Bài Thơ: Cẩm Sắt - 錦瑟 (Lý Thương Ẩn - 李商隱) - Thi Viện
Có thể bạn quan tâm
- Tên tác giả/dịch giả
- Tên bài thơ @Tên tác giả
- Nội dung bài thơ @Tên tác giả
- Tên nhóm bài thơ @Tên tác giả
- Tên chủ đề diễn đàn
- Tìm với Google
- Tác giả
- Danh sách tác giả
- Tác giả Việt Nam
- Tác giả Trung Quốc
- Tác giả Nga
- Danh sách nước
- Danh sách nhóm bài thơ
- Thêm tác giả...
- Thơ
- Các chuyên mục
- Tìm thơ...
- Thơ Việt Nam
- Cổ thi Việt Nam
- Thơ Việt Nam hiện đại
- Thơ Trung Quốc
- Đường thi
- Thơ Đường luật
- Tống từ
- Thêm bài thơ...
- Tham gia
- Diễn đàn
- Các chủ đề mới
- Các chủ đề có bài mới
- Tìm bài viết...
- Thơ thành viên
- Danh sách nhóm
- Danh sách thơ
- Khác
- Chính sách bảo mật thông tin
- Thống kê
- Danh sách thành viên
- Từ điển Hán Việt trực tuyến
- Đổi mã font tiếng Việt
Đăng nhập
Tên đăng nhập: Mật khẩu: Nhớ đăng nhập Đăng nhập Quên mật khẩu?
Đăng nhập bằng Facebook Đăng ký Bình luận nhanh 7
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.
Tên của bạn: Thông tin liên hệ: Xác nhận bạn không phải người máy: Gửi bình luận
Đào Thạch06/03/2023 09:25 CẦM SẮT Dịch thơ: Đào Ngọc Thạch Năm mươi sợi hỏi bởi gì? Một dây một trụ tưởng về ngày xanh Mộng vàng Hồ điệp - Trang sinh Lòng vua Thục gửi Đỗ quyên xuân tàn Lệ châu trăng rọi biển lành Khói trong nắng đẹp Lam Điền ngọc sinh Tình này dĩ vãng nào quên Giờ còn chỉ một đau thương vơi đầy. CẦM SẮT Dịch thơ: Đào Ngọc Thạch Năm mươi sợi hỏi bởi gì? Một dây một trụ tưởng về ngày xanh Mộng vàng Hồ điệp - Trang sinh Lòng vua Thục gửi Đỗ quyên xuân tàn Lệ châu trăng rọi biển lành Khói trong…
Chi Nguyen31/12/2021 10:03 Đàn Cầm năm nhịp cung thương. Năm mươi dây ngọc, vấn vương tuổi nào.? Trang Tử hồn bướm gửi trao. Tấm lòng vua Thục, thác vào đỗ quyên. Trăng xanh biển biếc, lệ phiền. Khói sương nhả ngọc, Lam Điền ấm hơi. Tình xưa dĩ vãng một thời. Luyến thương một thủa, chẳng nơi náu nhờ. Đàn Cầm năm nhịp cung thương. Năm mươi dây ngọc, vấn vương tuổi nào.? Trang Tử hồn bướm gửi trao. Tấm lòng vua Thục, thác vào đỗ quyên. Trăng xanh biển biếc, lệ phiền. Khói sương nhả ngọc, Lam Điền ấm…
Nguyễn Quê18/05/2021 11:52 Cẩm sắt năm mươi sợi cớ sao? Từng giây, trụ..... tiếc tuổi hoa Đào Tình xuân THỤC ĐẾ hồn Quyên gửi Giấc sớm TRANG SINH mộng Điệp vào “Thương Hải” trăng trong châu nhỏ xuống “Lam Điền”(**) nắng khói ngọc tan cao Tình nay đã vội thành lưu luyến Chất ngất đau thương nhớ thuở nào Cẩm sắt năm mươi sợi cớ sao? Từng giây, trụ..... tiếc tuổi hoa Đào Tình xuân THỤC ĐẾ hồn Quyên gửi Giấc sớm TRANG SINH mộng Điệp vào “Thương Hải” trăng trong châu nhỏ xuống “Lam Điền”(**) nắng khói ngọc…
Tu Nguyen17/07/2020 05:51 Năm chục dây vì sao đàn gấm? Nhìn trụ dây mà ngẫm ngày thơ Trang sinh thành bướm trong mơ Hồn linh Vọng đế bây giờ thành chim Trăng soi châu biển xanh đang khóc Nắng Lam Điền ngọc bốc thành hơi Để lâu tình nhớ khôn nguôi Lúc này chỉ thấy lòng đây chán chường. Năm chục dây vì sao đàn gấm? Nhìn trụ dây mà ngẫm ngày thơ Trang sinh thành bướm trong mơ Hồn linh Vọng đế bây giờ thành chim Trăng soi châu biển xanh đang khóc Nắng Lam Điền ngọc…
Tu Nguyen17/07/2020 05:50 Đàn gấm vì sao năm chục dây ? Mỗi dây mỗi trụ nhớ thơ ngây Trang sinh mộng sớm mơ thành bướm Vọng đế hồn xuân nhập cuốc đây Trăng sáng biển xanh soi ngọc khóc Lam Điền nắng ấm khói châu bay Tình kia có thể thành nhung nhớ Chỉ tiếc chán chường ngay lúc này. Đàn gấm vì sao năm chục dây ? Mỗi dây mỗi trụ nhớ thơ ngây Trang sinh mộng sớm mơ thành bướm Vọng đế hồn xuân nhập cuốc đây Trăng sáng biển xanh soi ngọc khóc Lam Điền nắng ấm khói châu bay Tình kia có…
Paul La22/06/2019 02:25Trong bài thơ trên tôi nhận thấy nhiều người không hiểu chứ "Đỗ Quyên" ! theo tôi nó là tên một loại chim Đỗ Quyên hay tên của một cái thác Đỗ Quyên có tiếng nước chảy .
