Xung đột Israel–Palestine – Wikipedia Tiếng Việt

Xung đột Israel–Palestine
Một phần của Xung đột Ả Rập–Israel
Trung bộ Israel bên cạnh Chính quyền Dân tộc Palestine ở Bờ Tây và Dải Gaza, 2007
Thời gianGiữa thế kỉ 20[1] – đến nayGiai đoạn chính: 1964–1993
Địa điểmTrung ĐôngChủ yếu ở Israel, Bờ Tây, Dải Gaza và Liban
Tình trạng Giao tranh mức thấp, chủ yếu giữa quân đội Israel và quân Hamas.
Thay đổilãnh thổ Thành lập và giải thể Chính quyền Palestine đầu tiên (1948–1959) ở Gaza.Jordan sáp nhập Bờ Tây (1948–1967).Chính quyền quân sự Israel chiếm đóng Bờ Tây và Dải Gaza năm 1967.Israel triệt thoái khỏi Gaza năm 2005
Tham chiến
 Israel

 Nhà nước Palestine

  • Tổ chức Giải phóng Palestine (1964–nay)
  • boder Chính quyền Dân tộc Palestine (2000-nay)
  • Tập tin:Flag of Fatah.svg Fatah (Bờ Tây) (1959–nay)
  • Hamas (Dải Gaza) (1987–nay)
Ủng hộ bởi:
  •  Hoa Kỳ (1967-nay)
  •  Pháp (1953–1967)
  • Nhà nước Liban Tự do (1979–1984)
    • Lực lượng Công giáo Liban (1975–1990)
Ủng hộ bởi:
  •  Liên đoàn Ả Rập
  • boderTổ chức Hợp tác Hồi giáo
  •  Iran [2][3]
  •  Liên Xô (cho đến 1991)[4]

Cuộc xung đột Israel–Palestine (tiếng Hebrew: הסכסוך הישראלי-פלסטיני, đã Latinh hoá: Ha'Sikhsukh Ha'Yisraeli-Falestini; tiếng Ả Rập: النزاع-الفلسطيني الإسرائيلي, đã Latinh hoá: al-Niza'a al-Filastini-al-Israili) là cuộc xung đột đang tiếp diễn giữa Israel và Palestine, đã bắt đầu từ giữa thế kỷ 20. Rất nhiều nỗ lực đã được thực hiện để giải quyết cuộc xung đột này chỉ với một phần thành công vào cuối năm 2019. Nguồn gốc sâu xa của cuộc xung đột bắt nguồn từ mâu thuẫn sắc tộc giữa người Do Thái và người Ả Rập ở Lãnh thổ Ủy trị Palestine. Đây được gọi là "cuộc xung đột phức tạp nhất thế giới". Bất chấp tiến trình hòa bình lâu dài và những nỗ lực hòa giải chung giữa Israel với Ai Cập và Jordan, người Israel và người Palestine đã không thể đạt được thỏa thuận hòa bình cuối cùng. Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để tiến hành cái gọi là "giải pháp hai nhà nước", theo đó một nhà nước Palestine độc lập sẽ được ra đời và tồn tại song song cùng với Nhà nước Israel được thành lập từ năm 1948. Tuy vậy, "giải pháp hai nhà nước" vẫn vấp phải không ít sự phản đối ở cả hai phe. Trong xã hội Israel và Palestine, cuộc xung đột tạo ra nhiều luồng quan điểm. Nó đã đem đến sự chia rẽ sâu sắc giữa người Israel với người Palestine trong hàng thập kỷ. Một dấu hiệu đặc trưng của cuộc xung đột là mức độ bạo lực xuất hiện trong suốt quá trình tồn tại của nó. Giao tranh đã diễn ra giữa quân đội chính quy, các nhóm bán quân sự, các phần tử khủng bố và các cá nhân ở cả hai bên, với thương vong xảy ra ở cả quân đội và dân thường.

Tóm lược lịch sử xung đột

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thế kỷ thứ 11 trước Công nguyên, nhà nước cổ đại của người Do Thái đã ra đời ở vùng đất Palestine. Vào thế kỷ thứ 8 TCN, các quốc gia của người Do Thái bị tiêu diệt, Palestine lần lượt nằm dưới sự cai trị của các Đế chế Assyria, Đế chế Babylon, Đế chế Ba Tư, Đế chế La Mã trong hàng thế kỷ sau đó, trước khi người Hồi giáo Ả Rập chiếm được khu vực này vào thế kỷ thứ 8. Palestine trở thành một phần của Đế chế Ottoman từ giữa thế kỷ 16.

Khởi nguồn của cuộc xung đột Ả Rập-Do Thái đã bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, với sự ra đời của các phong trào chủ nghĩa dân tộc Ả Rập và chủ nghĩa phục quốc Do Thái, cả hai đều hướng tới mục tiêu giành được độc lập từ Đế chế Ottoman và thành lập một quốc gia có chủ quyền cho dân tộc của họ ở khu vực Trung Đông.[6]Tuyên bố Balfour là một tuyên bố công khai do chính phủ Anh ban hành năm 1917 trong thế chiến I tuyên bố ủng hộ việc thành lập "ngôi nhà quốc gia cho người Do Thái" ở Palestine.[7] Với sự gia tăng của chủ nghĩa bài Do Thái ở Châu Âu, một làn sóng di cư của người Do Thái tới Palestine đã diễn ra từ đầu những năm 1880. Sau thất bại của Đế chế Ottoman trong Thế chiến thứ nhất, Palestine đã trở thành một vùng lãnh thổ ủy trị của Anh vào năm 1918. Sự xung đột giữa hai phong trào đó ở miền nam Levant khi xuất hiện chủ nghĩa dân tộc Palestine sau chiến tranh Pháp-Syria vào những năm 1920 đã leo thang thành xung đột giáo phái ở Lãnh thổ ủy trị Palestine vào thập niên 1930 và thập niên 1940, và mở rộng sang xung đột Ả Rập–Israel mở rộng hơn sau này.[8]

Sự trở lại của một số người theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập Palestine theo đường lối cứng rắn, dưới sự lãnh đạo của Haj Amin al-Husseini, từ Damascus đến Lãnh thổ ủy trị Palestine đã đánh dấu sự khởi đầu của cuộc đấu tranh dân tộc chủ nghĩa Ả Rập Palestine hướng tới việc thành lập một ngôi nhà quốc gia cho người Ả Rập ở Palestine.[9] Amin al-Husseini, lãnh đạo của phong trào dân tộc Ả Rập tại Palestine, đã coi làn sóng nhập cư của người Do Thái vào Palestine là kẻ thù lớn nhất trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của người Ả Rập, ông ta đã khởi xướng các cuộc bạo loạn quy mô lớn chống lại người Do Thái vào đầu năm 1920 ở Jerusalem và năm 1921 tại Jaffa. Năm 1929, một loạt các cuộc bạo loạn chống Do Thái đã được các nhà lãnh đạo Ả Rập khởi xướng. Các cuộc bạo loạn này đã dẫn đến thương vong lớn của người Do Thái tại Hebron và Safed, buộc người Do Thái phải sơ tán khỏi Hebron và Gaza. Một cuộc bạo loạn đẫm máu của người Ả Rập đã diễn ra vào năm 1936 nhằm chống lại sự cai trị của Anh và chống lại làn sóng nhập cư của người Do Thái, song bị quân đội Anh dập tắt. Người Do Thái và người Ả Rập gây sức ép kêu gọi người Anh trao trả độc lập cho họ, cả hai cũng đều tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ vùng đất Palestine và không chấp nhận phân chia lãnh thổ.

Với sự bùng nổ của Thế chiến thứ hai, tình hình căng thẳng ở Palestine đã phần nào dịu xuống, người Do Thái và người Ả Rập tạm thời hợp tác với nhau, đứng về phía phe Đồng minh. Tuy nhiên, một số người theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập cực đoan như al-Husseini có xu hướng hợp tác với Đức Quốc xã, ông ta đã tham gia thành lập một bộ máy tuyên truyền ủng hộ phát xít và chống Do Thái trên khắp thế giới Ả Rập. Vào cuối Thế chiến II, một làn sóng nhập cư mới vào Palestine của những người Do Thái sống sót sau cuộc thảm sát Holocaust ở châu Âu đã khiến cho mâu thuẫn giữa hai bên bùng phát trở lại. Người Anh đã thực hiện chính sách hạn chế người Do Thái nhập cư, khiến cho phong trào đấu tranh của người Do Thái chống lại người Anh ở Palestine trở nên quyết liệt. Áp lực quốc tế cũng gia tăng kêu gọi Anh trao trả độc lập cho người Do Thái.

Lãnh đạo của người Ả Rập Palestine, Amin al Husseini, trong cuộc gặp mặt với nhà độc tài Đức Quốc Xã Adolf Hitler

Vào ngày 29 tháng 11 năm 1947, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết 181 (II),[10] thực hiện kế hoạch phân chia vùng đất Palestine thành một nhà nước của người Ả Rập và một nhà nước của người Do Thái, trong khi thành phố thánh Jerusalem được đặt dưới sự quản lý quốc tế.[11] Người Do Thái nhanh chóng chấp nhận kế hoạch này, song người Ả Rập lại phản đối và đòi hỏi chủ quyền của họ đối với toàn bộ Palestine. Tuân thủ theo nghị quyết của Liên Hợp Quốc, người Do Thái đã chính thức tuyên bố thành lập nhà nước Israel vào ngày 14 tháng 5 năm 1948, cả hai siêu cường là Hoa Kỳ và Liên Xô đều ngay lập tức công nhận nhà nước mới này chỉ sau chưa đầy một tiếng đồng hồ. Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Ben Gurion khẳng định rằng việc thành lập quốc gia Israel là "dựa trên quyền tự nhiên và lịch sử của chúng ta và trên cơ sở nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc". Bản Tuyên ngôn cũng nêu rõ rằng Nhà nước Israel sẽ "bảo đảm sự bình đẳng hoàn toàn về quyền xã hội và chính trị cho mọi cư dân, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc hay giới tính; sẽ bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ, giáo dục và văn hóa; sẽ bảo vệ các Thánh địa của mọi tôn giáo; và sẽ trung thành với các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc".[12]

Trước tình hình đó, các nước Ả Rập đã đem quân xâm lược Israel, dẫn đến Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948. Cuộc chiến tranh này đã gây ra khoảng 15.000 thương vong và kết thúc với phần thắng thuộc về Israel.

Dân thường Tel Aviv đang tìm nơi ẩn nấp khỏi các tay súng bắn tỉa Ả Rập đang nã đạn vào khu chợ Carmel từ nhà thờ Hồi giáo Hassan Beck, ngày 25 tháng 2 năm 1948.

Theo thỏa thuận ngừng bắn và đình chiến được ký kết giữa hai bên vào năm 1949, hầu hết các vùng lãnh thổ tại Palestine được phân chia cho người Ả Rập theo Nghị quyết 181 (II) đã bị sáp nhập vào Israel, trong khi Jordan sáp nhập Bờ Tây và Ai Cập chiếm lấy Dải Gaza. Đồng thời Israel cũng sáp nhập Tây Jerusalem, còn Đông Jerusalem tạm thời được đặt dưới quyền kiểm soát của Jordan.

