt nghĩ lại trăm đắng nghìn cay căm thù. Chập choạng bóng trăng em xem chưa rõ Chập choạng bóng đèn em ngó chưa tường Dáng ai như dáng người thương Không vô đây phân giải một đôi đường cho em hay Thốt ra tới đâu dạ thiếp sầu tới đó Cuộc chung tình chàng chưa rõ bấy lâu Vì ai xê vô lật ván tháo cầu Trai say dọi gái, gái thảm sầu dọi duyên. Ai về Đông Hà, ai qua Cam Lộ Ai về Gia Độ, ai đến Gio Linh Ai về Triệu Phong Quảng Trị quê mình Cho em nhắn gởi chút tình nhớ thương Ai về Bích La Đông khỏi lòng đau xót ruột Ai về An Hoà khỏi hậm hực thù Tây Mồ mả cha ông hắn cho xe xới, xe cày Bao nhiêu oan hồn nước mắt nghĩ lại trăm đắng nghìn cay căm thù. Em trao cho anh một nắm bắp rang Anh trỉa làm sao cho mọc, thiếp với chàng trao duyên Đồn bên em có miếng đất hoang Mưa ba năm không ướt, hạn chín tháng nỏ khô Đến đây anh trỉa, trỉa vô mọc liền Thiếp trao cho chàng một nắm ngô rang Chàng đúc nơi mô cho mọc thiếp thắp nhang mời về Chỗ nào mà nắng không khô Mà mưa không ướt đúc vô mọc liền O tê o đứng bên cồn Tui dôi hột mít trít l... o đi .* Đưa anh tới chốn nhà Hồ,Anh mua trái mít, anh bù trái thơm. Trái thơm là trái thơm non,Bổ ra làm tám ăn chon như dừa.(chon: dòn) Chẳng thơm cũng thể hương đàn, Không trong cũng nước nguồn Hàn chảy ra Thương em, anh cũng muốn vô. Sợ truông nhà Hồ, ngại phá Tam Giang, Phá Tam Giang ngày rày đã cạn, Truông nhà Hồ, nội tán phá tan. Chẳng thơm cũng thể bạch đàn, Nước Đá Hàn hòa trong hòa mát, Ru em, em théc* cho muồi, Để mẹ đi chợ, mua vôi ăn trầu, Mua vôi chợ Quán chợ Cầu, Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh. *théc: ngủ Trăm năm dù lỗi hẹn hò Cây đa bến cộ con đò khác đưa. Cây đa thưở trước còn lưa, Con đò đã thác năm xưa tê rồi. Hết gạo thì có Đồng Nai Hết củi thì có Tân Sài(*) chở vô (Tân Sài(*) :* Tân Sở, Quảng Trị ) * Ví dù đèn tắt thì đã có trăng Cực em em chịu biết mần răng đặng chừ Muốn ăn bánh ít lá gai Lấy chồng Quảng Trị sợ dài đường đi. Ba đồng một khúc cá buôi Cũng mua cho được để nuôi mẹ già Liệu cơm mà gắp mắm ra Liệu cựa liệu nhà mà gả con vô Khun ba năm không ai biết Dại một giờ bạn hay Đi buôn bữa lỗ bữa lời Ra câu giữa vời bữa có bữa không Ai ơi chớ lấy học trò Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm Khoai lang cổ bở cổ trân Làm rễ họ Trần cực lắm ai ơi Bỏ công múc nước đường xa Có trong thì múc, ngà ngà thì thôi Sui gia là bà con tiên Ăn ở không hiền là bà con quỷ Đập đất nhỏ, luống đánh to Xung quanh rắc đậu, trồng ngô xen vào Đói thì ăn môn ăn khoai Đừng thấy ló lỗ giêng hai mà mừng Trăng rằm đã to lại tròn Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi Xứ Cùa đất đỏ ba dan Ai ơi trồng mía làm giàn thả tiêu Khi con thức Mẹ cho con bú Khi con lú Mẹ lại ru hời Nuôi con cực lắm con ơi Chỉ mong cho con lưng dài vai rộng Để lấp biển vá trời như ai ! Em nghe anh đau đầu chưa khá Em đây băng đồng chỉ sá bẻ nạm lá qua xông Ước làm sao cho nên đạo vợ chồng Đổ mồ hôi ra em chặm Lại ngọn gió lồng em che Ru hời ru hỡi là ru Bên cạn thời chống bên su thời chèo Xây thành đắp lũy trên