Duc Do04/10/2018 09:06 Bài thơ CẨM SẮT nổi tiếng của Lý Thương Ẩn đời Đường như sau : 錦瑟 CẨM SẮT 錦瑟無端五十弦, Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền, 一弦一柱思華年. Nhất huyền nhất trụ tư hoa niên. 莊生曉夢迷蝴蝶, Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp 蜀帝春心托杜鵑. Thục Đế xuân tâm thác đổ quyên. 滄海月明珠有淚, Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ, 藍田日暖玉生煙. Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên. 此情可待成追憶, Thử tình khả đãi thành truy ức, 只是當時已惘然. Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên. 李商隐 Lý Thương Ẩn CHÚ THÍCH : * Cẩm Sắt : Cẩm là Gấm, Sắt là Đàn, nên Cẩm Sắt là Cây Đàn Gấm. Ý chỉ Cây Đàn có hoa văn đẹp như gấm. Nói thêm về chữ SẮT 瑟: là cây đờn có 36 hoặc 50 dây được gỏ bằng 2 cây phím mà ta thường thấy trong các gánh hát Tiều hoắc hát Dù-Kê của Miên còn có tên là Tam thập Lục huyền cầm hay Ngũ thập huyền cầm. Trong bài thơ nầy là Ngũ Thập Huyền Cầm. * Vô Đoan : là Khi khổng khi không, là Bỗng dưng... chỉ những điều không ngờ được, không tính trước được. Trong bài thơ có nghĩa Sao mà lại... * Huyền là Dây đàn; Trụ là Trục đàn. * Hoa Niên 華年 : Hoa là Tươi đẹp rực rỡ, nên Hoa Niên là Những năm tháng tươi đẹp rực rỡ, tức là chỉ Khoảng thời gian còn trẻ. Tuổi Hoa Niên là Tuổi lúc còn trẻ. (chớ không phải chữ Hoa 花 là Bông). * Trang Sinh là Trang Chu tức là Trang Tử trong Đạo giáo, đạo tu để thành Tiên đó. * Hiểu Mộng là Tỉnh Mộng, thức dậy sau một cơn mơ. Mê Hồ Điệp : là còn mơ màng tưởng mình là bướm. * Thục Đế là ông Vua nước Thục, còn được gọi là Vọng Đế. Người bị mất nước rồi hoá thành chim Đỗ Quyên là con chim Quốc ( con Cuốc ) của ta thường rống cổ kêu mãi suốt mùa hè rồi mửa máu mà chết.. Như bà huyện Thanh Quan đã tả : Nhớ nước đau lòng con quốc quốc ... hay cụ thể hơn như trong thơ của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến : Khoắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ, Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ, Năm canh máu chảy đêm hè vắng, Sáu khắc hồn tan bóng ngụyêt mờ. Có phải tiếc xuân mà đứng gọi, Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ ? Ban đêm róng rả kêu ai đó ? Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ ! * Châu Hữu Lệ : là những hạt châu có những giọt lệ trong đó. Theo Thần Tiên Truyện, giao nhân( người cá ) trong đêm trăng sáng ngước nhìn vào bờ mà rơi hai hàng lệ, và mỗi giọt nước mắt đều là những hạt châu rơi xuống biển xanh. * Ngọc Sanh Yên : Theo tích xưa ở hụyên Lam Điền chuyên nuôi trồng và sản xuất ngọc. Vì tránh sự tranh giành của sai nha và quan lại địa phương, thần tiên đã mách bảo cho dân nghèo là nơi nào có khói bốc hơi nhè nhẹ trong núi là nơi đó có thể trồng ngọc được. * Võng Nhiên : Không có để tâm đến, phớt lờ cho qua. NGHĨA BÀI THƠ : Đàn Gấm Cây đàn gấm sao khi không lại có tới năm mươi dây. Mỗi một dây mỗi một trục đều làm cho người ta nhớ lại tuổi hoa niên. Như Trang Tử sau khi thức giấc cứ mơ màng hoài không biết là mình mơ được hóa bướm hay là bướm đã hóa ra mình. Cũng như Thục Đế lòng xuân chưa dứt nên hóa thành chim Đỗ Quyên kêu khóc suốt đêm thâu. Hay như Giao nhân ngắm trăng sáng mà rơi thành châu lệ, hay như Lam Điền nắng ấm nên ngọc mới bốc khói mờ. Trong tình huống, tình cảnh nầy đáng lẽ phải được người ta nhớ đến, tiếc thương đến, nhưng không biết vì sao trong lúc đó người ta lại phớt lờ và quên khuấy nó đi ! Bài thơ nầy đã đươc Nguyễn Du mượn ý để tả lại tiếng đờn của cô Kiều đờn khi Kim Kiều tái hợp : ... Khúc đâu đầm ấm dương hòa, Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh ? Khúc đâu êm ái xuân tình, Ấy hồn Thục Đế hay mình Đổ Quyên ? Trong sao châu rỏ duềnh quyên, Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đong ! DIỄN NÔM : CẨM SẮT Năm chục dây đàn gấm tuyệt vời, Mỗi dây mỗi trục nhớ xuân thời. Trang Chu tỉnh mộng còn ngờ bướm, Thục Đế lòng xuân cuốc gọi trời. Trăng sáng biển xanh châu rướm lệ, Lam Điền nắng ấm ngọc thành hơi. Tình nầy ý ấy hoài ghi nhớ, Sao lúc bấy giờ lại để lơi ?! Lục bát : Đàn gấm có năm mươi dây, Mỗi dây mỗi trục chứa đầy tuổi xuân, Trang Sinh ngỡ bướm hóa thân, Cuốc kêu Thục Đế âm thầm xót xa. Lệ rơi thương hải châu sa, Lam Điền nắng ấm ngọc đà bay hơi. Tình nầy dằng dặc khôn nguôi, Chỉ vì lúc ấy không người cảm thông ! Đỗ Chiêu Đức Bài thơ CẨM SẮT nổi tiếng của Lý Thương Ẩn đời Đường như sau : 錦瑟 CẨM SẮT 錦瑟無端五十弦, Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền, 一弦一柱思華年. Nhất huyền nhất trụ tư hoa niên. 莊生曉夢迷蝴蝶,… ☆☆☆☆☆ 234.65Ngôn ngữ: Chữ HánThể thơ: Thất ngôn bát cúThời kỳ: Vãn Đường31 bài trả lời: 28 bản dịch, 3 thảo luận37 người thíchTuyển tập chung
- Đường thi tam bách thủ » Thất ngôn luật thi- Trả lời
- In bài thơ
- Tài liệu đính kèm 1
Một số bài cùng tác giả
- Vô đề (Tương kiến thì nan biệt diệc nan)- Vô đề (Tạc dạ tinh thần tạc dạ phong)- Đăng Lạc Du nguyên- Lạc hoa- Dạ vũ ký bắcĐăng bởi Vanachi vào 11/07/2005 19:35
Ca khúc phổ nhạc錦瑟
錦瑟無端五十弦,一弦一柱思華年。莊生曉夢迷蝴蝶,望帝春心託杜鵑。滄海月明珠有淚,藍田日暖玉生煙。此情可待成追憶,只是當時已惘然。
Cẩm sắt
Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên.Thử tình khả đãi thành truy ức,Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên.
