Hành Vi Gây Hấn Phân Tích Từ Góc độ Tâm Lý Học Xã Hội Trần Thị Minh ...
Có thể bạn quan tâm
- Trang chủ >>
- Giáo án - Bài giảng >>
- Cao đẳng - Đại học
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (915.91 KB, 28 trang )
Gây hấn là một hiện tượng tâm lý tiêu cực, với những biểu hiện đa dạng và gâynhững hậu quả đôi khi rất nặng nề về mặt xã hội. Những năm gần đây hành vi gâyhấn có chiều hướng gia tăng ở nước ta. Những biện pháp chế tài, những khung vănbản pháp lý về vấn đề này cũng còn nhiều bất cập; những phân tích mang tínhchuyên môn từ góc độ tâm lý xã hội về vấn đề xã hội nóng bỏng này còn rất ít.Cuốn chuyên khảo “Hành vi gây hấn – phân tích từ góc độ tâm lý học xã hội” nàycủa PGS. TS. Trần Thị Minh Đức là một bước đi mạnh dạn và là một đóng gópquý báu. Dưới đây là nội dung tóm tắt một số chương.Chương INhìn ra tầm vi mô với những cuộc chiến tranh, tranh giành…giữa các quốc giađang diễn ra trên khắp thế giới này; rồi chúng ta có thể thấy ngay trong cộng đồngnơi ta đang sống, trong những sinh hoạt đời thường…Hành vi gây hấn luôn là mộtđiều nhức nhối không chỉ của riêng ai, riêng thời khắc, không gian nào. Chươngđầu của cuốn sách “ghé qua” các loại hành vi gây hấn trong bức tranh toàn cảnh tớithời điểm đầu thế kỷ XX, đến muôn mặt của hành vi gây hấn trong cuộc sống nhânsinh, phơi bày những kiểu cách gây tổn thương nhau mà loài người đã và đang sửdụng để xâm kích nhau, qua đó vẽ nên một diện mạo khái quát, phác nên nhữnghậu quả tàn tệ của hành vi gây hấn, đó như là một lời cảnh báo với những phân tíchnhận định từ góc nhìn chuyên môn của các nhà tâm lý học xã hội.I.– Từ những cuộc chiến, tội ác diệt chủng trong lịch sử nhân loại đến gâyhấn ngoài đời:1. Các cuộc chiến và tội ác diệt chủng trong lịch sử:Những xung đột bất tận từ khi con Người xuất hiện và thiết lập những lựclượng bản chất người trên hành tinh này không những không giảm hạ, mà theosự phát triển mạnh mẽ của tồn tại nhân sinh, những cuộc chiến tranh, nhữngcuộc gây hấn mang tính quốc tế…ngày càng tăng về mọi mặt và để lại nhữnghậu quả đáng kinh sợ. Đỉnh điểm là vào thế kỷ XX, trong chưa đầy một thế kỷđã diễn ra hai cuộc chiến tranh thế giới, mà những hậu quả khủng khiếp mà nógây ra không thể đo đếm được, cả về vật chất lẫn tinh thần. Như cuộc chiếnViệt Nam – Mỹ đã để lại biết bao nhức nhối trong lòng người. Tiếp đó, thế kỷXXI trở thành thế kỷ của chủ nghĩa khủng bố, của sự mất ổn định an ninhmang tính toàn cầu, nguy cơ bùng nổ chiến tranh luôn tiềm ẩn trong mỗi lờiphát biểu, trong từng động thái của các chính khách trong những tình huốngchính trị nhạy cảm; mà nguy cơ chiến tranh hiện thời đồng nghĩa với sự hủydiệt luôn sự sống trên hành tinh này.2. Gây hấn trong chính trường và bạo lực trong cuộc sống:2.1. Nghị sĩ “choảng nhau” ở quốc hội:Ngày 22/7/2009, xảy ra vụ việc hàng trăm nghị sỹ đua nhau la hét vật lộn vớinhau trong phiên họp Quốc hội Hàn Quốc. Hỗn loạn, ẩu đả, cãi nhau, dùng vũ khíthô sơ tấn công…Nơi biểu hiện cao nhất của hệ thống thượng tầng kiến trúc xã hộiđã trở thành chốn “chợ búa”.2.2. Tuyên bố gây hấn của lãnh đạo và biểu tình, bạo loạn của người dân:Những quan điểm