Bị mất toàn bộ lãnh thổ, một làn sóng di cư khổng lồ của người Ả Rập tại Palestine sang các quốc gia láng giềng đã bùng nổ trong thời gian này. Những người tị nạn Palestine không được phép quay trở lại Israel, và hầu hết các quốc gia Ả Rập láng giềng, ngoại trừ Transjordan, đã từ chối cấp quốc tịch cho họ hoặc cho con cháu của họ. Năm 1949, Israel đã đề nghị cho phép một số thành viên của các gia đình bị ly tán trong chiến tranh được trở về, giải phóng các tài khoản của người tị nạn bị đóng băng tại các ngân hàng Israel, và cho hồi hương 100.000 người tị nạn. Các quốc gia Ả Rập đã bác bỏ đề nghị thỏa hiệp này, một phần vì họ không muốn thực hiện bất kỳ hành động nào có thể được hiểu là sự công nhận Nhà nước Israel. Cũng do cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, khoảng 856.000 người Do Thái đã phải chạy trốn hoặc bị trục xuất khỏi các quốc gia Ả Rập và Hồi giáo, và phần lớn trong số họ sau đó đã được Israel tiếp nhận.[13]

Trong những năm 1950, Jordan và Ai Cập ủng hộ các cuộc tấn công khủng bố xuyên biên giới của lực lượng phiến quân Fedayeen vào lãnh thổ Israel, buộc Israel phải tiến hành các động thái đáp trả. Năm 1954, Ai Cập bắt đầu phong toả Eo Tiran, ngăn cản mọi con tàu tới Eilat.[14] Ngày 26 tháng 7 năm 1956, Ai Cập quốc hữu hóa Công ty Kênh đào Suez, và đóng cửa kênh đào này với tàu bè Israel.[15] Israel trả đũa ngày 29 tháng 10 năm 1956, bằng cách xâm chiếm Bán đảo Sinai với sự hỗ trợ của Anh và Pháp. Cuộc khủng hoảng Suez năm 1956 dẫn đến sự chiếm đóng ngắn hạn của Israel đối với Dải Gaza, tuy vậy biên giới cũ đã được khôi phục không lâu sau đó.

Vào năm 1964, Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) được thành lập bởi Yasser Arafat. Mục tiêu của tổ chức là dùng đấu tranh vũ trang để giải phóng Palestine. Hiến chương ban đầu của PLO tuyên bố mong muốn thành lập một nhà nước Palestine trên toàn bộ lãnh thổ lịch sử trước năm 1948, và coi việc "xóa sổ sự hiện diện của chủ nghĩa phục quốc Do Thái khỏi Palestine" là một "nghĩa vụ dân tộc". Hiến chương cũng đòi quyền được trở về và quyền tự quyết cho người Palestine.[16]

Năm 1967, các nước Ả Rập lên kế hoạch xâm lược Israel lần thứ hai, với mục đích tự vệ Israel đã mở một chiến dịch tấn công phủ đầu vào cả ba nước Ả Rập là Syria, Jordan và Ai Cập, diễn đến sự bùng nổ của cuộc Chiến tranh Sáu ngày. Kết thúc cuộc chiến, Israel đã chinh phục được Bờ Tây (bao gồm cả Đông Jerusalem), Dải Gaza, Cao nguyên Golan và Bán đảo Sinai, đánh dấu một thất bại nặng nề dành cho khối Ả Rập.

Cuối tháng 8 năm 1967, các nhà lãnh đạo Ả Rập đã họp tại Khartoum để thống nhất lập trường chung đối với Israel. Họ đã nhất trí về một chính sách được biết đến với tên gọi "ba không": không công nhận, không hòa bình, và không đàm phán với Nhà nước Israel.[17]

Sau cuộc chiến Sáu ngày, Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) buộc phải tháo chạy sang Jordan, nơi vua Hussein đã cung cấp các căn cứ và nơi trú ẩn cho họ. Tuy vậy đến năm 1970, PLO bất ngờ phản bội Hussein và quay sang chống lại ông trong sự kiện đẫm máu được gọi là Tháng Chín đen tối.

Thất bại trước quân đội chính phủ Jordan, PLO lại phải di dời đến Nam Lebanon, nơi đây đã được PLO sử dụng làm căn cứ để tiến hành các cuộc tấn công khủng bố vào miền bắc Israel cũng như các chiến dịch không tặc trên toàn thế giới. Một trong những hành động khủng bố khét tiếng nhất của các nhóm phiến quân Palestine trong thời gian này là vụ bắt giữ và giết hại 11 vận động viên Israel tại Thế vận hội Olympic năm 1972. Bên cạnh đó, những phần tử khủng bố Palestine còn chịu trách nhiệm trong vô số các cuộc tấn công đáng chú ý khác, chẳng hạn như vụ không tặc chuyến bay Sabena 571 và vụ thảm sát ở sân bay Lod.

Trong cuộc Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, các lực lượng quân sự của Ai Cập và Syria lại tấn công Israel nhằm tái chiếm các vùng lãnh thổ bị mất trong chiến tranh Sáu ngày, song cuộc xâm lược này tiếp tục thất bại trước sự phản kháng mạnh mẽ của Israel. Để chứng tỏ thiện chí hòa bình, Israel đã trả lại Bán đảo Sinai cho Ai Cập theo Hiệp định Hòa bình David Camp năm 1978, với hy vọng thiết lập một nền hòa bình thực sự ở Trung Đông. Tuy vậy những hi vọng về việc lập lại hòa bình đã tan vỡ sau vụ thảm sát Coast Road được tiến hành bởi PLO cũng trong năm đó, khiến nhiều dân thường Israel thiệt mạng.

Bill Clinton, Yitzhak Rabin và Yasser Arafat trong buổi ký hiệp ước Oslo tại Nhà Trắng ngày 13-9-1993

Sau vụ việc nhóm vũ trang ANO của Palestine ám sát hụt một nhà ngoại giao Israel vào năm 1982, Israel đã đáp trả bằng việc mở một cuộc tấn công toàn diện vào Lebanon. Các nhóm vũ trang của Palestine bị đánh bại nhanh chóng trong vòng vài tuần, và trụ sở của PLO đã được sơ tán đến Tunisia vào tháng 6 theo quyết định của Yasser Arafat.

Phong trào Intifada đầu tiên của người Palestine nổ ra vào năm 1987. Đến đầu những năm 1990, các nỗ lực quốc tế để giải quyết cuộc xung đột đã bắt đầu, nhờ vào thành công của hiệp ước hòa bình Ai Cập - Israel năm 1982. Hiệp định Oslo năm 1993 đã cho phép PLO di dời khỏi Tunisia và thành lập Chính quyền Quốc gia Palestine ở Bờ Tây và Dải Gaza. Tiến trình hòa bình đã vấp phải sự phản đối đáng kể từ các nhóm Hồi giáo cực đoan của Palestine, tiêu biểu là Hamas, những kẻ đã ngay lập tức khởi xướng một chiến dịch khủng bố nhắm vào người Israel.

Trong bối cảnh bạo lực leo thang và hy vọng về một giải pháp ngoại giao ngày càng mong manh, vào tháng 7 năm 2000, Hội nghị thượng đỉnh Trại David đã được tổ chức nhằm đạt đến một thỏa thuận về "quy chế cuối cùng". Hội nghị đã sụp đổ sau khi Yasser Arafat của Palestine kiên quyết không chấp nhận một đề xuất được đánh giá là hào phóng do các nhà đàm phán của Mỹ và Israel đưa ra. Để đổi lấy hòa bình, phía Israel đã đề nghị trao trả toàn bộ Dải Gaza, hứa hẹn một thủ đô cho Palestine tại một phần diện tích của Đông Jerusalem, 73% diện tích của Bờ Tây (không bao gồm phía đông Jerusalem) và sẽ tăng lên mức 90–94% sau 10–25 năm, cùng với việc bồi thường tài chính cho những người tị nạn Palestine. Arafat đã từ chối thỏa thuận này mà không đưa ra bất kỳ một đề nghị nào đáp lại.[18]

Sau nhiều năm đàm phán không thành công, cuộc xung đột đã nổ ra thành Intifada lần thứ hai vào tháng 9 năm 2000. Bạo lực đã leo thang thành một cuộc xung đột mở giữa Lực lượng An ninh Quốc gia Palestine và Lực lượng Quốc phòng Israel, kéo dài trong suốt những năm 2004-2005. Năm 2005, Thủ tướng Israel Sharon đã ra lệnh di dời những người định cư và binh lính Israel khỏi Gaza.

Sau khi cuộc đấu tranh chính trị nội bộ ở Palestine giữa 2 phe là Fatah và Hamas nổ ra vào năm 2007, Hamas đã nắm quyền kiểm soát hoàn toàn khu vực. Căng thẳng giữa Israel và Hamas leo thang cho đến cuối năm 2008, khi Israel triển khai chiến dịch Cast Lead tại Gaza, dẫn đến hàng ngàn thương vong dân sự và thiệt hại hàng tỷ USD. Đến tháng 2 năm 2009, một lệnh ngừng bắn đã được ký kết với sự tham gia hòa giải của cộng đồng quốc tế, mặc dù những cuộc giao tranh lẻ tẻ giữa hai bên vẫn tiếp diễn. Ngày 29 tháng 11 năm 2012, Nghị quyết số 67/19 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc được thông qua, nâng cấp Palestine lên vị thế "nhà nước quan sát viên phi thành viên" tại Liên Hợp Quốc. Việc thay đổi vị thế này được mô tả là công nhận thực tế chủ quyền quốc gia của Palestine.

Vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, Hamas và các nhóm vũ trang Palestine khác đã phát động một cuộc tấn công quy mô lớn vào lãnh thổ Israel, mở đầu bằng việc bắn 2.200 quả rocket từ Dải Gaza. Cùng lúc đó, hàng trăm tay súng Palestine đã xâm nhập qua biên giới, tiến vào lãnh thổ Israel bằng đường bộ và các phương tiện cơ giới. Họ đã giao tranh với lực lượng an ninh Israel, sát hại dân thường và chiếm giữ các thị trấn cũng như căn cứ quân sự của Israel. Cuộc tấn công đã khiến 1.139 người Israel và công dân nước ngoài thiệt mạng, trong đó có 766 dân thường và 373 thành viên lực lượng an ninh; ngoài ra còn có 251 người Israel và công dân nước ngoài bị bắt cóc đưa sang Gaza. Sau cuộc tấn công ban đầu, các lực lượng Israel đã quét sạch các tay súng Hamas khỏi miền nam Israel trước khi tiến hành các cuộc không kích dữ dội vào Dải Gaza, theo sau đó là một cuộc tấn công trên bộ quy mô lớn với mục tiêu đã nêu là tiêu diệt Hamas, giải thoát con tin và kiểm soát an ninh ở Gaza. Cuộc chiến đã gây ra sự tàn phá trên diện rộng, dẫn đến một cuộc khủng hoảng nhân đạo và nạn đói ở Dải Gaza, trong khi phần lớn dân số bị buộc phải di dời đi nơi khác.

Những vấn đề đang tranh chấp hiện nay

[sửa | sửa mã nguồn]

Jerusalem

[sửa | sửa mã nguồn]

Jerusalem là một vấn đề đặc biệt nhạy cảm, khi mà cả hai bên đều khẳng định yêu sách chủ quyền đối với thành phố này. Thành phố Jerusalem đóng vai trò quan trọng đối với cả ba tôn giáo Abraham lớn nhất là Do Thái giáo, Cơ đốc giáo và Hồi giáo. Jerusalem là thành phố linh thiêng nhất của Do Thái giáo, là địa điểm tọa lạc trước đây của các đền thờ Do Thái trên Núi Đền và cũng là thủ đô của vương quốc Israel cổ đại. Đối với người Hồi giáo, Jerusalem là địa điểm mà nhà tiên tri Mohammad đã thực hiện "hành trình đêm đến thiên đường", cũng là nơi đặt Thánh đường Hồi giáo al-Aqsa. Đối với các Kitô hữu, Jerusalem là nơi đã từng chứng kiến Chúa Jesus bị hành quyết, cũng là nơi tọa lạc của Nhà thờ Mộ Thánh.

Trụ sở của nhiều cơ quan chính phủ Israel như Quốc hội và Tòa án tối cao đã được xây dựng ở Tây Jerusalem kể từ thời điểm Israel chiếm được khu vực này sau Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948. Sau khi Israel sáp nhập Đông Jerusalem từ Jordan vào năm 1967, quốc gia này đã giành quyền kiểm soát trên thực tế (de facto) đối với Đông Jerusalem nói riêng và toàn bộ Jerusalem nói chung. Năm 1980, Israel đã thông qua Luật Jerusalem tuyên bố "Jerusalem, hoàn chỉnh và thống nhất, là thủ đô của Israel".