Dịch nghĩa
Đàn gấm chẳng vì cớ chi mà có năm mươi dâyMỗi dây mỗi trụ đều gợi nhớ đến thời tuổi trẻTrang Chu buổi sáng nằm mộng thành bươm bướmLòng xuân của vua Thục đế gửi vào chim Đỗ QuyênTrăng chiếu sáng trên mặt biển xanh, châu rơi lệÁnh nắng ấm áp chiếu vào hạt ngọc Lam Điền sinh ra khóiTình này đã sớm trở thành nỗi nhớ nhung về dĩ vãngCho đến bây giờ chỉ còn lại nỗi đau thương.
錦瑟 Cẩm sắt Đàn gấm
錦瑟無端五十弦,Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,Đàn gấm chẳng vì cớ chi mà có năm mươi dây
一弦一柱思華年。Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.Mỗi dây mỗi trụ đều gợi nhớ đến thời tuổi trẻ
莊生曉夢迷蝴蝶,Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,Trang Chu buổi sáng nằm mộng thành bươm bướm
望帝春心託杜鵑。Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.Lòng xuân của vua Thục đế gửi vào chim Đỗ Quyên
滄海月明珠有淚,Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,Trăng chiếu sáng trên mặt biển xanh, châu rơi lệ
藍田日暖玉生煙。Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên.Ánh nắng ấm áp chiếu vào hạt ngọc Lam Điền sinh ra khói
此情可待成追憶,Thử tình khả đãi thành truy ức,Tình này đã sớm trở thành nỗi nhớ nhung về dĩ vãng
只是當時已惘然。Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên.Cho đến bây giờ chỉ còn lại nỗi đau thương.
Các nội dung nhắc tới bài thơ:- Hồi 22: Kim, Kiều tái hợp (Nguyễn Du)
- Luận thi kỳ 12 (Nguyên Hiếu Vấn)
- Bính Dần xuân nhật ngẫu ngâm (Nguyễn Phúc Ưng Bình)
Trang 1234 trong tổng số 4 trang (31 bài trả lời)[1] [2] [3] [4] ›Trang sau »Trang cuối
Bản dịch của Huỳnh Minh Đức
Gửi bởi Vanachi ngày 11/07/2005 19:35Có 3 người thích
Cẩm sắt vì sao ngũ thập huyềnMỗi dây mỗi trụ, nhớ hoa niênTrang Chu tỉnh mộng, mơ hồ điệpVọng đế lòng xuân, gởi Đỗ quyênTrăng sáng biển xanh, châu đổ lệKhói vương nắng ấm, ngọc Lam điềnTình này sớm tạo niềm nhung nhớ Là buổi đầu tiên, chút nỗi niềm
Lộ tòng kim dạ bạch,Nguyệt thị cố hương minh.☆☆☆☆☆ 283.82Trả lờiBản dịch của Nguyễn Hùng Lân
Ngôn ngữ: Chưa xác địnhGửi bởi Vanachi ngày 11/07/2005 19:36Có 3 người thích
Đàn năm mươi sợi tơ đồngMỗi dây khảy lại nhớ nhung thuở nàoTrang sinh mộng bướm sớm naoLòng xuân Thục đế gởi vào đỗ quyênTrăng soi biển lệ châu miềnNắng lên hạt ngọc Lam Điền khói xâyTình này đáng lẽ đẹp đâyTiếc thay ngày nọ đã đầy đau thương
Lộ tòng kim dạ bạch,Nguyệt thị cố hương minh.☆☆☆☆☆ 94.44Trả lờiBản dịch của (Không rõ)
Ngôn ngữ: Chưa xác địnhGửi bởi Vanachi ngày 11/07/2005 19:37
Đàn cẩm sắt có bao dâyMỗi dây tưởng nhớ một ngày hoa niênTrang sinh hồn bướm mơ tiênLòng xuân Thục đế gởi quyên gọi hèBiển xanh trăng sáng đầm đìaĐất Lam trời đỏ ngọc về khói bayNhững mong tình tuyệt vọng nàyKết trong hồi trưởng những ngày xa xưa
Lộ tòng kim dạ bạch,Nguyệt thị cố hương minh.☆☆☆☆☆ 25.00Trả lờiBản dịch của Lê Nguyễn Lưu
Gửi bởi Vanachi ngày 11/07/2005 19:37
Đàn gấm gồm năm chục sợi liền,Mỗi dây mỗi trụ nhớ hoa niên.Trang Sinh mộng sớm ngờ thân bướm,Vọng Đế lòng xuân gửi tiếng quyên.Trăng sáng lệ giàn châu Đại Hải,Nắng xông ngọc bốc khói Lam Điền.Tình xưa hãy để thành lưu niệm,Một thủa yêu đương luống hão huyền!