chinh trị của các nhà cầm quyền được cụ thể hóa theo nhiềucách trong đời sống nhân dân. Khi gặp phải vấn đề, việc giải quyết lại dùng tớibạo lực thì khi đó người dân sẽ tham chiến, dù phải đổ máu để đạt được lý tưởng.Vấn đề là đặt ra llý tưởng nào và cho ai mà thôi. Những vụ căng thẳng leo thangtrên chính trường quốc tế đều có nguy cơ dẫn tới bùng nổ bạo lực, khi đó mỗi bêntham chiến đều có lý của mình, và xung đột chẳng bao giờ có một cái kết có hậu.2.3. Gây hấn học đường:Đây là một hiện tượng gây hấn được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới và hiệnđang là một vấn nạn tại các trường học ở Việt Nam, với những biểu hiện đa dạngvà ở đủ mọi cấp học, ở mọi cấp độ.2.4. Gây hấn nơi công sở:Hiện tượng “ma cũ bắt nạt ma mới” nơi công sở thực chất là một hình thức gâyhấn, “vũ khí” là ngôn từ, thái độ, hành vi gây khó dễ…Quấy rối tình dục nơi công sở cũng được coi là một dạng bạo lực nơi công sở. Tệnạn này luôn tồn tại ở nhiều công sở.2.5. Bạo lực gia đình:Theo quỹ phát triển phụ nữ của LHQ (UNIFEM 1998), cứ ba phụ nữ trên thế giớithì có ít nhất một người bị đánh đập, ép buộc quan hệ tình dục hoặc bị lạm dụng…2.6. Gây hấn ở các khu vực khác:Hỗn chiến trên sân chơi bóng đá. Đánh nhau trong các hộp đêm. Đánh nhau tronggiới ca sĩ. Ẩu đả và chòng gẹp trên đường. Người đẹp cũng đánh nhau. Bạo lựctrên phim ảnh và game oline.II.– Khía cạnh văn hóa trong gây hấn:Các nhà dân tộc học đưa ra nhận định rằng cá nhân sống trong nền văn hóa hoặccộng đồng “hiếu chiến” sẽ có xu hướng thích gây hấn nhiều hơn. Theo đó, nhữngquy cách ứng xử trong cộng đồng gây ra tình trạng thiếu hụt tình cảm dành cho trẻem thuộc cộng đồng đó, và phần nào cũng tạo nên sự tập nhiễm xã hội từ lối sống,phong tục, quan niệm… mang tính riêng biệt của từng cộng đồng.Gây hấn có thể biểu hiện ra ở lời nói, việc làm; bắt nguồn từ các yếu tố văn hóa,niềm tin, quy chuẩn chung. Như nghi thức tự mổ bụng (Harakiri hay Seppuku) củacác chiến binh (Samurai) Nhật Bản, không chỉ là khía cạnh ý thức về văn hóa danhdự, mà sâu hơn còn ẩn chứa cái khoái cảm hủy diệt cái đẹp-mà thân thể con ngườilà biểu trưng cho cái đẹp đó.Ngoài những nguyên do văn hóa, danh dự, ghen tuông; hành vi gây hấn còn cónguyên nhân từ đói nghèo, bất công, định kiến…Tất cả những điều này đều đe dọacá nhân về mặt bản năng sinh tồn mang tính sinh học hoặc sâu xa hơn là đe dọa vềmặt tâm lý, về sự phá vỡ hoặc bất toàn của cấu trúc nhân cách của từng cá thể.III.– Khía cạnh giới trong gây hấn:Theo David Buss và Todd Shackelford (1997), hành vi gây hấn của con đựcthường nhằm bảo vệ lãnh thổ hoặc để được quyền giao phối với con cái. Trong xãhội loài người thì hành vi này ở nam giới như một dạng vũ khí phòng thủ để bảo vệgia đình khỏi những nguy cơ từ bên ngoài, hoặc như một chiến lược nhằm chiếmđoạt tài nguyên. Các lý do này có thể dùng để lý giải những hành vi gây hấn củanam giới.Theo quan điểm sinh học sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà trong hành vi gâyhấn bắt nguồn từ việc lượng hormone kích tố dục nam – testosterone có trong mỗigiới. Do cánh mày râu thường có lượng hormone này trong máu cao, nên dễ hiểukhi