Cả Hoa Kỳ [19] và Nga [20] đều công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Tính đến năm 2005, có hơn 719.000 người sống ở Jerusalem; 465.000 trong số đó là người Do Thái (chủ yếu sống ở Tây Jerusalem) và 232.000 là người Hồi giáo (chủ yếu sống ở Đông Jerusalem).

Tại Hội nghị thượng đỉnh Trại David và Taba 2000-2001, Hoa Kỳ đã đề xuất một kế hoạch phân chia thành phố trong đó Đông Jerusalem sẽ được trao cho nhà nước Palestine trong khi Tây Jerusalem được trao cho Israel. Tất cả các công trình khảo cổ nằm dưới Núi Đền sẽ được chính phủ Israel và Palestine cùng kiểm soát. Cả hai bên đã chấp nhận đề xuất này trên nguyên tắc, nhưng hội nghị thượng đỉnh cuối cùng đã thất bại, và kế hoạch này không được thực thi.

Israel đã từng bày tỏ lo ngại về sự an toàn của cư dân Do Thái nếu một phần của Jerusalem được đặt dưới sự kiểm soát của người Palestine. Jerusalem là mục tiêu hàng đầu của một loạt cuộc tấn công khủng bố được tiến hành bởi các nhóm chiến binh Palestine nhằm vào dân thường Israel kể từ năm 1967. Nhiều khu phố của người Do Thái đã bị nã rocket từ các khu vực thuộc quyền kiểm soát của người Ả Rập. Nếu như một phần Jerusalem được đặt dưới sự kiểm soát của Palestine thì điều đó sẽ là mối nguy hại to lớn đối với toàn thể cư dân Do Thái.[21]

Jerusalem là thủ đô của nhà nước Israel cổ đại từ thế kỷ thứ 10 TCN, hơn 1.600 năm trước khi người Ả Rập chiếm được thành phố này. Mặc dù người Hồi giáo tin rằng Jerusalem là nơi mà nhà tiên tri Muhammad đã bắt đầu hành trình lên Thiên giới, thế nhưng hoàn toàn không có bằng chứng nào chứng minh rằng Muhammad đã từng đặt chân tới thành phố này, và người Ả Rập cũng chỉ chiếm được nó vào thời điểm 5 năm sau khi Muhammad qua đời. Thành phố Jerusalem thậm chí còn không được đề cập đến trong kinh Koran của đạo Hồi, ngược lại Kinh Cựu ước của Do Thái giáo đã nhắc đến Jerusalem tổng cộng hơn 600 lần [22]

Người tị nạn Palestine

[sửa | sửa mã nguồn]
Một trại tị nạn của người Ả Rập Palestine tại Lebanon, năm 1952

Người tị nạn Palestine là những người mất cả nhà cửa và phương tiện sinh nhai do cuộc xung đột giữa Israel với các quốc gia Ả Rập năm 1948 và Chiến tranh Sáu ngày năm 1967. Số người Palestine chạy trốn hoặc bị trục xuất khỏi Israel sau khi nhà nước Israel được thành lập ước tính là 711.000 người.[23] Khoảng từ 350.000 đến 400.000 người Palestine đã phải di dời sang các nước khác trong cuộc chiến tranh Ả Rập- Israel năm 1967. Một phần ba số người tị nạn sống trong các trại tị nạn ở Jordan, Lebanon, Syria, Bờ Tây và Dải Gaza. Phần còn lại sống trong và xung quanh các thành phố và thị trấn của các quốc gia sở tại.

Hầu hết những người tị nạn này được sinh ra bên ngoài Israel, nhưng là hậu duệ của những người tị nạn gốc Palestine. Lãnh tụ PLO Yasser Arafat, cho đến nay công khai khẳng định rằng những người tị nạn Palestine có quyền để trở về nơi họ sống trước năm 1948 và 1967, ông ta thậm chí đã trích dẫn các Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền và Nghị quyết Đại hội đồng LHQ 194 làm bằng chứng. Tuy vậy Mahmoud Abbas, người đứng đầu hiện tại của Tổ chức Giải phóng Palestine đã từng nói trong một cuộc thảo luận riêng rằng "thật phi lý khi yêu cầu Israel tiếp nhận tới 5 triệu người tị nạn, hoặc thậm chí là 1 triệu. Điều đó sẽ là sự kết thúc của Israel." [24]

Hiện nay có rất nhiều những ý kiến cho rằng chính phủ Israel không nên tiếp nhận những người tị nạn này. Những lí lẽ chủ yếu bao gồm:

  • Chính phủ Israel khẳng định rằng vấn đề người tị nạn Ả Rập ngày nay phần lớn là do hầu hết các quốc gia Ả Rập (trừ Jordan) từ chối trao quyền công dân cho người Ả Rập Palestine cư trú trong lãnh thổ của nước họ. Chinh sự thờ ơ của các nước Ả Rập đã gây ra quá nhiều khổ đau cho người tị nạn.[25]
  • Chính phủ Israel tuyên bố rằng trong cuộc Chiến tranh năm 1948, các quốc gia Ả Rập đã khuyến khích người Palestine chạy trốn để dễ dàng hơn trong việc ngăn chặn nhà nước Do Thái thành lập, do đó ngày nay những người tị nạn này và con cháu của họ không có quyền được trở lại.[25]
  • Kể từ năm 1948, cũng đã có hơn 900.000 người tị nạn Do Thái chạy trốn khỏi các nước Ả Rập để tránh bị bức hại và những người này cũng không hề được bồi thường hoặc chấp nhận hồi hương bởi các quốc gia cư trú cũ của họ.[26][27][28]
  • Việc để những người tị nạn này quay trở lại Israel vào thời điểm hiện tại sẽ là mối nguy hiểm lớn cho sự ổn định của nhà nước Do Thái; một dòng người tị nạn Palestine thậm chí có thể sẽ dẫn đến sự hủy diệt của nhà nước Israel.[29][30]
  • Chính người Palestine là những kẻ xâm lược trong cuộc chiến năm 1948, với mục đích thanh trừng một cộng đồng dân tộc láng giềng. Nếu nghị quyết của Liên Hợp Quốc ngày 29 tháng 11 năm 1947 về việc phân vùng Palestine không bị thế giới Ả Rập phản đối, thì sẽ không có vấn đề về người tị nạn ngay từ đầu. Cũng đã có báo cáo về số lượng lớn người tị nạn Palestine rời đi ngay cả trước khi chiến tranh bùng nổ năm 1948.[31]

Các khu định cư của Israel ở Bờ Tây

[sửa | sửa mã nguồn]
Khu định cư Elon Moreh của người Israel ở Bờ Tây

Các khu định cư của Israel là các cộng đồng dân sự có công dân Israel sinh sống, được xây dựng trên các vùng đất mà Israel đã chiếm được trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967. Các khu định cư của Israel hiện đang tồn tại ở Bờ Tây, bao gồm cả Đông Jerusalem cũng như ở Cao nguyên Golan, và trước đây đã từng tồn tại ở Bán đảo Sinai cũng như Dải Gaza; tuy nhiên, Israel đã sơ tán và dỡ bỏ 18 khu định cư ở Sinai sau thỏa thuận hòa bình Ai Cập-Israel năm 1979 và tất cả 21 khu định cư ở Dải Gaza vào năm 2005 khi chính phủ nước này tuyên bố rút khỏi Dải Gaza, nhằm thể hiện thiện chí hòa bình với Palestine.

Nhiều quốc gia trên thế giới cho rằng việc xây dựng các khu định cư là "vi phạm luật pháp quốc tế",[32][33] tuy vậy chính phủ Israel đã bác bỏ mạnh mẽ những cáo buộc này [34]

Một số học giả và nhà bình luận cũng không đồng ý với những quan điểm cho rằng việc xây dựng các khu định cư là bất hợp pháp. Giáo sư Julius Stone, chuyên gia về luật quốc tế của Đại học Sydney đã khẳng định rằng "Sự hiện diện của Israel ở tất cả các khu vực này trong khi chờ đàm phán về đường biên giới mới là hoàn toàn hợp pháp, vì người Israel đã tiến vào đây một cách hợp pháp để tự vệ".[35] Cựu Chủ tịch Tòa án Công lý Quốc tế Steve Schwebel cũng đưa ra phán quyết khẳng định rằng sự hiện diện của Israel ở Bờ Tây, Đông Jerusalem và Dải Gaza được gắn với quyền tự vệ, do đó không thể được định nghĩa là "chiếm đóng".[36]

Về mặt pháp lí, chính quyền Palestine chưa từng xác lập chủ quyền đối với Bờ Tây. Chính PLO trong bản hiến chương của mình cũng đã khẳng định rằng họ hoàn toàn không có chủ quyền đối với Bờ Tây, điều 24 hiến chương PLO nêu rõ: "Tổ chức này không thực hiện bất kỳ chủ quyền lãnh thổ nào đối với Bờ Tây thuộc Vương quốc Jordan, đối với Dải Gaza hoặc trong Khu vực Himmah" [37]

Phong tỏa Dải Gaza

[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Israel khẳng định rằng theo luật pháp quốc tế, họ có quyền chính đáng để áp đặt lệnh phong tỏa đối với kẻ thù của họ nhằm mục đích đảm bảo an ninh. Quyền áp đặt phong tỏa trên biển đã được quy định rõ trong luật tập quán quốc tế và luật xung đột vũ trang, và một ủy ban của Liên Hợp Quốc đã ra phán quyết rằng lệnh phong tỏa của Israel là "hợp pháp và phù hợp".[38][39]

Tổng Cố vấn Quân sự của Israel cũng đưa ra lời giải thích cho chính sách này:

Nhà nước Israel đã và đang tham gia vào một cuộc xung đột vũ trang liên tục với các tổ chức khủng bố hoạt động ở Dải Gaza. Cuộc xung đột vũ trang này đã leo thang sau khi Hamas chiếm đóng Dải Gaza bằng vũ lực vào tháng 6 năm 2007, biến vùng lãnh thổ do họ kiểm soát trên thực tế thành bệ phóng cho các cuộc tấn công bằng súng cối và tên lửa vào các thị trấn và làng mạc của Israel ở miền Nam Israel.

Vào năm 2010, người đứng đầu Nhà nước Palestine là Abbas tuyên bố rằng ông phản đối việc dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân của Israel đối với Dải Gaza vì điều này sẽ củng cố thế lực của Hamas.[40] Ai Cập cũng ủng hộ lập trường này của Abbas.[40]

Một báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ đã chỉ ra rằng: "Dù trong nội bộ Israel có những quan điểm khác nhau về việc phong tỏa Gaza... hầu hết người dân Israel đều coi an ninh là điều kiện tiên quyết cho sự sống còn và hòa bình. Giới lãnh đạo Israel dường như tin rằng lệnh phong tỏa Dải Gaza [cùng với các biện pháp an ninh và răn đe khác], đã mang lại một giai đoạn yên ổn... Tính đến thời điểm xảy ra vụ tấn công đoàn tàu cứu trợ Gaza, đã hơn một năm không có người Israel nào thiệt mạng trong một vụ khủng bố hay một cuộc tấn công rocket xuyên biên giới. Do đó, từ góc nhìn của chính phủ Israel, họ không muốn từ bỏ chiến thuật phong tỏa này".[41]

Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu khẳng định rằng lệnh phong tỏa là cần thiết để ngăn chặn vũ khí lọt vào Gaza. Ông nói: "Theo luật pháp quốc tế và lẽ thường tình, việc ngăn chặn các loại vũ khí này xâm nhập bằng đường không, đường biển, và đường bộ là nghĩa vụ và cũng là quyền của chúng tôi." Đề cập đến vụ đoàn tàu cứu trợ Gaza, ông nói thêm: "Nếu lệnh phong tỏa bị phá vỡ, thì sau đoàn tàu này sẽ là hàng chục, thậm chí hàng trăm con tàu khác. Lượng vũ khí có thể vận chuyển bằng tàu thủy khác một trời một vực so với những gì được tuồn qua các đường hầm." Ông lập luận rằng nếu Israel không duy trì được lệnh phong tỏa, hậu quả sẽ là "một cảng của Iran ngay tại Gaza, chỉ cách Tel Aviv và Jerusalem vài chục ki-lô-mét".[41]

Một tài liệu của chính phủ Israel cũng nêu rõ:

Một quốc gia có quyền quyết định không giao thương kinh tế hay viện trợ kinh tế cho bên đối địch trong xung đột, cũng có quyền tiến hành "chiến tranh kinh tế" với kẻ địch [42].