[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]Lộ tòng kim dạ bạch,Nguyệt thị cố hương minh.☆☆☆☆☆ 44.25Trả lờiCẩm sắt: từ ý nghĩa bài thơ cho đến tiếng đàn sum họp của Thuý Kiều
Gửi bởi Vanachi ngày 26/03/2006 11:50Có 2 người thích
Mùa Hè năm nay, trên đường từ Việt Nam về lại Canada, tôi ghé Tokyo, thăm anh bạn cũ đang ốm nặng. Một tối, trước giờ đi ngủ, tình cờ thấy trong nhà có cuốn Ri Shôin (Lý Thương Ẩn, 812?-858), tôi lấy ra xem. Lý sống vào thời vãn Đuờng ở Trung Quốc, một thời kỳ có lắm bế tắc về chính trị và xã hội, nhưng chín muồi về văn hoá nghệ thuật. Tuy đỗ đạt cao, Lý không mấy may mắn trên bước hoạn lộ. Thơ Lý được ưa chuộng nhưng nổi tiếng hóc búa. Trong thơ có nhiều điển tích, giàu hình tượng, mà cũng chứa lắm ẩn dụ khó giải mã. Cẩm sắt thường được xem là bài thơ hay nhất và cũng là bài thơ khó hiểu nhất của họ Lý. Chả vậy mà nhà bình thơ đời Thanh Vương Sĩ Trinh đã nhận xét: ‘Nhất biên Cẩm sắt giải nhân nan’ (Bài thơ Cẩm sắt hiểu sao đây!)1Tối đó tôi khẽ đọc bài Cẩm sắt qua âm Hán Việt. Ngâm chầm chậm hai câu mở đầu ‘Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền / Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên’, tự dưng tôi thấy xúc động mạnh. Chỉ có hai câu mà họ Lý đã đưa người đọc đến ngay ngưỡng cửa của những dĩ vãng xa xôi, sâu lắng. Ngâm xong cả bài, tuy không nắm hết ý nhưng tôi vẫn cảm thấy những âm hưởng trong Cẩm sắt có sức quyến rũ, có một ma lực lạ lùng. Người dịch, chú thích và bình luận tập thơ Ri Shôin là Takahashi Kazumi (1931-71), một nhà văn, nhà thơ, và cũng là một nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc xuất sắc nhưng mệnh bạc. Những lời bình của Takahashi như những tia chớp sáng, trong khoảnh-khắc-một-sát-na đưa người đọc đi thẳng vào thế giới thẩm mỹ của thơ Lý Thương Ẩn mà các nhà bình luận thơ Đuờng xưa nay vẫn thường nói tới. Đ?c lui đọc lại, tôi như bị thu hút bởi bài thơ. Duyên nọ dẫn đến duyên kia, sau đó cũng do tình cờ, tôi được biết là trong phần cuối Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã mượn bốn câu trong bài thất ngôn bát cú này để diễn tả cảnh Kiều gẩy đàn cho Kim Trọng nghe sau mười lăm năm cách biệt. Khi so sánh bốn câu trong nguyên tác với đoạn thơ phóng dịch trong Kiều, chúng tôi phát hiện một điều khá kỳ thú: Tiên Điền tiên sinh đã thay đổi không khí u uất trong nguyên tác thành một bầu không khí đầm ấm, êm ái, tươi sáng cho phù hợp với cảnh sum họp vui vầy giữa Kiều với Kim Trọng!Mục đích của chúng tôi khi viết bài này là hy vọng được chia sẻ với độc giả một bài thơ hay, đồng thời cũng mong được mạn đàm về một số chi tiết xung quanh bài thơ và đưa ra một số nhận xét về đoạn thơ phỏng dịch trong Truyện Kiều nói trên. Trước hết, ta thử xem qua gốc gác những từ cần giải thích cùng những điển tích trong bài Cẩm sắt.錦瑟錦瑟無端五十絃一絃一柱思華年莊生曉夢迷蝴蝶望帝春心託杜鵑滄海月明珠有淚藍田日暖玉生煙此情可待成追憶只是當時已惘然Cẩm sắtCẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên.Thử tình khả đãi thành truy ức,Chỉ thị đương thì dĩ võng nhiên.Câu 1) Cẩm sắt: Có người dịch là đàn gấm,2 nhưng trên thực tế là cây đàn sắt có chạm trổ. Đàn sắt là loại đàn lớn làm bằng gỗ cây ngô đồng. Đàn sắt và đàn cầm là hai loại đàn cổ, chữ cầm sắt 3 thường dùng nhằm chỉ vợ chồng hoà hợp, như đàn sắt đàn cầm hoà nhau. Theo Daijigen (Đại từ nguyên), cẩm sắt là mỹ danh của cây đàn sắt 4. Vô đoan: do đâu, từ đâu, không có lý do. Ngũ thập huyền: Theo truyền thuyết, khi Tố Nữ gẩy đàn sắt tế trời theo lệnh vua Phục Hy 5, đàn này có 50 dây. Nhưng vì tiếng đàn quá ai oán não nùng, Phục Hy cấm không cho sử dụng đàn này nữa. Sau đó, vì dân chúng vẫn không chịu tuân lệnh, Phục Hy mới cho phép dùng nửa số dây, từ đó đàn sắt chỉ có 25 dây (theo Phong thiền thư, Sử ký của Tư Mã Thiên; hoặc Giao tự chí, Hán thư của Ban Cố đời Hậu Hán). 6Câu 2) Trụ: trụ; trục; hay ‘con nhạn’ đỡ dây đàn (huyền). Hoa niên: Thanh xuân, tuổi trẻ, thời kỳ rạo rực yêu đương. Tư, tứ: nghĩ, nhớ; ở đây dùng theo nghĩa ‘gợi nhớ’. Mỗi dây đàn, mỗi trục, xui nhớ lại tuổi hoa niên. Đọc hai câu mở đầu, ta không khỏi liên tưởng đến hai câu hát ru con Việt Nam ‘Hai tay cầm bốn tao nôi / Tao thẳng tao dùi, tao nhớ tao thương’ — tuy dân dã mộc mạc nhưng có sức gợi cảm cũng vô cùng mãnh liệt.Câu 3) Trang sinh: tức Trang Chu, nhà tư tưởng thời Chiến Quốc. Sách Trang Tử ghi lại những ngôn thuyết của Trang Tử cùng những người cùng phái, chủ trương là mọi việc trên đời như lớn nhỏ, khôn dại, sống chết, v.v. chẳng có gì khác nhau cho lắm; xem vô vi, tự nhiên là đạo đức cao nhất. Thuyết giải về sự khó phân biệt giữa tỉnh và mộng, sống và chết, thiên Tề vật luận trong Trang Tử viết: " Ngày xưa, Trang Chu chiêm bao thấy mình hoá bướm bay nhởn nhơ, tự lấy làm thích chí, quên mình là Chu. Bất giác tỉnh giấc, thấy hình thù mình vẫn là Chu. Không biết Chu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Chu! "Câu 4) Vọng đế: đế hiệu của vua Đỗ Vũ nước Thục cuối đời Chu (nên còn gọi là Thục đế). 