họ có xu hướng gây hấn hay xung đột cao hơn phụ nữ. Lượng kích tố dục namnày tăng lên khi chủ thể rơi vào căng thẳng (khi đó cơ thể tiết thêm chất cortisol).Tuy nhiên theo cách nhìn của các nhà tâm lý học xã hội, lượng testosteronekhông chiếm vai trò quyết định duy nhất trong các hành vi gây hấn, mà nguyênnhân còn bắt nguồn từ địa vị xã hội, từ mức độ được giáo dục của mỗi cá nhân.Hành vi gây hấn không chỉ tàn phá người hay vật khác, mà đôi khi xung năng xâmkích còn chuyển hướng vào chính bản thân mình, gây ra những hiện tượng tự gâyhại cho bản thân mình.Nhìn toàn diện, hành vi gây hấn không đơn thuần là người đó là “anh ta” hay“chị ta”, không chỉ là sự phóng xuất hormones, mà còn là vấn đề giáo dục, vềkhuôn mẫu, về vai trò xã hội của mỗi tồn tại cá thể.Chương IICác quan điểm tiếp cận về hành vi gây hấnGây hấn là một hiện tượng xã hội diễn ra ở khắp mọi nơi, mọi nền văn hóa và cóở tất cả mọi người. Đây cũng là một chủ để được quan tâm nghiên cứu nhiều nhấttrong tâm lý học xã hội. Để làm sáng tỏ loại hành vi có xu hướng tấn công ngườikhác hay tự xâm hại bản thân, chương này sẽ xem xét cách chúng ta hiểu như thếnào về gây hấn. Qua đó phân tích các quan điểm nhìn nhận khác nhau về gây hấn ởcon người.Một số các thực nghiệm về hành vi gây hấn và các kết quả điều tra củachúng tôi về mức độ hiểu biết của học sinh phổ thông trung học đối với hành vigây hấn cũng như những bài báo trên mạng về nguồn gốc của hành vi gây hấncũng được phân tích và giới thiệu trong chương này.I.Bản chất của hành vi gây hấn:1. Xung quanh khái niệm gây hấn:Từ những thập niên 60 của thế kỷ XX, các nhà Tâm lý học xã hội đã tranh cãi gaygắt về bản chất của gây hấn, nhưng cùng đồng thuận rằng gây hấn là một khái niệmkhó nắm bắt một cách chính xác nhất. Dù có nhiều quan điểm, nhưng các nhà tâmlý học xã hội đều thống nhất một cách hiểu về khái niệm hành vi gây hấn như làcách cư xử có chủ ý, gây tổn thương cho người khác, nhờ đó quá trình nghiên cứuphân tích và đưa ra các giải pháp được dễ dàng và cụ thể hơn, giảm thiểu các hiệuquả tiêu cực do hành vi gây hấn mang lại.Về mặt thuật ngữ, danh từ tiếng Anh “Aggression” có thể được dịch sang nhiềutừ tiếng Việt tương đương, linh hoạt tùy theo tình cảnh cụ thể nhằm chuyển tải sátnghĩa nhất. Aggression có thể hiểu là: xâm kích; gây hấn; hung tính; gây sự; hànhvi lấn át…hoặc có thể hiểu theo cách là những người có chung kiểu khí chất mạnhmẽ, sôi nổi, quyết đoán..còn việc có thuộc gây hấn hay không lại phụ thuộc vàocách thức và đối tượng mà chủ thể xuất tâm những năng lực hay phẩm chất củamình vào. Những người có xu hướng gây hấn thường do trạng thái tâm lý gây ra dễcó vẻ “bốc đồng”.Có thể chốt lại khái niệm gây hấn bằng một định nghĩa được nhiều nhà tâm lýhọc sử dụng: Gây hấn được hiểu là hành vi có chủ ý, có ý thức nhằm gây tổn hạihoặc gây thương tích cho người, vật, cho dù mục đích có đạt được hay không.Để tránh sa vào từ ngữ rắc rối khi xác định khái niệm, chúng tôi cho rằng phạmtrù “đạo đức” cần đặt ra ngoài khi phân tích theo góc nhìn khoa học về khái niệmgây hấn. Định nghĩa về gây hấn cần được làm sáng tỏ qua hai tiêu chí cơ bản sau:- Hành vi có cố ý, chủ thể có ý thức không?