Một người phát ngôn của chính phủ Israel cũng cho biết thêm vào năm 2010 rằng lệnh phong tỏa còn nhằm một mục tiêu chính trị và Israel "sẽ không thể dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận chừng nào Hamas vẫn còn nắm quyền kiểm soát Gaza".[42]

Các cáo buộc về chế độ phân biệt chủng tộc

[sửa | sửa mã nguồn]

Một số tổ chức như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) và Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty) đã đưa ra các cáo buộc rằng Israel đang vận hành một hệ thống apartheid tương tự như chế độ của Nam Phi trước đây. Trong một báo cáo năm 2021, HRW cáo buộc rằng chính quyền Israel duy trì sự "thống trị" đối với người Palestine thông qua các chính sách như trưng thu đất đai, hạn chế đi lại ở Bờ Tây, và mở rộng các khu định cư.[43] Họ gọi đây là "tội ác apartheid" và "đàn áp" căn cứ theo luật quốc tế. Tương tự, báo cáo năm 2022 của Tổ chức Ân xá Quốc tế mô tả cách Israel đối xử với người Palestine là một "hệ thống thống trị tàn nhẫn".[44]

Tuy nhiên, nhiều ý kiến lại cho rằng sự so sánh này là sai lầm về cả thực tế lẫn định nghĩa. Chế độ apartheid ở Nam Phi được xây dựng dựa trên hệ thống phân cấp chủng tộc (màu da), loại trừ người không phải da trắng khỏi quyền công dân, quyền bầu cử và các cơ sở công cộng. Ngược lại, các chính sách của Israel phân biệt dựa trên quốc tịch, tình trạng cư trú và rủi ro an ninh chứ không phải chủng tộc hay sắc tộc. Theo quan điểm của Israel, những chính sách như vậy được biện minh bởi các cân nhắc về an ninh, xét đến những mối đe dọa trong quá khứ và hiện tại do các tổ chức khủng bố Palestine gây ra nhắm vào thường dân Israel, ngay cả trong phạm vi biên giới trước năm 1967 của Israel. Mặc dù các chính sách và hoạt động của Israel chắc chắn có thể gặp phải một số chỉ trích, nhưng sẽ không chính xác về mặt thực tế khi nói rằng chúng giống như một hệ thống cố định và được thể chế hóa, được thúc đẩy và thiết kế bởi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.[45]

Các luận điểm phản bác chỉ ra rằng ngày nay tại Israel, có rất nhiều những biện pháp bảo vệ nhằm đảm bảo sự đối xử bình đẳng cho tất cả công dân, dù là người Do Thái hay người Ả Rập, và luật pháp Israel cùng các thể chế dân chủ, bao gồm các tòa án độc lập và nền báo chí tự do mạnh mẽ, được giao nhiệm vụ bảo vệ và lên tiếng cho những quyền này. Mặc dù chỉ chiếm 20% dân số Israel, rất nhiều công dân là người Ả Rập tại Israel giữ các chức vụ thẩm phán, đại sứ, nhà lập pháp, nhà báo, giáo sư, nghệ sĩ và đóng vai trò quan trọng trong mọi khía cạnh của xã hội Israel. Từ tháng 6 năm 2021, lần đầu tiên một đảng chính trị Ả Rập Hồi giáo đã trở thành một đối tác trong liên minh cầm quyền của Israel.[45] Các công dân Ả Rập của Israel (chiếm khoảng 21% dân số vào năm 2023) sở hữu đầy đủ quyền lợi pháp lý, bao gồm quyền bầu cử, tư cách ứng cử vào Quốc hội (Knesset), và quyền tiếp cận tư pháp cũng như phục vụ trong quân đội.[46] Đây là những điều không hề tồn tại trong chế độ apartheid ở Nam Phi.

Tại Bờ Tây, Chính quyền Palestine (PA) quản lý Khu vực A và B theo Hiệp định Oslo (thập niên 1990). Israel chỉ duy trì kiểm soát an ninh do các mối đe dọa khủng bố tái diễn (bao gồm các vụ đánh bom liều chết giết hơn 1.000 người Israel từ 2000-2005). Các hạn chế này áp dụng cho những người không phải công dân trong bối cảnh xung đột, do vậy nhiều học giả cho rằng đó không thể coi là sự đàn áp chủng tộc.[47] Việc phong tỏa Gaza được áp đặt sau khi Hamas nắm quyền vào năm 2007 và các cuộc tấn công bằng tên lửa (hơn 20.000 quả) là hành động đáp trả các tổ chức vũ trang thù địch, không phải nhắm vào sắc tộc của dân thường. Hội đồng Người Do Thái ở Hoa Kỳ (AJC) cho rằng: "Apartheid là một thuật ngữ được các tổ chức quốc tế sử dụng để chỉ trích tội ác của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Việc thao túng và biến nó thành một thuật ngữ kích động để bôi nhọ Israel là điều đáng ghê tởm"[48]. Tổng giám đốc điều hành AJC là David Harris cho rằng "việc so sánh Nhà nước dân chủ tự do Israel với chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi chẳng khác nào một lời bịa đặt, một sự phỉ báng".[48]

Các báo cáo từ Tổ chức Theo dõi Nhân quyền và Tổ chức Ân xá Quốc tế cũng đối mặt với cáo buộc về sự thiên vị trong phương pháp luận. Những người chỉ trích chỉ ra rằng các báo cáo này đã cố tình bỏ qua việc phía Palestine nhiều lần từ chối các giải pháp hòa bình (như năm 1947 hoặc tại Camp David năm 2000) và các hành vi kích động bạo lực. Họ cũng bị cáo buộc là áp dụng định nghĩa "apartheid" một cách lỏng lẻo mà không có bằng chứng về ý định thống trị dựa trên chủng tộc.[49] Tổ chức NGO Monitor nhấn mạnh việc Amnesty dựa vào các nguồn tin không được kiểm chứng của Palestine và không đề cập đến sự hội nhập của người Israel gốc Ả Rập (ví dụ, tỷ lệ sinh viên Ả Rập trong giáo dục đại học Israel tăng lên 18% vào năm 2023).[49] Ngoài ra, lịch sử cho thấy các tổ chức này tập trung không tương xứng vào Israel—Tổ chức Ân xá Quốc tế dành nhiều nguồn lực cho Israel hơn cả Syria hay Trung Quốc— nhiều ý kiến cho rằng điều này làm suy yếu tuyên bố về tính trung lập của họ.[50]

Theo một báo cáo bởi cộng đồng Ả Rập Cơ đốc giáo tại Jerusalem gửi lên Tòa án Công lý quốc tế vào năm 2020, cư dân Ả Rập ở Jerusalem có nguy cơ phải đối mặt với những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nếu như họ được đặt dưới quyền tài phán của Chính quyền Palestine. Chẳng hạn luật pháp Palestine cấm bán đất cho người Do Thái, và những người bị kết án vì tội này có nguy cơ bị trừng phạt nghiêm khắc, thậm chí tử hình. Theo họ thì bản thân điều này có thể chứng minh cho cáo buộc rằng chính các quan chức Palestine đang phạm tội phân biệt chủng tộc.[50][51]

Cuộc thăm dò năm 2016 do Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Khảo sát Palestine thực hiện cho thấy rằng 68% người Palestine (73% ở Bờ Tây và 59% ở Dải Gaza) mô tả nền dân chủ của Israel là "tốt hoặc rất tốt".[52] Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy phần lớn cư dân Ả Rập ở Jerusalem, cả Cơ đốc giáo lẫn Hồi giáo, đều muốn tiếp tục nằm dưới sự kiểm soát của Israel, thay vì bị chuyển giao cho Chính quyền Palestine.[53][54]

Các cáo buộc về việc sử dụng vũ lực mất cân xứng

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cáo buộc về sự mất cân xứng (disproportionality) trong các hoạt động quân sự của Israel, đặc biệt là ở Gaza, cho rằng Israel gây tổn hại dân sự quá mức so với các mối đe dọa. Những người chỉ trích viện dẫn sự chênh lệch về thương vong (ví dụ, hơn 40.000 ca tử vong của người Palestine được Bộ Y tế Gaza báo cáo kể từ tháng 10 năm 2023) làm bằng chứng về việc sử dụng vũ lực bừa bãi và vi phạm luật nhân đạo quốc tế.[55] Tuy vậy theo Luật Nhân đạo Quốc tế (IHL), tính tương xứng không được đo bằng tổng số thương vong mà được đánh giá bằng cách so sánh tổn hại dân sự dự kiến với lợi thế quân sự cụ thể trong từng cuộc tấn công riêng lẻ. Các hoạt động của Israel phần lớn nhắm vào cơ sở hạ tầng của Hamas sau cuộc tấn công của nhóm này vào ngày 7 tháng 10 năm 2023 (giết 1.200 người Israel và bắt 250 con tin).[56]

Có nhiều bằng chứng cho thấy Hamas cố tình cài cắm các cơ sở quân sự trong các khu vực dân sự, sử dụng dân thường làm lá chắn sống để làm tăng thương vong cho mục đích tuyên truyền.[57][58] Hành vi này này bao gồm việc bắn rocket từ các trường học, bệnh viện và cất giữ vũ khí trong các cơ sở của Liên Hợp Quốc.

Các hoạt động của Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) tại Gaza đã tiêu diệt khoảng 17.000-20.000 chiến binh Hamas tính đến giữa năm 2025 (theo đánh giá quân sự và tình báo Hoa Kỳ). Điều này đưa ra tỷ lệ thương vong dân thường-chiến binh là từ 1:1 đến 2:1, tỷ lệ này thực tế thấp hơn các trận chiến đô thị khác như trận Mosul (1:2.5) chống lại ISIS, bất chấp chiến thuật của Hamas gây phức tạp cho các cuộc tấn công chính xác.[56] Ngoài ra, các số liệu của Bộ Y tế Gaza (do Hamas kiểm soát) bị coi là không đáng tin cậy vì chúng gộp chung chiến binh với dân thường và không loại trừ các ca tử vong tự nhiên hoặc do chính tên lửa của Palestine bắn hỏng (ước tính 10-15% thương vong ban đầu là do phía Palestine).[59] Israel cũng thực hiện các biện pháp cảnh báo để giảm thiểu tổn hại (tờ rơi, cuộc gọi, đạn "gõ nóc"), nhưng Hamas lại thường xuyên ngăn chặn người dân sơ tán.[60] Những yếu tố này giải thích cho thương vong cao của phía Palestine mà không đồng nghĩa với việc Israel vi phạm pháp luật quốc tế về nhân đạo, vì Hamas phải chịu trách nhiệm khi cố tình gây nguy hiểm cho chính dân số của mình.[58]

Cáo buộc về hành vi diệt chủng

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến hành bởi Israel

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều cáo buộc cho rằng Israel đang tiến hành cuộc tiêu diệt có hệ thống và có chủ đích người Palestine tại Dải Gaza. Các hành vi diệt chủng bị cáo buộc bao gồm giết người quy mô lớn, lợi dụng nạn đói làm vũ khí chiến tranh, cố tình gây thương tích về thể chất và tinh thần đối với thường dân, và ngăn cản sinh đẻ; bên cạnh đó là các hành vi cấu thành tội ác chiến tranh như phá hủy hạ tầng dân sự, trường học và bệnh viện, lạm sát nhân viên y tế và thường dân tìm kiếm viện trợ, cưỡng ép di dời, và bạo lực tình dục. Tính đến tháng 8 năm 2025, Bộ Y tế Gaza báo cáo ít nhất 60.138 cư dân tại Dải Gaza đã bị giết – cứ 37 người thì có 1 người chết – với con số trung bình 91 người chết mỗi ngày.[61] Hầu hết nạn nhân là dân thường, trong đó ít nhất 50% là phụ nữ và trẻ em.[62] Tính đến tháng 5 năm 2025, ước lượng tương đương về số ca tử vong do chấn thương là vào khoảng 93.000, tức khoảng 4–5% dân số Gaza tiền chiến.[63] Số người bị thương là hơn 100.000;[64] Gaza có tỉ lệ trẻ em bị què cụt trên đầu người cao nhất thế giới.[65] Chính phủ Nam Phi đã khởi kiện Israel tại Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), cáo buộc quốc gia này vi phạm công ước quốc tế về tội diệt chủng.