7 Tương truyền Vọng đế ra lệnh bộ hạ là Miết Linh đi cứu lũ ở xa nhằm thừa dịp tư tình với vợ của Miết Linh. Sau đó Vọng đế tự hổ thẹn về hành vi bất chính của mình, từ ngôi rồi mai danh ẩn tích. Mỗi năm cứ vào tháng hai âm lịch (Vọng đế rời đất Thục cũng vào tháng này), đêm đêm chim đỗ quyên lại cất tiếng sầu thảm. Bởi vậy, người nước Thục mỗi lần nghe tiếng chim đỗ quyên lại nhớ đến Vọng đế 8. Xuân tâm: lòng xuân, còn có nghĩa như ‘xuân tình’: tình yêu trai gái, có thể bao hàm hơi hướng tính dục. Nguyễn Du cũng đã dùng chữ ‘xuân tình’ khi phỏng dịch đoạn thơ này trong Truyện Kiều.Câu 5) Thương hải: Biển xanh, còn có nghĩa là biển rộng, biển cả. Thương hải cũng có khi dùng để chỉ tên một biển hư cấu ở cõi tiên. Nguyệt minh châu hữu lệ: Theo Văn tuyển (Lý Thiện chú thích), " khi trăng đầy, trai có ngọc (châu), khi trăng khuyết trai không có ngọc " (nguyệt mãn tức châu toàn, nguyệt khuy tức châu khuyết). Theo cuốn Biệt quốc động minh ký thời Lục Triều, ngày xưa có người lặn xuống đáy biển tìm ngọc, lạc vào cung điện của nhân ngư, tìm được bảo ngọc do nước mắt của nhân ngư đọng lại 9. Ngoài ra, câu này còn có thể hiểu theo điển tích thương hải di châu (hạt ngọc bỏ rơi trong biển cả), ngụ ý là người có tài mà không có chỗ thi thố.Câu 6) Lam Điền: tên một ngọn núi ở Thiểm Tây (Lam điền sơn), còn gọi là Ngọc sơn, nổi tiếng có nhiều ngọc quý. Theo Sơn hải kinh, Ngọc sơn là nơi bà tiên Tây Vương Mẫu ở — chi tiết này khiến người đọc liên tưởng đến một cõi tiên hư cấu, giống như Thương hải trong câu 5 10. Ngọc sinh yên: Theo Lục dị truyện, con gái Ngô Phù Sai là Tử Ngọc yêu người lính hầu là Hàn Trọng nhưng không được Ngô vương chấp thuận, mang mối bi tình xuống tuyền đài. Một sáng, khi Ngô vương đang dùng lược chải tóc, nhìn ra vườn thấy có viên ngọc lớn màu tím chiếu sáng, phu nhân nghe nói chạy ra vườn, khi vừa ôm chầm hòn ngọc thì ngọc tan thành khói biến mất. Lại có thuyết cho rằng tứ thơ trong câu này lấy từ ý câu sau đây của nhà thơ Đái Thúc Luân (732-789) thời Trung Đường: " Cảnh, đối với nhà thơ, tựa như viên ngọc quý bốc tan thành khói khi Lam Điền ửng nắng, chỉ có thể đứng nhìn từ xa chứ không được lại gần " (thi gia chi cảnh như Lam Điền nhật noãn lương ngọc sinh yên, khả vọng nhi bất khả trí ư mi tiệp chi tiền giã) 11.Hai câu 5 & 6 đối nhau, bởi vậy khi chuyển ngữ chúng tôi đã cố gắng giữ nguyên những chữ đối nhau trong câu. Nói một cách khác, khi xem Thương hải là một danh từ tiêng, chúng tôi cũng xem Lam điền là danh từ riêng; và khi dịch ‘thương hải’ như một danh từ chung (biển cả), chúng tôi cũng dịch ‘lam điền’ như một danh từ chung (đồng xanh).Hai câu 7 & 8) Khả [đãi]: trợ từ có nghĩa là: phải, nên, đáng, có thể, chắc có thể, có lẽ, hình như; hoặc là trợ từ nghi vấn (làm sao có thể...). Võng nhiên: không biết gì cả, ngơ ngác như mất hồn, phôi pha. Câu 7 có thể dịch là " Tình này [giả sử] có thể trở thành một cái gì để ghi nhớ " hoặc " Làm sao có thể chờ đợi để tình này trở thành cái gì để ghi nhớ? " Chúng tôi đã chọn cách dịch thứ nhất. Câu 8 có nghĩa là " Thì lúc ấy thời gian/duyên tình cũng đã phôi pha/tàn phai/nhạt nhoà ". Sau đây là hai bản dịch bài Cẩm sắt của chúng tôi:Bản dịch 1:Cẩm sắt vì đâu năm chục dây?Mỗi dây mỗi trục nhớ thương đầy.Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,Thục đế tình xuân tiếng cuốc chầy.Thương hải trăng thanh châu nhỏ lệ,Lam điền nắng ấm ngọc tan bay.Tình này ví thử sau còn nhớ,Lúc đã tàn phai với tháng ngày!Bản dịch 2:Cẩm sắt vì đâu ngũ-thập-huyền?Mỗi dây mỗi trục gợi hoa niên.Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,Thục đế xuân tình gửi tiếng quyên.Bể cả trăng thanh châu đẫm lệ,Đồng xanh nắng ửng ngọc tan liền.Tình này ví thử sau còn nhớ,Khi đã qua rồi thuở lứa duyên!Như chúng ta đã thấy, lời thơ trong bài Cẩm sắt đượm nét buồn man mác, như chất chứa một ‘nỗi sầu vạn đời’. Có người cho rằng Lý đã viết bài thơ này vào những năm cuối đời để khóc người vợ quá cố của mình, có kẻ bảo Lý viết để than tiếc cho người yêu mang tên là Cẩm Sắt. Ngoài ra còn có không biết bao nhiêu giả thuyết khác 12. Có lẽ chúng ta nên hiểu là Lý muốn nói về bản chất mộng ảo, mong manh của cuộc đời và của tình yêu, không chỉ của nhà thơ mà của con người nói chung. Những năm tháng đã trôi qua trong cuộc đời (mà trăm năm là giới hạn) như thâu gọn lại trong năm chục sợi dây đàn. Từ mỗi dây, tiếng đàn ngân lên như khơi dậy lại tuổi hoa niên, của ‘cái thuở ban đầu lưu luyến ấy / ngàn năm chưa dễ đã ai quên’ (Thế Lữ)! Làm sao phân biệt thực với mộng? Trang Chu hay con