non Cắm hoa dưỡng nước nuôi con tháng ngày Một mai lửa dậy khói bay Con ơi ! Mẹ không biết sống rày thác mai Ơn cha ba năm báo bổ Nghĩa mẹ chín tháng cưu mang Bên ướt Mẹ nằm bên ráo con lăn Lấy chi trả nghĩa sinh thành Lên non tạc đá xây lăng phụng thờ Tháng bảy nước tới ngợp bờ Sắm đáy, sắm rớ đợi chờ mần ăn Cá thiều mà nấu măng chua Một chút canh thừa cũng chẳng bỏ mô Muối mà rang với ruốc khô Có chết duối mồ cũng dậy mà ăn Cá dở thì hấp hành tươi Cá ngứa thêm nấm, cá buôi thêm ngò Nguyên chất nước mắm nục mồng Một thìa giá trị bằng mâm cỗ đầy… Khoai to vồồng thì tốt cổ (vồồng=luống; cổ=củ) Đậu ba lá thì vừa un (un=vun=đắp) Gà mất mẹ thì lâu khun(khun=khôn) Gái thiếu trai thì thậm khổ Trai thiếu gái cũng thậm khổ ! Trời sinh voi thì sinh cỏ Trời sinh giếng thì sinh mo (mo cau múc nước) Trời sinh sông thì sinh đò Trời sinh O thì sinh tui (o=cô) O một mình cũng khôn đặng(khôn=không) Tui một mình cũng khôn đặng Gió ngoài biển hắn dồn vô Mây trên trời hắn cuốn lại O với tui cùng cuốn lại Hai đứa mình cùng cuốn lại… Dị bản : Khoai to vôồng thì tốt củ Độ ba lát thì vừa khuôn Gà mất mẹ lâu khun Gái không chồng thì lận đận Trai không vợ cũng lận đận Con người ta nho nhỏ bằng hột độ Mà đã có lứa có đôi Còn tuii nì to như ông Thiên Lôi Mà ôông tơ hồng chưa có chỗ Mà mụ tơ hồng chưa có chỗ O ơi O đừng lo Trời sanh voi thì sanh cỏ Trời sinh giếng thì sinh mo Trời sinh sông thì sinh đò Trời sanh O thì sanh tui Như tui nì không biết O ở mô Mà O cũng không biết tui ở nơi mô Sóng ngoài biển mà dồn vô Mây trên trời mà cuộn lại Cuộn lại thì sao nữa O hè . . . Hò đối đáp: Ai đứng ngoài đường cho muỗi cắn ho kêu Vô đây phân giải đôi điều cho vui Chào lê chào lựu chào đào Ai xa chào trước ai gần chào sau Chào bên nam mất lòng bên nữ Chào người quân tử sợ dạ thuyền quyên Cho anh chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó chào Ai có chồng thì khuyên chồng đừng sợ Ai có vợ thì xin vợ đừng ghen Ra đây ta hò hát cho quen Rạng ngày ai về nhà nấy… Khá thể ngọn đèn hai tim Nữ: Đố anh chi sắc hơn dao Chi sâu hơn biển, chi cao hơn trời Nam: Con mắt em sắc hơn dao Lòng sâu hơn biển, trán cao hơn trời Nữ: Bánh cả mâm răng kêu bánh ít Trầu cả chợ răng gọi trầu không Ai mà đối đặng làm chồng nữ nhi Nam: Chuối không đi tây răng kêu chuối sứ Cây không đi học răng kêu cây thông Anh đã đối đặng em theo chồng về mau Nữ: Nghe anh thuộc sách Kinh Thi Hỏi anh con cá nằm dưới cỏ gọi là con cá chi rứa anh hè Nam: Anh đây thuộc sách Kinh Thi Con cá nằm dưới cỏ anh nghĩ là con cá tràu Nữ: Em như bông sen trong hồ Các anh như bèo như bọt nhìn chi được cơ đồ nơi em Nam: Nước lên cho sóng cuộn theo Cho sen chìm xuống bèo trèo lên trên Nữ: Em đây như con rồng vàng Chín tầng mây phủ nằm ngang giữa trời Nam: Anh đây có phép thần thông Vén mây cỡi gió bắt con rồng coi chơi Nữ: Em đây như chiếc chuông vàng Treo trong thành nội có hàng ngàn quân canh Nam: Quân canh dù mấy chục ngàn Dùi chiêng anh mang sẵn, anh nện chuông vàng đứt đôi Kiến bò cột sắt sao mòn Con vò vò xây tổ sao tròn mà