Israel tuyên bố rằng mục tiêu của họ trong cuộc chiến là tự vệ, và họ không cố ý nhắm vào dân thường cũng như đã ban hành các thông báo sơ tán để ngăn ngừa tổn hại. Israel nhấn mạnh rằng cuộc chiến của họ diễn ra trong một môi trường đô thị đông đúc chống lại tổ chức khủng bố Hamas, vốn thường xuyên sử dụng dân thường làm lá chắn sống và lợi dụng các công trình dân sự cho các hoạt động khủng bố.[66][67][68][69]

Trong một cuộc phỏng vấn với BBC, bà Joan Donoghue, Chánh án Tòa án Công lý Quốc tế, nói rõ: "Chúng tôi không hề cho rằng các cáo buộc về diệt chủng ở Gaza là hợp lý." [70][71][72]

John Spencer, một nhà nghiên cứu về chiến tranh đô thị, viết rằng: "Diệt chủng không thể được định nghĩa bằng những câu trích dẫn bị cắt xén, những con số thương vong chưa được kiểm chứng hay cảm nhận chung về sự tàn phá. Đây là một định nghĩa pháp lý rất chính xác, đòi hỏi bằng chứng về ý định tiêu diệt một nhóm dân tộc hay quốc gia cụ thể." Ông cũng viết thêm: "Không có bất cứ điều gì tôi thấy có thể gọi là diệt chủng. Tôi không thấy ý định đó, mà ngược lại – tôi thấy một sự thận trọng đặc biệt để bảo vệ mạng sống dân thường." [73]

Các quan chức Israel và nhiều bên khác nghi ngờ số liệu do Bộ Y tế Gaza (do Hamas kiểm soát) đưa ra. Họ cho rằng con số này có thể bị bóp méo vì lý do chính trị. [74][75][76][77][78] Theo chuyên gia kinh tế về Hamas, ông Eyal Ofer, Bộ Y tế Palestine cho biết tính đến tháng 1 năm 2025, có khoảng 60.000 đến 70.000 trẻ em đã được sinh ra kể từ khi chiến tranh bắt đầu. Theo ông, "Điều này có nghĩa là số lượng cư dân Gaza trong thời gian chiến tranh trên thực tế đã tăng lên." [79] Theo Sách Dữ kiện Thế giới (CIA World Factbook), tính đến tháng 11 năm 2024, dân số Gaza đã tăng khoảng 2% kể từ khi bắt đầu cuộc chiến. [80][81] Ông James Sinkinson, chủ tịch tổ chức "FLAME", cũng cho rằng "số ca sinh ở Gaza trong chiến tranh cao hơn nhiều so với số ca tử vong liên quan, và xét về con số tuyệt đối, dân số Gaza chỉ đang ngày càng tăng lên." [82]

IDF và các trang tin tức của Israel đã cáo buộc Hamas và người Palestine làm giả video, hình ảnh và lan truyền tin giả (một hiện tượng còn được gọi là "Pallywood").[83] [84] [85][86][87] IDF đã nhiều lần tuyên bố rằng họ phát hiện nhiều nhân viên của UNRWA (cơ quan LHQ), giáo viên, nhà báo và bác sĩ thực chất cũng là thành viên của các nhóm khủng bố, hoặc có kẻ khủng bố giả làm các nghề này. [88][89][90][91][92][93][94][95][96] Theo báo cáo của IDF và các nguồn khác, Hamas và nhóm Thánh chiến Hồi giáo đang sử dụng trẻ em và thanh thiếu niên để làm khủng bố, như vận chuyển vũ khí, đặt mìn, tham gia chiến đấu, và đôi khi là tuyển mộ trực tiếp. [97][98][99][100]

Một nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Begin-Sadat đã bác bỏ các cáo buộc diệt chủng nhắm vào Israel, cho rằng chúng thiếu cơ sở thực tế và pháp lý, đồng thời khẳng định rằng các cáo buộc này xuất phát từ những sai sót nghiêm trọng về phương pháp luận của các cơ quan quốc tế. [101]

Tiến hành bởi Palestine

[sửa | sửa mã nguồn]
Các chiến binh Hamas áp giải con tin người Israel sau vụ khủng bố ngày 7 tháng 10

Vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, trùng với ngày lễ Simchat Torah của người Do Thái, Hamas đã phát động một cuộc tấn công bất ngờ vào Israel từ Dải Gaza. Khoảng 6.000 kẻ khủng bố người Palestine đã vượt biên giới tại 119 địa điểm và xâm nhập vào lãnh thổ Israel, bao gồm 3.800 người thuộc "lực lượng Nukhba tinh nhuệ" của Hamas và 2.200 thường dân Palestine cùng các chiến binh thánh chiến khác.[102] 1.163 người Israel và người nước ngoài đã thiệt mạng trong vụ tấn công này, bao gồm 859 thường dân, 282 binh sĩ, 57 cảnh sát và 10 thành viên Shin Bet .[103][104] Những kẻ khủng bố này cũng đã phạm nhiều tội ác khác nhau, bao gồm cả bạo lực tình dục. [105][106] Khoảng 250 thường dân và binh lính Israel cũng bị bắt làm con tin ở Dải Gaza, trong đó có 30 trẻ em. [107] Cuộc tấn công của Hamas đã dẫn tới một cuộc phản công của Israel vào Dải Gaza. Ngày này được coi là ngày đẫm máu nhất trong lịch sử Israel và là vụ thảm sát người Do Thái lớn nhất kể từ sau cuộc diệt chủng Holocaust của Đức Quốc xã. [108] [109]

Vào ngày 16 tháng 10, một bức thư ngỏ có chữ ký của khoảng 240 chuyên gia pháp lý, bao gồm các luật gia và học giả hàng đầu, đã tuyên bố vụ tấn công của Hamas vào ngày 7 tháng 10 năm 2023 là một "tội ác diệt chủng". [110] Theo bức thư, "vì những hành vi khủng khiếp, được lan rộng này dường như đã được thực hiện với mục đích tiêu diệt, toàn bộ hoặc một phần một nhóm dân tộc là người Israel, do đó chúng rất có thể đã cấu thành một tội ác diệt chủng quốc tế". Bức thư đã được các chuyên gia pháp lý từ các tổ chức nổi tiếng, bao gồm Trường Luật Harvard và Trường Luật Columbia, King's College London và Đại học Hebrew ở Jerusalem tán thành. Dan Eldad, cựu Quyền Luật sư Nhà nước Israel từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2020, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc soạn thảo bức thư. Trung tâm Nhân quyền Raoul Wallenberg, do cựu Bộ trưởng Tư pháp Canada Irwin Cotler làm chủ tịch, cũng đã ký vào bức thư. [111] [112]

Vào ngày 17 tháng 10 năm 2023, Genocide Watch đã công bố "Cảnh báo khẩn cấp về diệt chủng", nêu rằng "Hamas nhắm mục tiêu vào người Israel chỉ vì họ là người Israel. Đây là vụ thảm sát người Do Thái chết chóc nhất kể từ sau thảm họa Holocaust . Iran, Hamas, Hezbollah và Jihad Hồi giáo Palestine đã bày tỏ ý định diệt chủng nhằm phá hủy quốc gia Israel. Các vụ thảm sát do Hamas thực hiện cấu thành hành vi diệt chủng. Các cuộc tấn công này cũng là tội ác chống lại loài người và tội ác chiến tranh." [113] Vào ngày 24 tháng 10 năm 2023, Genocide Watch đã đưa ra một tuyên bố mới. Trong tuyên bố, các học giả nghiên cứu về Holocaust và phòng chống diệt chủng, bao gồm Gregory H. Stanton và Israel Charny khẳng định rằng các hành vi của Hamas chống lại thường dân Israel đủ điều kiện cấu thành tội diệt chủng và tội ác chống lại loài người. Tuyên bố kêu gọi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc,Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Văn phòng Cố vấn Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về Phòng chống Diệt chủng và Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc điều tra, lên án và chuyển vụ việc lên Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC). Tuyên bố cũng ủng hộ việc công nhận những hành vi này là diệt chủng, tội ác chống lại loài người và tội ác chiến tranh. Lời kêu gọi cũng mở rộng đến các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc sử dụng tòa án quốc gia để tiến hành tố tụng chống lại những kẻ chịu trách nhiệm về tội diệt chủng. [114]

Đài tưởng niệm cho các nạn nhân của vụ khủng bố ngày 7 tháng 10

Trong một bài viết ý kiến cho The Hill, luật sư nhân quyền người Israel Arsen Ostrovsky và Stanislav Pavlovschi bà cựu thẩm phán tại Tòa án Nhân quyền Châu Âu, đã khẳng định tuyên bố của Ghazi Hamad rằng Hamas sẽ lặp lại vụ thảm sát ngày 7 tháng 10 "nhiều lần" là bằng chứng về ý định diệt chủng của nhóm này. [115]

Nhà phân tích chống khủng bố người Mỹ Bruce Hoffman cho rằng Hamas luôn duy trì ý định diệt chủng, chỉ ra ngôn ngữ diệt chủng và bài Do Thái trong hiến chương thành lập của họ. Hoffman lưu ý rằng mặc dù hiến chương Hamas sửa đổi không chứa những lời lẽ bạo lực rõ ràng như vậy, nhưng nó vẫn luôn khẳng định ý định tiêu diệt Israel bằng vũ lực quân sự. [116]

Trong một cuộc phỏng vấn với Al Jazeera vào tháng 12 năm 2023, cựu công tố viên Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) Luis Moreno Ocampo cho biết vụ tấn công ngày 7 tháng 10 là "...một cuộc diệt chủng, bởi vì đó là một cuộc tấn công nhằm tiêu diệt một nhóm dân tộc, trong trường hợp này là người Israel, ở Palestine". [117]

Các chính sách kích động bạo lực

[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quyền Palestine đã đưa hành vi kích động chống lại Israel và người Do Thái vào chương trình giảng dạy của mình một cách có hệ thống, như đặt tên trường học theo tên khủng bố và mô tả bạo lực như những hành động anh hùng. Sách giáo khoa của Palestine tôn vinh các hoạt động "tử vì đạo" chống lại thường dân và quân nhân Israel, đồng thời bỏ qua việc công nhận tính hợp pháp của Israel hay mối liên hệ lịch sử của người Do Thái với vùng đất này, từ đó nuôi dưỡng sự thù địch và phủ nhận tính chính danh của Israel nơi các học sinh.[118]