bướm, Thục đế hay chim đỗ quyên, bên nào thực, bên nào mộng? Ngay giữa lúc ‘Thương hải trăng thanh’ thì ‘châu đẫm lệ’, và ngay khi ‘Lam điền nắng ấm’ thì ‘ngọc tan bay’! Và tình yêu, khi muốn ghi nhớ, muốn trân trọng, thì hỡi ôi, lúc đó thời gian đã phôi pha; duyên tình, hương nguyền ngày trước còn đâu nữa! Tất cả đều mong manh, mộng ảo.Cho dầu chúng ta không thể giải thích một cách thoả đáng tất cả những ẩn dụ trong Cẩm sắt, nhưng vẫn có thể cảm nhận được giá trị của bài thơ, đúng như Lương Khải Siêu (1873-1929) đã nhận xét khi đọc những bài thơ khó giải mã của Lý. Lương viết: " Tôi không hiểu và thậm chí không thể giải thích ý nghĩa của từng câu thơ, nhưng tôi vẫn yêu và vẫn bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp của thơ họ Lý " 13.Cuối cùng, chúng tôi xin đưa ra vài nhận xét về đoạn phóng dịch bốn câu 3, 4, 5, 6 của bài Cẩm sắt trong Kiều. Đoạn này nằm trong phần cuối của Truyện Kiều, khi Kiều và Kim Trọng gặp lại nhau sau mười lăm năm cách biệt. Kim Trọng nhờ Kiều đánh đàn cho mình nghe, và Kiều đã " nể lòng người cũ vâng lời một phen ". Trước đó, khi Kiều đàn cho Kim Trọng nghe lần đầu tiên, hay trong những lần Kiều bị buộc phải gẩy đàn cho Thúc Sinh, Hoạn Thư, v.v. nghe, thì tiếng đàn của nàng lâm ly, não nùng, " nghe ra như oán như sầu phải chăng ". Nhưng lần này, khác hẳn với những lần trước, tiếng đàn của Kiều nghe thật ấm áp, êm ái, trong sáng. Nguyễn Du đã phóng dịch bốn câu trên nhằm diễn tả tiếng đàn sum họp của Thuý Kiều như sau:Khúc đâu đầm ấm dương hoà,Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh.Khúc đâu êm ái xuân tình,Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!Qua tiếng đàn vui tươi, ấm áp trong đoạn phóng dịch này, người đọc không còn thấy bóng dáng trăn trở hoài nghi của một Trang Chu nguyên sơ trong thiên Tề vật luận 14, tiếng ca của chim đỗ quyên không còn nhuốm máu vì Thục đế — mà chỉ là một giai điệu êm ái gợi nhớ vị quân vương đa tình, những hạt châu không còn đẫm lệ ở Thương hải vào những đêm trăng tỏ, và hạt ngọc kia cũng không còn bốc khói khi ửng nắng ở Lam điền!Dĩ nhiên Tiên Điền tiên sinh đã không hiểu lầm ý thơ của họ Lý. Do đâu mà chúng ta có thể khẳng định như vậy? Ngoài bản lĩnh của nhà học giả này như ta đã biết, lý do là ngay sau đó, khi Kim Trọng hỏi Kiều: " Tiếng đàn ngày trước sao ai oán, não nùng, mà hôm nay em đàn sao nghe vui thế? " (Chàng rằng: Phổ ấy tay nào? Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy), thì Nguyễn Du đã thay nàng Kiều đáp lời: " Tẻ vui bởi tại lòng này / Hay là khổ tận đến ngày cam lai? ". Mặc dầu phải đối đầu với định mệnh phũ phàng, nghiệt ngã trong suốt mười lăm năm chia cách (Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa / Bấy chầy gió táp mưa sa), Nguyễn Du đã thay Kiều khẳng định phẩm chất đẹp đẽ trong sạch của nàng: " Chữ Trinh còn một chút này ". Chữ Trinh ở đây dĩ nhiên phải hiểu theo nghĩa tinh thần. Kiều cảm kích bởi tấm lòng của người cũ, vì hơn ai hết Kim Trọng hiểu được điều đó, bởi thế Kiều mới nói: " Thân tàn gợi đục khơi trong / Là nhờ quân tử khác lòng người ta / Mấy lời tâm phúc ruột rà / Tương tri dường ấy mới là tương tri "! Trong không khí " tình xưa lai láng khôn hàn ", Kim Trọng nhờ Kiều gẩy cho nghe một khúc (” Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa "). Đoạn Nguyễn Du phỏng dịch từ Cẩm sắt chính là để diễn tả tiếng đàn của Thuý Kiều lúc đó.Ta hãy thử suy luận. Phải chăng Nguyễn Du đã thay đổi hẳn bầu không khí ‘một cách sáng tạo’ khi phỏng dịch đoạn trên nhằm nói rõ lên rằng " Tẻ vui bởi tại lòng này ", và trong giờ phút tương phùng Kiều cảm thấy đã được phỉ nguyền (” Ba sinh đã phỉ mười nguyền "), hay nói đúng hơn, nàng cảm thấy đã được giải thoát khỏi nghiệp chướng? Chắc hẳn chính vì vậy, nên ngay cả giai điệu lâm ly, u uất của bài Cẩm sắt mà nghe vẫn êm ái, đầm ấm! Bằng chứng cụ thể và hùng hồn nhất về sự cố ý thay đổi một cách sáng tạo của Nguyễn Du có thể tìm thấy ở câu cuối cùng trong 6 câu thơ phỏng dịch. Trong câu này, thiên tài họ Nguyễn đã đảo ngược hiện tượng, biến " Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên " (Lam điền nắng ấm ngọc tan bay) thành " Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông ", tức " ngọc tan thành khói " trong nguyên tác đã trở thành " ngọc... mới đông " trong Truyện Kiều! Vì " ngọc... mới đông " nên Nguyễn Văn Vĩnh khi chuyển ngữ Kiều sang tiếng Pháp, đã dịch câu này là: ‘Et c’était chaud comme une de ces gouttes qui viennent de se cristalliser en perles sur la plaine de Lam điền’ 15.Trong Truyện Kiều, điều đáng chú ý là Nguyễn Du đã khởi đầu bằng thuyết tài mệnh tương đố cũng có xuất xứ từ thơ của Lý Thương Ẩn (” Cổ lai tài mệnh lưỡng tương phương ", tức " Xưa nay tài mệnh vốn thường