Gyps Coprotheres – Wikipedia Tiếng Việt

Bước tới nội dung

Nội dung

chuyển sang thanh bên ẩn
  • Đầu
  • 1 Chú thích
  • 2 Tham khảo
  • Bài viết
  • Thảo luận
Tiếng Việt
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Công cụ Công cụ chuyển sang thanh bên ẩn Tác vụ
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Chung
  • Các liên kết đến đây
  • Thay đổi liên quan
  • Thông tin trang
  • Trích dẫn trang này
  • Tạo URL rút gọn
  • Tải mã QR
In và xuất
  • Tạo một quyển sách
  • Tải dưới dạng PDF
  • Bản để in ra
Tại dự án khác
  • Wikimedia Commons
  • Wikispecies
  • Khoản mục Wikidata
Giao diện chuyển sang thanh bên ẩn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Gyps coprotheres
Tình trạng bảo tồn
Nguy cấp  (IUCN 3.1)[1]
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Aves
Bộ (ordo)Accipitriformes
Họ (familia)Accipitridae
Chi (genus)Gyps
Loài (species)G. coprotheres
Danh pháp hai phần
Gyps coprotheres(Forster, 1798)
Danh pháp đồng nghĩa
  • Gyps kolbi
Gyps coprotheres

Gyps coprotheres là một loài chim trong họ Accipitridae.[2] Đây là loài đặc hữu của miền nam châu Phi, và được tìm thấy chủ yếu ở Nam Phi, Lesotho, Botswana và ở một số vùng phía bắc Namibia. Chúng xây tổ trên vách đá và đẻ một quả trứng mỗi năm. Từ năm 2015, loài kền kền này đã được phân loại là sắp nguy cấp. Chiều dài trung bình của chim trưởng thành là khoảng 96–115 cm (38–45 in) với sải cánh 2,26–2,6 m (7,4–8,5 ft) và trọng lượng cơ thể 7–11 kg (15–24 lb). Hai miếng da trần nổi bật dưới cổ, cũng được tìm thấy trong kền kền cổ trắng, được cho là cảm biến nhiệt độ và được sử dụng để phát hiện sự hiện diện của nguồn nhiệt. Loài kền kền này hiện diện ở Angola, Botswana, Lesotho, Mozambique, Nam Phi và Zimbabwe. Trước đây chúng cũng có thể được tìm thấy ở Namibia và Swaziland. Đôi khi âm đạo thỉnh thoảng được ghi nhận từ Cộng hòa Dân chủ Congo và Zambia.

Loài này thường sinh sản và ngủ trên vách đá trong hoặc gần núi, từ đó chúng có thể bay xa để tìm kiếm những xác động vật lớn mà chúng chuyên ăn. Mẫu vật theo dõi ở Namibia đã được tìm thấy có phạm vi nhà 11.800 - 22.500 km2 trong phạm vi.

Ở mũi phía đông của Nam Phi, loài kền kền này có nhiều khả năng chiếm các khu vực vách đá trên các gờ có độ sâu nhỏ hơn và ở độ cao cao hơn, bao quanh bởi các lãnh thổ.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ BirdLife International (2013). "Gyps coprotheres". Sách Đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013.
  2. ^ Clements, J. F.; Schulenberg, T. S.; Iliff, M. J.; Wood, C. L.; Roberson, D.; Sullivan, B.L. (2012). "The eBird/Clements checklist of birds of the world: Version 6.7". Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dữ liệu liên quan tới Gyps coprotheres tại Wikispecies
Stub icon

Bài viết Bộ Ưng này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

  • x
  • t
  • s
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Gyps_coprotheres&oldid=73508393” Thể loại:
  • Loài nguy cấp theo Sách đỏ IUCN
  • Gyps
  • Chim châu Phi Hạ Sahara
  • Chim ăn thịt châu Phi
  • Động vật được mô tả năm 1798
  • Loài sắp nguy cấp theo Sách đỏ IUCN
  • Phân họ Đại bàng
  • Sơ khai Bộ Ưng
Thể loại ẩn:
  • Tất cả bài viết sơ khai
Tìm kiếm Tìm kiếm Đóng mở mục lục Gyps coprotheres 37 ngôn ngữ Thêm đề tài

Từ khóa » Bộ Ngũ Kền Kền