xây Kiến bò cột sắt thành đàn Con vò vò xây tổ khám vàng cũng xây Thương thay các cậu chự bò Cái lưng môốc thếc thếc Bộ giò đen thùi thui Em về dở sách ra dò Cha em lúc trước cũng chự bò như anh Trai không vợ như chợ không đình Mưa dông một trộ ghé mình vào đâu Trai chưa vợ lo phò vua vệ quốc Chợ không đình tại thợ mộc suy vi Sao không lo phận thiếp lại đi hỏi chàng Anh ra chi mỗi tháng mỗi ra Cực lòng em lắm mẹ cha hỏi hoài Anh ra ba em cũng ra Anh còn sống, ông cụ thác xuống ngã ba mất rồi Tiếng đồn em học hết sách quốc ngữ, hết chữ Kinh Thi Con bò cái đi trước, con bò đực đi sau, nó cười chi rứa eng hè Anh học hết sách quốc ngữ, hết chữ Kinh Thi, con bò cái đi trước, con bò đực đi sau nó cười nó cọ, nó đo-u sao thiếp không biết lại đi hỏi chàng Liệu bề đát được thì đan Chớ đừng đan rồi để đó mà thế gian chê cười Anh đây đan cũng giỏi, đát cũng tài Lận thì đè côi đè xuống, còn nức thì xỏ ngoài xỏ vô Ra đường lại gặp anh Ba Anh ở “trung nớ” anh ra răng chừ ? !!! Anh ở trung nớ mới ra bựa qua Cùng ra có cậu bên nhà kết nghĩa thầy trò Anh nhanh chân anh tới trước còn cậu lò dò theo sau !!! Anh làm thợ mộc khéo đã ra chi khéo Đóng bức đố xéo đã ra chi tài Răng không giơ cái lại chàng ra chắn mộng để thòi lòi mộng ra Anh đã đưa cái lại chàng ra chắn mộng Mà thầy mẹ bên nhà khoát khoát khoan khoan Để khi đi về móc áo, lỡ chừng treo khăn Em mua cho anh cái dù tám cóng Dưới có mốc đồng Răng anh không đội Để đầu không rứa hè Cái dù tám cóng dưới có cái móc đồng Em đem về cho cha em đội cho nội em che Phận anh là rễ đội nón tre quen rồi Tiếng đồn em lấy chồng già Đêm nằm em thấy ớt cà ra răng Tre già còn dẻo hơn măng Ớt cà tra có hột, chớ hơn thằng ớt tơ Ngồi buồn nói chuyện trên non Một trăm thứ cá có con không thằng Em mở khuôn ra cho anh đúc lấy lượng vàng Hoạ may may hoạ thiếp với chàng dùng chung Anh về thưa với hai họ rõ ràng Mời thân nhân lại, em mở khuôn vàng cho coi Nạn chiến tranh gây nên tang tóc Cảnh điêu tàn chết chóc đau thương Sơ tán ra đi mẹ một ngả con một đường Chồng thời xa vợ những đau thương đêm ngày Đứng bên ni Bình An, nhìn sang bãi Cát Sơn, Thuỷ Bạn Ruột thắt từng chặng, muối xát vào lòng Nào ai vui vợ vui chồng Còn em nghĩ tới miền nam ruột thịt đang nhuộm vết máu hồng uất căm. Bánh cả mâm răng gọi là bánh ít Trầu cả chợ răng nói trầu không Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi Chuối không qua Tây răng gọi là chuối sứ ? Cây không biết chữ răng gọi là thông ? Nam nhơn đà đối đặng quyết làm chồng nữ nhi Ngồi buồn nói chuyện trên non Một trăm thứ cá có con không thằng * Thầy ơi chớ nói bao đồng Một trăm thứ cọp có ông không bà Khi chọc ghẹo nhau vẫn giữ lối văn nhã: Em mở khuôn ra cho anh đúc lấy lượng vàng Hoạ may may hoạ thiếp với chàng dùng chung Buôn bán chi chi rày lời mai lỗ, vất quách thúng rỗ theo anh. Một mai công toại danh thành, ta ngồi chung kiệu hành đó đây Chữ thánh hiền dược mấy pho mấy bộ, dám huênh hoang xuất lộ vi hành? Một mai đỗ đạt thành danh, đã có O Tam thể nó đợi anh kết nguyền Cảm thương cho Em sớm