Các cơ quan truyền thông chính thức của Chính quyền Palestine, bao gồm cả đài truyền hình nhà nước, đã phát sóng các chương trình có trẻ em đọc thơ và hát những bài hát ca ngợi việc đâm và giết người Do Thái, cùng với các nhà lãnh đạo tôn giáo Palestine thuyết giảng rằng các vụ tấn công và khủng bố là mệnh lệnh tôn giáo.[119] Thông điệp lan rộng này có tương quan với các đợt bùng phát khủng bố của người Palestine, được chứng minh bằng các trường hợp thủ phạm khai nhận rằng giáo dục hoặc truyền thông là động cơ thúc đẩy họ.[120]

Tham nhũng trong các tổ chức của Chính quyền Palestine đã làm suy yếu khả năng quản trị và chuyển hướng các khoản viện trợ quốc tế vốn dành cho phúc lợi của người Palestine. Tổng thống Mahmoud Abbas và gia đình ông đã tích lũy được khối tài sản ước tính hơn 100 triệu USD, có nguồn gốc từ các giao dịch kinh doanh mờ ám và kiểm soát các quỹ công, mặc dù bản thân ông Abbas không sở hữu bất kỳ doanh nghiệp tư nhân nào.[121][122] Ủy ban chống tham nhũng của Chính quyền Palestine đã thu hồi được 70 triệu USD vào năm 2016, tuy nhiên các cuộc điều tra đã tiết lộ hành vi biển thủ có hệ thống lên tới hơn 700 triệu USD trong các quỹ bị chiếm dụng vào năm 2006. Tình trạng gia đình trị kéo dài và việc thiếu các cuộc bầu cử kể từ năm 2005 càng làm trầm trọng thêm sự thiếu hụt trách nhiệm giải trình.[123][124] Hàng tỷ đô la viện trợ nước ngoài, bao gồm từ Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ, đã được chuyển qua các tổ chức đầy rẫy mạng lưới bảo trợ, góp phần gây ra sự vỡ mộng của công chúng và sự trì trệ kinh tế mặc dù có dòng tiền đáng kể đổ vào.[125]

Chính sách "trả tiền để giết" của Chính quyền Palestine, được chính thức hóa thông qua Quỹ Gia đình Tù nhân và Tử đạo (thành lập năm 1964 và mở rộng sau Hiệp định Oslo), đã cung cấp trợ cấp hàng tháng cho những kẻ khủng bố bị kết án đang được giam giữ tại Israel, cùng các khoản thanh toán một lần và hỗ trợ liên tục cho gia đình của những kẻ thiệt mạng trong các vụ tấn công. Các khoản thanh toán tăng theo độ dài bản án và mức độ chết chóc của vụ tấn công khủng bố, có thể lên tới 12.000 shekel Israel (khoảng 3.200 USD) hàng tháng cho các cá nhân thụ án chung thân. Chương trình này tiêu tốn khoảng 7% ngân sách hàng năm của Chính quyền Palestine— tương đương với hơn 350 triệu USD theo dữ liệu năm 2017.[126][127] Cấu trúc này thực nghiệm cho thấy đã khuyến khích bạo lực, vì các hành vi kéo dài hơn hoặc gây chết người nhiều hơn sẽ nhận được phần thưởng cao hơn. Điều này đã thúc đẩy các nhà lập pháp Hoa Kỳ thông qua các đạo luật như Đạo luật Taylor Force năm 2018, trong đó đặt điều kiện viện trợ cho Palestine là phải chấm dứt các khoản thanh toán như vậy để tránh trợ cấp cho khủng bố.[128] Vào tháng 2 năm 2025, ông Abbas đã ra sắc lệnh chấm dứt trợ cấp trực tiếp cho tù nhân, chuyển sang một hệ thống phúc lợi chung, mặc dù việc xác minh độc lập vẫn chưa hoàn tất và các nhà phê bình cho rằng nó vẫn duy trì các động cơ khuyến khích thông qua các kênh gián tiếp.[129]

Bạo lực và khủng bố

[sửa | sửa mã nguồn]
Dấu tích của một chiếc xe buýt tại Israel bị các phần tử khủng bố Palestine đánh bom. 8 người thiệt mạng, khoảng 40 người bị thương.
Một đứa trẻ Israel bị thương được đưa đến bệnh viện sau cuộc tấn công tên lửa được tiến hành bởi tổ chức khủng bố Hamas

Trong suốt cuộc xung đột, những hành vi khủng bố và bạo lực được tiến hành bởi những phần tử khủng bố Palestine luôn là mối lo ngại hàng đầu của người dân Israel. Chính phủ Israel, cùng với Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, coi hành vi bạo lực nhằm vào dân thường cũng như lực lượng quân sự Israel của các nhóm chiến binh Palestine là biểu hiện của chủ nghĩa khủng bố.

Động cơ đằng sau các hành vi khủng bố của người Palestine nhằm vào thường dân Israel có rất nhiều, tuy nhiên mục tiêu cơ bản vẫn là tiêu diệt nhà nước Israel và thay thế bằng một nhà nước Ả Rập của người Palestine.[130] Các nhóm thánh chiến Hồi giáo cực đoan nhất, chẳng hạn như Hamas và Thánh chiến Hồi giáo Palestine, coi cuộc xung đột giữa Israel và Palestine là một cuộc thánh chiến tôn giáo.

Đánh bom tự sát là một chiến thuật đã được sử dụng bởi nhiều tổ chức khủng bố của người Palestine như Hamas, Hồi giáo thánh chiến, và Lữ đoàn Tử đạo Al-Aqsa, các vụ tấn công liều chết của chúng đã nhận được sự ủng hộ bởi 84% người dân Palestine.[131][132] Tại Israel, những kẻ đánh bom liều chết người Palestine đã nhắm mục tiêu vào các xe buýt dân sự, nhà hàng, trung tâm mua sắm, khách sạn và chợ.[133] Từ năm 1993 đến năm 2003, 303 kẻ đánh bom liều chết người Palestine đã thực hiện các phi vụ khủng bố trên khắp lãnh thổ Israel.

Chính phủ Israel đã khởi xướng việc xây dựng hàng rào an ninh vào tháng 7 năm 2003 sau nhiều vụ đánh bom liều chết và tấn công khủng bố của người Palestine. Theo IDF, kể từ khi hàng rào được dựng lên, số lượng hoạt động khủng bố đã giảm khoảng 90%.[134]

Kể từ năm 2001, mối đe dọa từ các tên lửa Qassam bắn từ lãnh thổ Palestine vào Israel tiếp tục là mối quan tâm lớn của các quan chức quốc phòng Israel.[135] Năm 2006 – một năm sau khi Israel rút quân khỏi Dải Gaza - chính phủ Israel đã ghi nhận 1.726 vụ phóng tên lửa như vậy, gấp hơn 4 lần tổng số tên lửa được bắn vào năm 2005.[136] Tính đến tháng 1 năm 2009, hơn 8.600 quả rocket đã được phóng,[137][138] gây chấn thương tâm lý lan rộng và làm gián đoạn cuộc sống hàng ngày.[139] Hơn 500 quả rocket và súng cối được bắn từ lãnh thổ Palestine vào Israel từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2010 và hơn 1.947 quả rocket đã được bắn từ lãnh thổ Palestine vào Israel từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2012.

Theo một nghiên cứu do Đại học Haifa thực hiện, 1/5 người Israel đã mất người thân hoặc bạn bè bởi một trong số những cuộc tấn công khủng bố được tiến hành bởi các nhóm phiến quân Palestine.[140]

Bạo lực và khủng bố bên ngoài Israel

[sửa | sửa mã nguồn]

Một số người Palestine đã thực hiện các hành động bạo lực và khủng bố trên toàn cầu với lý do "đấu tranh chống lại Israel". Nhiều người nước ngoài, bao gồm cả người Mỹ và người châu Âu đã bị giết hại hoặc bị thương bởi các phần tử khủng bố Palestine. Ít nhất 53 người Mỹ đã thiệt mạng và 83 người bị thương do là nạn nhân của các cuộc khủng bố gây ra bởi người Palestine kể từ khi Hiệp định Oslo được ký kết [141][nguồn không đáng tin?] . Vào cuối những năm 1960, Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) ngày càng trở nên nổi tiếng với việc tiến hành các vụ khủng bố tầm cỡ quốc tế. Riêng trong năm 1969, PLO là thủ phạm trong 92 vụ không tặc. Hãng hàng không El Al trở thành mục tiêu không tặc thường xuyên.[142][143] Vụ cướp chuyến bay 139 của Air France do Mặt trận Bình dân Giải phóng Palestine thực hiện đã lên đến đỉnh điểm trong một nhiệm vụ giải cứu con tin, trong đó các lực lượng đặc nhiệm của Israel đã giải cứu thành công phần lớn con tin.

Tuy nhiên, một trong những hành động khủng bố khét tiếng và gây ra nhiều căm phẫn nhất là vụ bắt cóc và giết hại 11 vận động viên Israel trong Thế vận hội Mùa hè 1972.[144]

Bạo lực của người Palestine chống lại những người Palestine khác

[sửa | sửa mã nguồn]

Giao tranh giữa người Palestine và các nhóm Ả Rập đối địch đã đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình chính sách an ninh của Israel đối với các chiến binh Palestine, cũng như trong các chính sách của chính giới lãnh đạo Palestine. Ngay từ cuộc nổi dậy năm 1930 ở Palestine, các lực lượng Ả Rập đã giao tranh lẫn nhau nhau trong khi cùng lúc giao tranh với quân Zionist và Anh, và xung đột nội bộ vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Trong Nội chiến Lebanon, những người theo chủ nghĩa Baathi của Palestine đã ly khai khỏi Tổ chức Giải phóng Palestine và liên minh với Phong trào Shia Amal, gây ra một cuộc nội chiến đẫm máu khiến hàng nghìn người Palestine thiệt mạng.[145][146]

Trong phong trào Intifada lần thứ nhất, hơn một nghìn người Palestine đã thiệt mạng trong một chiến dịch do Tổ chức Giải phóng Palestine khởi xướng nhằm truy quét những kẻ tình nghi là gián điệp của Israel. Theo một báo cáo do Nhóm Giám sát Nhân quyền Palestine công bố, chưa đến 45% những người thiệt mạng trong chiến dịch này thực sự đã cộng tác với Israel.[147]

Động thái của PLO đã bị chỉ trích mạnh mẽ, được coi là một sự vi phạm đối với Điều XVI (2) của Hiệp định Oslo II mà chính quyền Palestine từng ký kết với Israel:[148]

"Những người Palestine đã duy trì liên lạc với chính quyền Israel sẽ không bị các hành vi quấy rối, bạo lực, trừng phạt hoặc truy tố"

Điều khoản trên được đưa ra nhằm ngăn các nhà lãnh đạo Palestine áp đặt sự trả thù đối với những người Palestine đã cộng tác với Israel trong thời gian chiếm đóng Bờ Tây và Dải Gaza.