kỵ nhau "), và như chúng ta đã thấy, trong phần kết thúc Nguyễn cũng đã phóng dịch một đoạn thơ của họ Lý trong khúc đàn cuối cùng của nàng Kiều nhằm chứng minh là ‘tẻ vui’ là ‘bởi tại lòng này’ và niềm vui sẽ có được khi trong lòng không còn bị vướng vất bởi các nghiệp chướng. Theo Nguyễn Du, đánh thức thiện căn, thiện tâm chính là chìa khoá đưa đến sự giải thoát (” Thiện tâm ở tại lòng ta / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài ").Sự thay đổi nội dung, từ bốn câu thơ trong bài Cẩm sắt sang đoạn phóng dịch trong phần kết thúc Truyện Kiều, nghĩ cho cùng, là một hiện tượng khúc xạ xảy ra khá phổ biến, với mức độ khác nhau, khi nước này tiếp thu văn hoá nước kia trong quá trình giao lưu / giao thoa văn hoá. Điều đáng chú ý là trong trường hợp này, thiên tài Nguyễn Du đã ‘Việt Nam hoá’ bốn câu thơ trong bài Cẩm sắt một cách điêu luyện nhằm bảo vệ nàng Kiều, nạn nhân của nghịch cảnh xã hội, và chứng minh rằng mặc bao ‘gió táp mưa sa’, nàng Kiều đã giữ được phẩm giá trong trắng của mình. Như nhiều thức giả đã nhận xét, đành rằng Tố Như tiên sinh đã ít nhiều ký thác tâm sự vào Kiều khi bảo vệ cho nàng 16, tuy nhiên tâm thức ‘tấm lòng như tuyết như băng’, hoặc ‘gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’ mà Tố Như tiên sinh đã khẳng định qua Kiều nằm ngay trong cốt lõi tâm tình dân tộc của người Việt. Có lẽ vì thế nên Truyện Kiều, ngoài những vần thơ điêu luyện, đã được người Việt — nạn nhân của không biết bao cơn binh lửa cùng nghịch cảnh xã hội — yêu chuộng mãi không thôi.
Vĩnh Sính1 Trích lại từ Wang Chiu-kuei [Vương Thu Quế], ‘Objective Correlative’ in the Love Poems of Li Shang-yin (Tương quan khách quan trong những bài thơ tình của Lý Thương Ẩn), Trung tâm Nghiên cứu Ngữ văn Ngoại quốc, Đại học Quốc lập Đài Loan (Taipei: Quỹ Văn hoá, Gia Tân Thuỷ Nê Công Ty, 1970), trang 31.2 Ví dụ, xem Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dịch (Huế: Nxb Thuận Hoá, 1997), tập 2, trang 1331.3 Có học giả nhầm tên bài thơ này là Cầm sắt, thay vì Cẩm sắt; ví dụ: Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải, Truyện Kiều (Hà Nội: Nxb Giáo Dục, 1996, xuất bản lần thứ XIII), trang 234; hoặc Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim hiệu khảo và chú thích, Truyện Thuý Kiều (Fort Smith, AR: Nxb Sống Mới, không ghi năm in lại), trang 206.4 Tokyo: Kadokawa Shoten, 1992, trang 1820.5 Có sách ghi là Thái đế. Xem James Liu, The Poetry of Li Shang-yin (Thơ Lý Thương Ẩn). (Chicago: The University of Chicago Press, 1969), trang 51.6 Trích dẫn lại từ Takahashi Kazumi, Ri Shôin (Lý Thương Ẩn) (Tokyo: Kawade Bunko, 1996), trang 40.7 Đối với độc giả Việt Nam, tuy cách gọi Thục đế nghe quen tai hơn Vọng đế, nhưng nguyên văn chữ Hán để là Vọng đế thì ta phải theo đúng vậy, khi dịch sang tiếng Việt dĩ nhiên ta có thể chuyển thành Thục đế để độc giả người Việt dễ theo dõi hơn. Có tác giả ghi nhầm nguyên văn trong Cẩm sắt là Thục đế; chẳng hạn như: Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải, sđd, trang 234; Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chú giải, Vương Thuý Kiều (Đoạn trường tân thanh) (Sài Gòn: Tủ sách Hương Sơn, 1960), trang 234.8 Takahashi Kazumi, sđd, trang 40.9 Như trên.10 Như trên, trang 40-41.11 Trích lại từ Wang Chiu-kuei, sđd, trang 38.12 Xem James Liu, sđd, trang 52-57.13 Xem Fusheng Wu, The Poetics of Decadence: Chinese Poetry of the Southern Dynasties and Late Tang Periods (Thi ca đồi phế: Thơ Trung Quốc vào thời Lục Triều và Vãn Đường) (Albany, NY: State University of New York, 1998), trang 169.14 Về điểm này, học giả Đặng Thanh Lê cũng đã đưa ra nhận xét tương tự trong Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (Hà Nộiấ: Nxb Khoa học xã hội, 1979), trang 141. Cách lý giải của Đặng quân về ý nghĩa của đoạn phỏng dịch từ Cẩm sắt hay phần ‘Tái hồi Kim Trọng’ nói chung có điểm khác với cách lý giải của chúng tôi.15 Nguyễn Du, Kim Vân Kiều: Traduction en Français par Nguyễn Văn Vĩnh (in theo bản của Nhà Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1943; Nxb Văn Học, 1994), trang 780. Người viết cho in chữ thẳng để nhấn mạnh.16 Theo quan niệm ‘trung thần bất sự nhị quân’ (tôi trung không thờ hai vua) ngày trước, việc làm quan cho hai triều (trước làm tôi nhà Lê và sau ra làm quan cho nhà Nguyễn) chắc đã làm Nguyễn Du trăn trở không ít.Lộ tòng kim dạ bạch,Nguyệt thị cố hương minh.☆☆☆☆☆ 264.85Trả lờiBản dịch của Nguyễn phước Hậu
Gửi bởi Nguyễn phước Hậu ngày 18/03/2008 04:25
Năm mươi dây sắt cớ làm sao ?Mỗi trụ mỗi dây nhắc tuổi đào .Hồ điệp Trang sinh mơ sáng trắngĐỗ quyên Thục đế tiếc xuân nào ? Trăng soi biển biếc khơi dòng lệNắng chiếu ngọc lam tỏa khói màuTình gợi nhớ nhung về dĩ vãngGiờ còn sót lại nỗi niềm đau .