thì lăn đồng cạn, chiều lại lặn đồng sâu. Con tôm con tép liệu được mấy đồng xu . Chứ làm ra năm trự mười đồng, trước ngon cơm anh sau lành áo mẹ để tỏ tấm lòng nàng dâu Blog HTG sưu tầm 10.2011 NHỮNG CÂU CA DAO VỀ MẸ Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau Mẹ như một trận mưa rào Tưới lên thửa đất xanh màu cỏ cây Khi còn Mẹ bế trên tay Con như cái trứng, lăn quay lăn tròn Mẹ như bầu sữa thơm ngon Cho con vang tiếng cười dòn trẻ thơ Tuổi nào Mẹ hát ầu ơ Ru con ngủ giấc ngọt lời ca dao Mẹ như một bát canh rau Cho con lớn dậy, hồng hào thịt da Mẹ như trái bí trái cà Như ơ cá bống mặn mà kho tiêu Cho con như một cánh diều Tung tăng bay lượng muôn chiều ấu thơ Rồi con đi học i tờ Mẹ như dòng mực nhỏ lời yêu thương Chợ đời một nắng hai sương Tóc xanh Mẹ đã trăm đường đắng cay Mưa bay giọt vắn giọt dài Mẹ như cái bóng tan ngoài sông xa Mẹ như chiếc áo bà ba Nắng mưa ròng rã nhạt nhòa Mẹ tôi Sông sâu bên lở bên bồi Mẹ như luống mạ xanh ngời đất đai Mẹ như vồng sắn vồng khoai Như con nước bạc chở đầy cá tôm Bao giờ cây lúa trổ bông Mẹ như con én bay vòng mùa xuân Rồi như cây mắm cây bần Theo con sông lớn mọc gần mọc xa Mẹ như một dải phù sa Mai sau sẽ mọc trái hoa dẫy đầy Mẹ như cái hạc trong mây Bay vào tịch mịch một ngày chớm thu Ngoài đồng gió thổi vi vu Con ra đứng ngóng, mù mù sương rơi Chắp tay lạy khắp phương trời Trời mênh mông quá, Mẹ tôi phương nào CA DAO - TỤC NGỮ Nhất thời Phú Ngạn làng ta Thứ nhì Trà Bát,thứ ba Nhan Biều Làm quan Hà Trung Thầy cúng Nhĩ Thượng Khun ăn mun với trú Dại ăm cá mại với cơm Văn chương Xuân Mỵ Lý sự Thủy khê Làm thuê Cẩm phổ Đan rổ Phước Thị Làm đị Lại An Hò khoan Mai Xá Mò cá Phường Hà Ốc gạo Thạch Hãn Mật rú Bát Phường Chén rượu Hà Trung Mắm ruốc Cửa Tùng Mắm nêm Chợ Sãi Nem chợ Sãi Vải La Vang Khoai Quán Ngang Nghệ Vàng An Lộng Dầu tràm Đại Nại Lụa Làng Diếu Chiếu Lâm Buôn Nón Cổ Thành Chiêng Sắc Tứ Gạo Phước Điền Khoai Trà Bát Quạt chợ Sòng Cá bống Bích la Gà Trà Lộc Tôm đồng Mai Lĩnh Gạch ngói Trí Bưu Chợ Ngô Xá Nón là Văn Quỹ ( Kẻ Văn) Can cò bay lả bay la Bay vô Cửa Việt, bay ra Cửa Tùng Hết gạo thì có Đồng Nai Hết củi đã có Tân Sài chở vô(1) Ra Thanh bổ quế Vào Nghệ tìm Sâm Lên non ngậm ngãi tìm trầm Đến ơn phụ mẫu đã lao tâm sinh thành Sông cửa Tùng vừa trong vừa mát Đường Cát Sơn nhỏ cát dễ đi Anh ơi xin nhớ điều ni Dù xa ngàn dặm em ghi lấy lòng Đi mô đi mấy thì về Mồng 5 tháng 9 kỵ lề ông âm Mã cha con bướm nó khôn Hoa thơm nó đậu, hoa tàn nó bay Bấy lâu xa ngái bạn vàng Không tiền mua thuốc lượm tàn hút chơi Dù cho chín đợi mười trông Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng cam Tham lam ăn trái thơm Cùa Chạy về xóm mộ, bỏ bà bỏ con Tham chi ba trái mít non Lấy chồng Hà Thượng bỏ con tồi tàn Chàng ràng bắt cá hai tay Con trong cũng mất con ngoài cũng không Giả đò buôn hẹ bán hành Ghé vô chợ huyện thăm anh kẻo buồn Giã đò thăm ló ngó đồng Hỏi thăm em bậu má hồng răng thưa Trai mô trai không vợ Chợ mô chợ không đình Trời mưa dông một trộ Biết dựa mình nơi mô HTG-Sưu tầm 9-2009