Tại Dải Gaza, những kẻ cầm đầu của Hamas đã ra lệnh tra tấn và giết hàng nghìn thành viên của Fatah và những người Palestine khác phản đối sự cai trị của chúng. Trong trận chiến ở Gaza, hơn 150 người Palestine đã chết trong khoảng thời gian 4 ngày.[149] Bạo lực giữa những người Palestine được một số nhà bình luận mô tả như một cuộc nội chiến. Đến năm 2007, hơn 600 người Palestine đã thiệt mạng trong cuộc đấu tranh giữa Hamas và Fatah.[150]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên bbc2
  2. ^ Sachs, Natan (ngày 24 tháng 1 năm 2019). "Iran's revolution, 40 years on: Israel's reverse periphery doctrine". Brookings (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2021.
  3. ^ Hafezi, Parisa (ngày 22 tháng 5 năm 2020). "Iran lauds arms supply to Palestinians against 'tumor' Israel". Reuters. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2021.
  4. ^ Pollack, Kenneth, M., Arabs at War: Military Effectiveness, University of Nebraska Press, (2002), pp. 93–94, 96.
  5. ^ Monty G. Marshall. Major Episodes of Political Violence 1946-2012. SystemicPeace.org. "Ethnic War with Arab Palestinians / PLO 1965-2013". Updated ngày 12 tháng 6 năm 2013 "Archived copy". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2013.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên SelaConflict
  7. ^ Gelvin, James (2014) [2002]. The Israel-Palestine Conflict: One Hundred Years of War (ấn bản thứ 3). Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-85289-0. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  8. ^ "History of the Israeli-Palestinian Conflict" (PDF). PBS. tháng 12 năm 2001. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013.
  9. ^ Sela, Avraham, biên tập (2002). "Palestine Arabs". The Continuum Political Encyclopedia of the Middle East. New York: Continuum. tr. 664–673. ISBN 978-0-8264-1413-7.
  10. ^ "A/RES/181(II) of 29 November 1947". United Nations. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  11. ^ Baum, Noa. "Historical Time Line for Israel/Palestine." Lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2013 tại Wayback Machine UMass Amherst. 5 April 2005. 14 March 2013.
  12. ^ "Declaration of Establishment of State of Israel". Israel Ministry of Foreign Affairs. ngày 14 tháng 5 năm 1948. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012.
  13. ^ General Progress Report and Supplementary Report of the United Nations Conciliation Commission for Palestine (Covering the Period from 11 December 1949 to 23 October 1950), United Nations Information System on the Question of Palestine: United Nations Division for Palestinian Rights, ngày 23 tháng 10 năm 1950, A/1367/Rev.1, Bản gốc lưu trữ tháng 5 20, 2014, truy cập tháng 3 1, 2014
  14. ^ "Background Note: Israel". US State Department. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2007.
  15. ^ "1956: Egypt Seizes Suez Canal". British Broadcasting Service. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2007.
  16. ^ Sela, ed. (2002). Sela, Avraham. "Palestine Liberation Organization (PLO)". pp. 58–121.
  17. ^ "President Mubarak Interview with Israeli TV". Egyptian State Information Service. ngày 15 tháng 2 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2007.
  18. ^ "Camp David Proposals for Final Palestine-Israel Peace Settlement". MidEast Web. tháng 7 năm 2000. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2024.
  19. ^ Diamond, Jeremy; Labott, Elise (ngày 6 tháng 12 năm 2017). "Trump recognizes Jerusalem as Israel's capital". CNN. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  20. ^ Ahren, Raphael (ngày 6 tháng 4 năm 2017). "In curious twist, Russia recognizes West Jerusalem as Israel's capital". The Times of Israel. Jerusalem. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  21. ^ ""JCPA ME Diplomacy-Jerusalem: The Dangers of Division" (PDF). Jerusalem Center for Public Affairs." (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2020.
  22. ^ Why History Says Jerusalem Belongs to the Jews.
  23. ^ "General Progress Report and Supplementary Report of the United Nations Conciliation Commission for Palestine, Covering the Period from ngày 11 tháng 12 năm 1949 to ngày 23 tháng 10 năm 1950". United Nations Conciliation Commission for Palestine. 1950. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2007.
  24. ^ Black, Ian; Milne, Seumas (ngày 24 tháng 1 năm 2011). "Papers reveal how Palestinian leaders gave up fight over refugees". The Guardian. London. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011.
  25. ^ a b "Frequently Asked Questions About Israel;" "Who is Responsible for the Palestinian refugee problem?" Israel Ministry of Foreign Affairs. ngày 1 tháng 11 năm 2001. ngày 16 tháng 1 năm 2008.
  26. ^ "Israel and the Palestine right of return." World Association of International Studies. ngày 8 tháng 4 năm 2008.
  27. ^ Alwaya, Semha. "The vanishing Jews of the Arab world / Baghdad native tells the story of being a Middle East refugee." San Francisco Chronicle. ngày 6 tháng 3 năm 2005. ngày 19 tháng 1 năm 2009.
  28. ^ Greenberg, Eric J. "The Case for Jewish Exiles." United Jewish Communities. ngày 7 tháng 11 năm 2003. ngày 19 tháng 1 năm 2009.
  29. ^ Do Palestinian Refugees Have a Right to Return to Israel? by Ruth Lapidoth, MFA website, ngày 15 tháng 1 năm 2001. (See section labeled "Conclusions.")
  30. ^ Erlanger, Steven. "Olmert Rejects Right of Return for Palestinians." The New York Times. ngày 31 tháng 3 năm 2007. ngày 9 tháng 5 năm 2008.
  31. ^ Karsh, Efraim (ngày 1 tháng 5 năm 2001). "The Palestinians and the 'Right of Return'". Commentary. Quyển 111 số 5. tr. 25.
  32. ^ "SC/6332: ISRAEL SHOULD RESCIND DECISION TO BUILD SETTLEMENT IN EAST JERUSALEM, SAY SPEAKERS IN SECURITY COUNCIL." United Nations. ngày 6 tháng 3 năm 1997.
  33. ^ "EU-Settlements' Watch." Lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007 tại Wayback Machine 1 February – ngày 31 tháng 7 năm 2002. p. 1. PDF.
  34. ^ "Israel confirms settlement growth." BBC News. ngày 21 tháng 3 năm 2005.
  35. ^ Julius Stone (1982). Israel and Palestine: Assault on the Law of Nations. Dashing. tr. 52. ISBN 0-9751073-0-5.
  36. ^ "Six reasons to settle". Ynetnews. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2023.
  37. ^ Hiến chương Palestine năm 1964
  38. ^ "Court extends remand of Israelis aboard Gaza ship". Jerusalem Post. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012.
  39. ^ "Position paper on the naval blockade on Gaza." Lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2012 tại Wayback Machine 8 September 2010.
  40. ^ a b Abbas to Obama: I'm against lifting the Gaza naval blockade Lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2014 tại Wayback Machine. Barak Ravid, Haaretz, 13 June 2010
  41. ^ a b Congressional Research Service, 23 June 2010: CRS Report for Congress: Israel's Blockade of Gaza, the Mavi Marmara Incident, and Its Aftermath Lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2011 tại Wayback Machine, pp. 4–5 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “crs” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  42. ^ a b Sheera Frenkel (ngày 9 tháng 6 năm 2010). "Israeli document: Gaza blockade isn't about security". McClatchy Newspapers. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2010.
  43. ^ Shakir, Omar (ngày 27 tháng 4 năm 2021). "A Threshold Crossed". Human Rights Watch (bằng tiếng Anh).
  44. ^ "Israel's apartheid against Palestinians: a cruel system of domination and a crime against humanity". Amnesty International (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  45. ^ a b https://www.adl.org/resources/backgrounder/allegation-israel-apartheid-state. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  46. ^ "Israel: Freedom in the World 2025 Country Report". Freedom House (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  47. ^ https://ngo-monitor.org/pdf/SaloAizenberg_Amnesty_Rebuttal.pdf. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  48. ^ a b "Amnesty's Outrageous Lie, its Big Problem with Jews, and the Truth About Israel | AJC". www.ajc.org (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  49. ^ a b Esterson, Ariella (ngày 14 tháng 4 năm 2022). "https://ngo-monitor.org/reports/amnesty-internationals-cruel-assault-on-israel/, https://ngo-monitor.org/reports/amnesty-internationals-cruel-assault-on-israel/" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025. {{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong |title= (trợ giúp)
  50. ^ a b "Amnesty's one-sided analysis ignores reality and misuses international law - Israel and International Law" (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  51. ^ https://legal-tools.org/doc/vxs7cm/pdf/. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  52. ^ azza (ngày 17 tháng 8 năm 2016). "Palestinian-Israeli Pulse: A Joint Poll". pcpsr.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  53. ^ Staff, ToI (ngày 19 tháng 8 năm 2015). "Half of Jerusalem Arabs want to be Israelis". The Times of Israel (bằng tiếng Anh). ISSN 0040-7909. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  54. ^ "Poll Shows 40 Percent of Jerusalem Arabs Prefer Israel to a Palestinian State | The Washington Institute". www.washingtoninstitute.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  55. ^ "How many Palestinians has Israel's Gaza offensive killed?". Reuters. ngày 30 tháng 7 năm 2025.
  56. ^ a b Epstein, Gabriel (ngày 5 tháng 8 năm 2025). "Assessing the Gaza Death Toll After Eighteen Months of War" (PDF). {{Chú thích web}}: line feed character trong |title= tại ký tự số 30 (trợ giúp)
  57. ^ Andrew Fox, Sailo Aizenberg (tháng 4 năm 2025). "Hamas's Human Shield Strategy in Gaza" (PDF).
  58. ^ a b "Hamas' use of human shields in Gaza" (PDF). {{Chú thích web}}: line feed character trong |title= tại ký tự số 20 (trợ giúp)
  59. ^ "Questionable Counting: Analysing the Death Toll from the Hamas-Run Ministry of Health in Gaza". Henry Jackson Society (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  60. ^ "AIPAC - Hamas: Using Palestinian Civilians as Human Shields to Attack Israel". AIPAC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  61. ^ UN OCHA 2025.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFUN_OCHA2025 (trợ giúp)
  62. ^ Spagat 2024a.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSpagat2024a (trợ giúp)
  63. ^ Bloxham 2025, tr. 23.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBloxham2025 (trợ giúp)
  64. ^ Khadder & Haq 2024.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKhadderHaq2024 (trợ giúp)
  65. ^ UN News 2024.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFUN_News2024 (trợ giúp)
  66. ^ www.idf.il https://www.idf.il/159217/. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  67. ^ "Về phán quyết của Tòa án The Hague". Bộ Ngoại giao Israel.
  68. ^ "Bài phát biểu của Thủ tướng Netanyahu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc". ngày 23 tháng 9 năm 2024.