☆☆☆☆☆ 14.00Trả lờivề bản dịch không rõ tác giả
Gửi bởi Diệp Đồng ngày 09/08/2008 02:16
"Phím đàn dìu dặt tay tiên Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa Khúc đâu đầm ấm dương hoà Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh Khúc đâu êm ái xuân tình Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên Trong sao châu nhỏ duềnh quyên Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông Lọt tai nghe suốt năm cung Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao"Đoạn này là trong Truyện Kiều :)
☆☆☆☆☆ 15.00Trả lờiBản dịch của vươngthanh
Ngôn ngữ: Chưa xác địnhGửi bởi vươngthanh ngày 29/10/2008 22:19Đã sửa 2 lần, lần cuối bởi vươngthanh vào 02/11/2008 15:22Có 2 người thích
Đàn gấm, năm mươi sợi ảo huyềnTừng dây, từng trục gọi hoa niênTrang sinh, mộng sớm mơ hồn bướmThục đế, lòng xuân gửi tiếng quyênTrăng sáng, lệ châu nhòa Bích HảiNắng hanh, khói ngọc tỏa Lam ĐiềnTình này ôn lại còn thương cảmMột thuở đau lòng chữ nợ duyên
Giòng thơ ai thả phiêu diêuMột đời mãi nhớ tiếng tiêu hoạ đàn☆☆☆☆☆ 15.00Trả lờiBản dịch của mailang
Gửi bởi kimthao ngày 16/06/2009 02:04Đã sửa 2 lần, lần cuối bởi kimthao vào 05/02/2010 04:01
Đàn Gấm cớ gì năm chục dây,Mỗi dây mỗi trụ thuở xuân vầy.Lòng xuân Vọng đế vào quyên khóc,Mộng sớm Trang sinh hóa bướm bay.Nắng ấm Lam Điền hơi ngọc nhả,Trăng trong biển biếc lệ châu bày.Tình kia nên trở thành hoài niệm,Một thuở phong tình, tủi lắm thay !
☆☆☆☆☆ 15.00Trả lờiBản dịch của Trần Hoàng Tiến
Ngôn ngữ: Chưa xác địnhGửi bởi tranhoangtien ngày 25/01/2010 09:13
Đàn lạ vì sao năm chục dây,Nhập vào mỗi trụ mỗi xuân gầy.Luyến điệp, Trang sinh dù tỉnh mộng,Nhớ quyên, Thục đế gửi tâm say.Biển xanh trăng rọi, châu ngấn lệ,Ruộng lam nắng chiếu, ngọc tỏa mây.Một khúc cảm hoài! Ôi, dĩ vãng!Cầm reo não nuột với thân này.
☆☆☆☆☆ 15.00Trả lờiTrang 1234 trong tổng số 4 trang (31 bài trả lời)[1] [2] [3] [4] ›Trang sau »Trang cuối
© 2004-2026 VanachiRSS
Tức Trang Tử, tên là Chu. Trang Chu nằm mơ thấy hoá thành bướm bay khắp nơi, khi tỉnh mộng, bàng hoàng tự hỏi, không biết mình là người lúc trước mơ thành bướm, hay là bướm bây giờ mơ hoá người. Vua Thục tên là Đỗ Vũ. Khi Vọng đế thác đi, thương nước cũ, tiếc duyên xưa, hồn hoá làm chim đỗ quyên (cuốc). Tên núi, ở huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây, nơi có nhiều ngọc đẹp.Từ khóa » Khả Liên Thập Túc Vô Huyên Tạp
-
Cẩm Sắt - Tiếu
-
Về Bài Thơ Cẩm Sắt Của Lý Thương Ẩn... Ngân Triều Chú Giải
-
Tuyệt Tác Đường Thi: “Cẩm Sắt”, Nỗi Lòng Người Chí Lớn Tài Cao Mà ...
-
Lời Bài Thơ Bắc Hành Tạp Lục Bài 4 (Nguyễn Du) - TKaraoke
-
Bài Thơ Cẩm Sắt Của Lý Thương Ẩn (Đô Chiêu Đức) - Vhp.Hạ Vũ
-
Lý Thương ẩn - TRANG THƠ HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG
-
Chỉ Thị 10/CT-UBND 2022 Tổ Chức Kỳ Thi Tốt Nghiệp Trung Học Phổ ...
-
Chỉ Thị 11/CT-UBND 2022 Tăng Cường Công Tác Thống Kê Nhà Nước ...
-
[PDF] Chuyên đề 4 KỸ NĂNG CHỦ TRÌ, ĐIỀU HÀNH CUỘC HỌP CỦA ...
-
Đón đọc Giai Phẩm Giác Ngộ Vu Lan - Báo Hiếu: "Khả Tính Vô Biên ...
-
Tập Cận Bình – Wikipedia Tiếng Việt
-
Nếu Thật Sự Nghiêm Túc, Bạn Cần Biết Vài Điều Khi Tập MMA
-
Cẩm Sắt , Lý Thương Ẩn Qua Tay Nguyễn Du (I) - Laiquangnam