1 nhận xét:

  1. Unknownlúc 13:32 25 tháng 2, 2014

    cho tôi copy mấy bài nha. Thanks!

    Trả lờiXóaTrả lời
      Trả lời
Thêm nhận xétTải thêm... Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ Đăng ký: Đăng Nhận xét (Atom)

Đồng Hồ Vạn Niên

Cung cấp linh kiện quảng cáo : Led đơn, quang báo, ...

  • Shop hữu ích Bill và Ty
  • CTTNHH.thietbikts VĂN THIÊN
  • CTTNHH.Chính Tâm
  • CTTNHH. KIM NAM THỊNH - Chế tạo máy máy dược phẩm
  • Chè Vằng la Vang
  • Chu Vương Miện
  • Chu Vương Miện

Lưu trữ Blog

  • ▼  2013 (62)
    • ▼  tháng 11 (4)
      • Văn học dân gian Q.Trị...Sưu tầm
      • CA DAO - TỤC NGỮ ... QT ( Sưu tầm )
      • ..THĂM MIỀN DÂN CA...Q.Trị
      • Chữ quốc Ngữ, .Đại Thần Nguyễn V Tường-"Nổi oan đư...

THỂ LOẠI-TÁC GIẢ

  • 10.5( Mother's day) (3)
  • An Nguyen (5)
  • Ảnh hội ngộ Quê nhà (3)
  • Ảnh bài khóa 67. 74 (lớp 6/1-3;8-9/5 (1)
  • Ảnh NH Ca -Li (1)
  • Ảnh NH SG (29)
  • Ảnh NH.BRVT (1)
  • Ảnh NHĐ.Nai-Lagi (4)
  • Ảnh NHĐN 13.9.09 (4)
  • Ảnh NHQT (4)
  • Ảnh Q.Trị trước năm 1972 (2)
  • Ảnh TH Triệu Phong Cũ (13)
  • Ảnh- bài TH Triệu Phong Cũ (39)
  • Ảnh- Thơ TH Triệu Phong Cũ (32)
  • Ảnhkhóa 6774 (lớp 6/1-3;8-9/5 (1)
  • Các dạng Thơ Lạ (1)
  • Cao Bồi Già (1)
  • Cây thuốc vườn nhà (5)
  • Châu Thạch (1)
  • Chợ Đình Bích La (1)
  • Chúc mừng Giáng Sinh & năm mới (2)
  • Chúc tết ...phong tục việt (8)
  • Danh lam -Thắng cảnh (3)
  • DƯƠNG THỊ BÍCH ĐÀO (3)
  • Đinh quang Tuyết (2)
  • Đinh Trọng Phúc (6)
  • Họ Văn VN (1)
  • HỌA -THƠ ĐƯỜNG (93)
  • Hoa An -Lê Hữu Khư (1)
  • Hồng Thập Tự QT 72-75 (4)
  • K 10-72 (1)
  • Kha Tiệm Ly (4)
  • kiến thức khoa học (4)
  • Kiến Thức Lịch sử (29)
  • Kiến Thức văn hóa dân tộc (23)
  • La Thụy (1)
  • Lê Cao Đảm (1)
  • Lê Hoàng (3)
  • Lê Thị Dũng -Thơ (3)
  • Lịch sủ làng xã Quảng Trị (2)
  • Lịch sử các trường tại Q.Trị (5)
  • Lữ Thượng Thọ- Thơ (1)
  • Nguyễn Hoàng 60 năm (10)
  • NGUYỄN ĐĂNG MỪNG (5)
  • Nguyễn Hoàng QT- Tin tức (4)
  • NGUYỄN T.LIÊN HƯNG (2)
  • Nguyễn Thị Thu Sương (3)
  • Nhạc hay (1)