  69. ^ רובין, בנצי (ngày 11 tháng 1 năm 2024). "נתניהו משיב לטענות בהאג: "איזו חוצפה, עולם הפוך"". חדשות סרוגים (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  70. ^ "Former head of ICJ explains ruling on genocide case against Israel brought by S Africa" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  71. ^ Sharon, Jeremy (ngày 6 tháng 5 năm 2024). "'Plausibility' in the South African genocide case against Israel is not what it seemed". The Times of Israel (bằng tiếng Anh). ISSN 0040-7909. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  72. ^ חדשות (ngày 26 tháng 4 năm 2024). "נשיאת ביה"ד לצדק הבהירה: "לא החלטנו שהטענה על רצח עם בעזה היא סבירה"". Ynet (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  73. ^ "ג'ון ספנסר נגד העולם: לצה"ל אין כוונה להשמיד עם – אלא להילחם בחמאס". www.maariv.co.il (bằng tiếng Do Thái). 2025. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  74. ^ "ניתוח סטטיסטי חושף: כך מפברק חמאס את מספר ההרוגים בעזה | ישראל היום". www.israelhayom.co.il. ngày 8 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  75. ^ הירש, סא"ל (במיל') עו"ד מוריס (ngày 3 tháng 4 năm 2025). "מה האו"ם לא רוצה שתדעו על נתוני ההרוגים בעזה". המרכז הירושלמי לענייני חוץ וביטחון (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  76. ^ "חשיפה: חמאס הוריד בשקט את מספר ההרוגים בעזה". www.maariv.co.il (bằng tiếng Do Thái). 2025. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  77. ^ וינרב, גלי (ngày 20 tháng 11 năm 2023). "כיצד מחשבים את מספר ההרוגים בעזה והאם אפשר להאמין לנתונים?". Globes. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  78. ^ רויטרס (ngày 14 tháng 5 năm 2024). "הנתונים אמינים? מאחורי מספרי ההרוגים בעזה". Ynet (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  79. ^ "האמת מאחורי המספרים: כמה עזתים נותרו ברצועה, כמה נהרגו וכמה ברחו". מקור ראשון (bằng tiếng Do Thái). ngày 29 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  80. ^ "שקר "רצח העם" נחשף: אוכלוסיית עזה גדלה בכ-2% מאז ה-7.10 - ערוץ 14 | C14". www.c14.co.il (bằng tiếng Do Thái). ngày 19 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  81. ^ "Gaza Strip", The World Factbook (bằng tiếng Anh), Central Intelligence Agency, ngày 17 tháng 9 năm 2025, truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025
  82. ^ "רק עובדות: מה לענות למי שמאשים את ישראל ברצח עם". מקור ראשון (bằng tiếng Do Thái). ngày 27 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  83. ^ "פייק ניוז במלחמת 'חרבות ברזל' | המכון למחקרי רבות ברזלביטחון לאומי". המכון למחקרי ביטחון לאומי (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  84. ^ אמר, יאיר (ngày 28 tháng 5 năm 2025). "משחק מלוכלך: חמאס מפזר פייק ניוז כדי לשבש את חלוקת הסיוע". חדשות סרוגים (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  85. ^ "קרן הסיוע לעזה: "הדיווח על הפסקת הפעילות – פייק ניוז של חמאס" | חדשות 13". רשת 13 (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  86. ^ "לוחמה פסיכולוגית על ישראל: כך תזהו סרטוני פייק של החמאס | ישראל היום". www.israelhayom.co.il. ngày 10 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  87. ^ www.idf.il https://www.idf.il/226937/. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  88. ^ חלבי, עינב (ngày 16 tháng 3 năm 2025). "פעלו במסווה של אנשי תקשורת, והשתתפו גם בטבח 7/10: העיתונאים-מחבלים בעזה". Ynet (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  89. ^ www.idf.il https://www.idf.il/242150/. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  90. ^ "ביום הוא מנהל את אל ג'זירה בעזה. בלילה הוא שובר רגליים של עזתים | ישראל היום". www.israelhayom.co.il. ngày 3 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  91. ^ "צה"ל על טענות האו"ם: עובדי אונר"א שחוסלו היו מחבלים בחמאס | ישראל היום". www.israelhayom.co.il. ngày 12 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  92. ^ שוורץ, עוז ישראל (ngày 12 tháng 9 năm 2024). "עובדי אונר"א? צה"ל מפרסם את שמות המחבלים שחוסלו". חדשות סרוגים (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  93. ^ אייכנר, איתמר (ngày 15 tháng 11 năm 2024). "מנהלי בתי ספר של אונר"א, ופעילי טרור: כך חונכו בעזה להלל פיגוע מטען כ"מסיבת ברביקיו"". Ynet (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  94. ^ חלבי, עינב (ngày 18 tháng 1 năm 2024). "מכתבים שנחשפו מוכיחים: מורים בעזה חברים בזרוע הצבאית של חמאס". Ynet (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  95. ^ זיתון, יואב (ngày 20 tháng 11 năm 2023). ""פעילי חמאס התחפשו לצוות הרפואי בשיפא, רקטות הוחבאו במזרנים לצד פליטים" | תיעוד מחקירות המחבלים". Ynet (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  96. ^ www.idf.il https://www.idf.il/304696/. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  97. ^ זיתון, יואב; רפיח (ngày 2 tháng 12 năm 2024). "מול מחבלים בני 15 ומנהרות שטרם התגלו: השגרה שתימשך שנים בעזה | תמונת מצב נרחבת". Ynet (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  98. ^ אייכנר, איתמר (ngày 22 tháng 12 năm 2023). "מפקד בחמאס הודה בחקירתו: משתמשים בילדים כדי להעביר חומרי נפץ בעזה | צפו". Ynet (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  99. ^ קימון, אלישע בן; זיתון, יואב (ngày 12 tháng 3 năm 2025). "פלסטיני בן 4 התקרב למוצב צה"ל בעזה - וסיפר: "חמאס שלח אותי" | צפו". Ynet (bằng tiếng Do Thái). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  100. ^ "חמאס מתקשה למלא את שורותיו במחבלים חדשים - ומגייס נערים בני 16 בתמורה לתשלום | ישראל היום". www.israelhayom.co.il. ngày 18 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  101. ^ Danny Auerbach, Jonathan Boxman, Yagil Henkin và Jonathan Braverman (tháng 7 năm 2025). "Một cuộc kiểm tra phê phán các cáo buộc "diệt chủng" trong Chiến dịch Thanh gươm sắt" (PDF). Nghiên cứu về An ninh Trung Đông số 213, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Begin-Sadat, Đại học Bar-Ilan.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  102. ^ Fabian, Emanuel; Pacchiani, Gianluca (November 1, 2023). "IDF estimates 3,000 Hamas terrorists invaded Israel in Oct. 7 onslaught". Times of Israel. Archived from the original on November 1, 2023. Retrieved December 7, 2023.
  103. ^ Cramer, Philissa (November 13, 2023). "Israel revises Oct. 7 death toll down to 1,200 as victims are identified". The Jerusalem Post. Jewish Telegraph Agency. Archived from the original on December 6, 2023. Retrieved December 7, 2023.
  104. ^ "9 bereaved Israeli families bring ICC war crime, genocide complaint against Hamas". Times of Israel. Agence France-Presse. ngày 3 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  105. ^ "Israel investigates an elusive, horrific enemy: Rape as a weapon of war". The Washington Post (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  106. ^ Gettleman, Jeffrey; Sella, Adam; Schwartz, Anat (ngày 4 tháng 12 năm 2023). "What We Know About Sexual Violence During the Oct. 7 Attacks on Israel". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  107. ^ Vinograd, Cassandra; Kershner, Isabel (ngày 7 tháng 12 năm 2023). "Israel's Attackers Took About 240 Hostages. Here's What to Know About Them". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  108. ^ "Hamas's attack was the bloodiest in Israel's history". The Economist. ngày 12 tháng 10 năm 2023. ISSN 0013-0613. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  109. ^ JTA (ngày 9 tháng 10 năm 2023). "Was Hamas's attack on Saturday the bloodiest day for Jews since the Holocaust?". Times of Israel. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  110. ^ Anne van Aaken; Kai Ambos; Benjamin Abtan; Martin J Adelman; many other authors (ngày 16 tháng 10 năm 2023), Public Statement by International Law Experts (bằng tiếng Anh), Wikidata Q124162887, Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2023
  111. ^ Sokol, Sam (ngày 16 tháng 10 năm 2023). "Deadly Hamas Rampage Constitutes 'International Crime of Genocide,' Hundreds of Legal Experts Say". Haaretz (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  112. ^ Scheffer, David J. (ngày 26 tháng 6 năm 2024). "Holding Hamas Accountable at the ICJ Through Palestine". Lawfare. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2024.
  113. ^ "Genocide Emergency Alert: Israel and Gaza". Genocide Watch (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  114. ^ "Holocaust & Genocide Scholars condemn Oct 7 Hamas Massacre". Genocide Watch (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  115. ^ Ostrovsky, Arsen; Pavlovschi, Stanislav (ngày 4 tháng 1 năm 2024). "Israel is not committing genocide – but Hamas is". The Hill. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2024.
  116. ^ Hoffman, Bruce (ngày 10 tháng 10 năm 2023). "Understanding Hamas's Genocidal Ideology". The Atlantic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  117. ^ "Former ICC chief prosecutor: Israel's siege of Gaza is a 'genocide'". Al Jazeera. ngày 1 tháng 12 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2024.
  118. ^ Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (ngày 7 tháng 9 năm 2021). "Antisemitism and Incitement in Palestinian Education" (PDF).
  119. ^ "Examples of Palestinian Authority Incitement". Văn phòng chính phủ Israel. ngày 13 tháng 3 năm 2011.
  120. ^ "Palestinian education". MDA (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  121. ^ "The Businesses of Mahmoud Abbas and His Sons". Jerusalem Center for Security and Foreign Affairs (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  122. ^ Pilichowski, Uri (ngày 21 tháng 2 năm 2024). "Wealth In Gaza: Why Some Are Rich & Some Are Poor". Mideast Journal (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  123. ^ McGreal, Chris (ngày 6 tháng 2 năm 2006). "Palestinian Authority 'may have lost billions'". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  124. ^ Luke Baker, Ali Sawafta (ngày 24 tháng 2 năm 2016). "Palestinian corruption chief claws back $70 million, more to recoup". Reuters.
  125. ^ "Palestinians furious and fed up with corruption of Abbas's 'mafia' PA". Middle East Eye (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  126. ^ "Palestinian Prisoner Payments". Carnegie Endowment for International Peace (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  127. ^ Itamar Marcus, Nan Jacques Zilberdik (ngày 11 tháng 7 năm 2017). "Interrogation of Palestinian terrorist proves: Palestinian Authority payments motivate terror". Palestine Media Watch.
  128. ^ "The Taylor Force Act: Information and Resources". OU Advocacy Center (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  129. ^ Ravid, Barak (ngày 10 tháng 2 năm 2025). "Palestinian president revokes prisoner payments dubbed "pay for slay"". Axios (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  130. ^ Sela 2002, tr. 822–36, "Terrorism"
  131. ^ Palestinian Public Opinion Poll No (27) Lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2013 tại Wayback Machine, PSR – Survey Research Unit, ngày 24 tháng 3 năm 2008
  132. ^ Asser, Martin (ngày 28 tháng 6 năm 2002). "Palestinian support for suicide bombers". BBC News. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2002.
  133. ^ "Analysis: Palestinian suicide attacks." BBC News. ngày 29 tháng 1 năm 2007
  134. ^ "The Security Barrier (Fence)". IDF Military Advocate General. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2021.
  135. ^ Harel, Amos. "Defense officials concerned as Hamas upgrades Qassam arsenal." Haaretz. ngày 7 tháng 12 năm 2007. ngày 30 tháng 3 năm 2009.
  136. ^ "Victims of Palestinian Violence and Terrorism since September 2000". Israeli Ministry of Internal Affairs. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2007.
  137. ^ "Q&A: Gaza conflict." BBC News. ngày 18 tháng 1 năm 2009.
  138. ^ "Gaza's rocket threat to Israel." BBC News. ngày 21 tháng 1 năm 2008.
  139. ^ Patience, Martin. "Playing cat and mouse with Gaza rockets." BBC News. ngày 28 tháng 2 năm 2008.
  140. ^ Kober, Avi (2009). Israel's Wars of Attrition: Attrition Challenges to Democratic States. Routledge. tr. 88. ISBN 9780415492430.
  141. ^ Taillandier, Caroline, et al., eds. "American Victims of Mideast Terrorist Attacks." Jewish Virtual Library.
  142. ^ "Attempt to carry explosives device on El Al flight foiled." Jerusalem Post. ngày 28 tháng 9 năm 2010.
  143. ^ Encyclopedia of the developing world, Volume 3 pg. 1228
  144. ^ Encyclopedia of the Developing World, Volume 3. M. Leonard, Thomas
  145. ^ Syria: A Country Study, Federal Research Division
  146. ^ Shiloaḥ le-ḥeḳer ha-Mizraḥ ha-tikhon ṿe-Afriḳah, Mekhon. Middle East contemporary survey, Volume 11. Google Books.
  147. ^ Taylor, Catherine. "How Israel builds its fifth column." The Christian Science Monitor. ngày 22 tháng 5 năm 2002.
  148. ^ "THE ISRAELI-PALESTINIAN INTERIM AGREEMENT." Israel Ministry of Foreign Affairs. ngày 28 tháng 9 năm 1995.
  149. ^ "PCHR Publishes 'Black Days in the Absence of Justice: Report on Bloody Fighting in the Gaza Strip from 7 to ngày 14 tháng 6 năm 2007.'" Lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2015 tại Wayback Machine Palestinian Center for Human Rights
  150. ^ "Over 600 Palestinians killed in internal clashes since 2006." Ynetnews. ngày 6 tháng 6 năm 2007.

Từ khóa » Toàn Cảnh Israel Và Palestine