  • Nhạc xuân (1)
  • Nhạc yêu thích (1)
  • Nhân đạo- từ thiện (3)
  • NON MAI SÔNG HÃN trang nội bộ; Thơ Đường Luật Việt Nam CH. Thành Cổ (17)
  • Phạm Ngọc Thái (2)
  • QUANG TUYẾT (4)
  • Quê hương và phong tục (1)
  • SỐNG KHỎE (33)
  • Tài năng đất Quảng.. (3)
  • Tạp ghi (18)
  • Thái Quốc Mưu (1)
  • Thân Ly Hương (1)
  • Thầy cô- bè bạn (14)
  • Thầy Hoàng Đằng (9)
  • Thầy Nguyễn Văn Quang (1)
  • Thầy Phan Phụng Thạch (1)
  • Thầy Trần Kiêm Đoàn (7)
  • Thi (1)
  • Thiên nhiên tươi đẹp (1)
  • Thơ (22)
  • Thơ Đường Luật Việt Nam CH. Thành Cổ (15)
  • Thơ TTKH (1)
  • Thư tín -tin tuc (7)
  • Tin buồn (12)
  • Tin buồn thơ xướng họa (6)
  • TRANG CHỦ VTT (2)
  • Trang nghĩa tình (7)
  • Trang nhịp cầu kết nối (2)
  • Trang thi hữu (14)
  • Triệu Phong -Ký ức TX III- (VX) (1)
  • Triệu Phong 60-75 (6)
  • Triệu Phong Thông báo ... (7)
  • Triệu Phong- Ký ức TX II (5)
  • Triệu Phong- Ký ức TX III- thơ (1)
  • Tuyết Trang- Thơ (1)
  • VĂN HỌC - VĂN NGHỆ (15)
  • Văn học dân gian (12)
  • Văn Thi Do (4)
  • Văn Thị Hồng Hà -thơ (13)
  • Văn Thị Hồng Hà- Văn xuôi (5)
  • Văn Thiên Tùng (5)
  • Văn Thiên Tùng Thơ STLB (12)
  • Văn Thiên Tùng-thơ (120)
  • Văn Thiên Tùng-thơ Hàn Thi (72)
  • VănThiên Tùng-thơ Hàn Thi (38)
  • Viết chào xuân 2010 (8)
  • Võ Phước (1)

Thống kê website

LIÊN KẾT BLOG-WEBSITE

  • Văn Thị Hồng Hà
  • Văn Nghệ Quảng Trị
  • Văn Đàn Việt
  • Văn Chương Việt Nam
  • Tuyết Trang
  • Tri âm Các - Võ Văn Hoa
  • Trần Thuận Artist
  • Tình yêu muôn thuở
  • Thái Dúi
  • Tamc 6869NH
  • Sa Mạc buồn
  • Quảng Trị online
  • Nguyễn Trọng Tạo
  • Nguyễn Khắc Phước
  • Nguyễn Hoàng SG
  • Nguyễn Hoàng Quảng Trị tại saigon
  • Nguyễn Hoàng Đà Nẵng
  • Nguyễn Hoàng 6471
  • MƯỢN DẤU THỜI GIAN
  • Lý Lãng
  • Lê Đăng Mành
  • HUỲNH HỮU ĐỨC
  • HOÀNG VĂN CHẨM
  • Góc thơ Đường VNQT
  • GIÁC MINH
  • ĐÔNG PHONG _NGUYỄN XƯƠNG
  • Đinh Thị Hiệp
  • Đất Đứng
  • Đặng Triệu Ái
  • Chè vằng La Vang
  • Cây nhà lá vườn
  • Bâng Khuâng-Đoàn Minh Phú
  • Báo Quảng Trị online

Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi Văn Thiên Tùng Quảng Trị, Vietnam Quảng Trị CHS.Triệu Phong- Nguyễn Hoàng Q.Trị & Jeanne D'Arc Huế [email protected] ĐT : 0984747511 http://vn.360plus.yahoo.com/vanthientungqtlh/ Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

Người theo dõi

Đăng ký

Bài đăng Atom Bài đăng Nhận xét Atom Nhận xét

Giải trí - Nghe nhạc

Dự báo thời tiết

Du bao thoi tiet - Co do Hue

Tìm kiếm Blog này

 

Bài đăng phổ biến

  • 100 bài thơ về sức khỏe . LỜI NÓI ĐẦU Chúng ta thường nói:    “ sức khỏe  quý hơn vàng”, “ Có sức khỏe  là có tất cả”. Cố GS. Lương Đình Của có nói “ Cái gì thi...
  • Tim sen và tác dụng...; 24 món ăn kỵ nhau-cải bắp... TIM SEN (Lien tam) - TIM SEN ( mầm) nằm giữa hạt sen: vị đắng tính hàn, có tác dụng thanh tâm khử phiền, chỉ huyết sáp tinh. Dùng là...
  • Sỏi Thận-Sỏi mật và bài thuốc nam... I. ĐU ĐỦ CHỦ TRỊ: * Làm tan sạn thận, sạn mật * Trị sốt rét rừng, sốt kinh niên(chỉ 1 lần là khỏi) * Trị rắn độc cắn * Trị bệnh trư...
  • Trò chơi dân gian và những bài Đồng Dao hát mà chơi ( sưu tầm )   TRÒ CHƠI THUỞ XƯA (1)  ( HTG Sưu tầm và tổng hợp)   TSQN – Tác giả của bài Cafe SanJose với lối viết thật hóm hỉ...
  • Đường tôi đi học- Thầy N.V.Quang ĐƯỜNG TÔI ĐI HỌC Quê tôi - làng An cư, là một ngôi làng nhỏ thuộc xã Triệu Phước. Làng nằm cạnh một dòng sông, đoạn cuối của hợp lưu hai s...
  • Nguyễn Hoàng Quảng Trị gặp mặt lần thứ III- 24.6.2012 NGUYỄN HOÀNG QUẢNG TRỊ  GẶP MẶT LẦN THỨ III- NGÀY 24.6.2012 TẠI SÂN TRƯỜNG XƯA   Kính thưa quý thầy cô, Thưa các AC...
  • Phép đối trong câu đối   PHÉP ĐỐI TRONG CÂU ĐỐI Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tá...
  • Du xuân giữa thơ 1 ...Tân Mão DU XUÂN   Mời ghé vào đây ngắm sắc xuân, Đường thi nét lượn bút xa gần. Vườn cây trào lộng lời kim cổ, Vần luật nhịp nhà...
  • Cây AN XOA- CÀ GAI LEO và những tác dụng tuyệt vời CÂY AN XOA     Cây lá được chế biến và đóng gói  từ thông tin cây thuốc quý dùng để hỗ trợ điều trị  một số bệnh về gan và tiêu độc, t...
  • Văn học dân gian Q.Trị...Sưu tầm VĂN HỌC DÂN GIAN Quảng Trị là một vùng đất giàu có vốn văn hoá phi vật thể, trong đó văn học dân gian có vị trí hết sức đặc biệt....

Đăng ký

Bài đăng Atom Bài đăng Nhận xét Atom Nhận xét

Ghi nhận lần truy cập cuối cùng

Từ khóa » Tóm Tắt Câu Chuyện Vác Mía Tìm Dâu