- Mục đích nhắm tới của hành vi có gây hại, hay gây thù hận cho người kháckhông?2. Các biểu hiện gây hấn:Hành vi gây hấn có thể gây tổn hại về mặt vật chất hoặc tinh thần, với những “vũkhí” cụ thể theo nghĩa đen hoặc nghĩa bóng là những thái độ, ngôn từ…gây tổnthương tới người khác.Các biểu hiện gây hấn tinh thần thường được chỉ ra ở những hành động như chửimắng, nói xấu, lăng mạ, la hét dọa nạt, chơi khăm, tạo áp lực, xúc phạm hay hạthấp người khác trước mặt mọi người, phớt lờ, từ chối, ủng hộ chiến tranh…đếnviệc lạm dụng tình dục, khủng bố hay tạo không khí căng thẳng, gây lo sợ cho đốitượng. Ngoài ra còn là sự xúi giục hay cưỡng ép người khác thực hiện những hànhvi không phù hợp, ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường về mặt cảm xúc của họ.Trong khi đó, gây hấn thể chất thường thể hiện ở những hành vi sử dụng sứcmạnh cơ bắp hoặc công cụ. Hành vi biểu hiện như là tát, đấm, xô đẩy..hay nhữnghành vi dùng công cụ như roi, gậy, súng…ở mức cao hơn đó là những hành độnggây chiến tranh giữa các quốc gia với nhau.Gây hấn cũng được coi như một xu hướng tính cách của con người, còn gọi là tínhhiếu chiến. Theo Freud lý giải về gây hấn như một xung năng bên trong cơ thể, khinguồn xung năng này kích thích nó sẽ “trào” ra bên ngoài, phóng thích vào một đốitượng nào đó và sau đó tạo nên một cảm giác khoan khoái, nhẹ nhàng hơn cho chủthể của hành vi gây hấn. Vì vậy, gây hấn thường được nhấn mạnh đến ý đồ củamục đích nằm phía sau hành vi.3. Phân loại hành vi gây hấn:Các nhà tâm lý học chia tính chất gây hấn ở con người thành hai kiểu: gây hấnthù địch (hostile aggression) và gây hấn phương tiện (Instrunmental aggression).Ở con người, gây hấn thù địch xuất phát từ sự giận dữ hay căng thẳng nội tại,hành vi gây hấn được thực hiện nhằm thỏa mãn hay giải tỏa cơn giận, sự căngthẳng, mục đích có thể nhắm vào ai đó, vật nào đó hay đôi khi chuyển ngược vàochính bản thân mình.Còn đối với gây hấn phương tiện, hành vi gây hấn chỉ mang ý nghĩa như mộtphương tiện, một công cụ nhằm đạt được những mục đích khác mà không phải làsự giải tỏa trực tiếp những giận dữ hay căng thẳng nội tại như trên.Trong nhiều nền văn hóa, nam giới có nhiều khả năng thể hiện sự gây hấn trựctiếp, đặc biệt là bạo lực thể chất. Trong khi đó phụ nữ có nhiều khả năng thể hiệnsự gây hấn gián tiếp, hoặc gây hấn phi bạo lực như là qua lời nói, qua kiểu bắn tin,nói xấu sau lưng…Gây hấn không đồng nhất với bạo lực. Trong khi bạo lực thường được nhắc tớinhư là những hoạt động thiên về thể chất như “thượng cảng chân, hạ cẳng tay”, hayám chỉ cách ứng xử, những hành động mang tính phi pháp, thù địch mang sắc tháitiêu cực; thì gây hấn mang trường nghĩa rộng hơn: có thể mang tính bạo lực hoặccũng có thể không mang sắc thái thù địch trong hành vi gây hấn, khi đó hành vigây hấn chỉ là công cụ giúp chủ thể của hành vi nhận được một kết quả khác khithực hiện hành vi gây hấn đó. Hành vi bạo lực thường được xem xét ở mức độ hậuquả đã gây ra, nếu chưa gây hậu quả “đáng tiếc” thì chưa gọi là hành vi baoh\j lực;còn hành vi gây hấn lại được chú ý tới nhiều hơn ở mặt bản chất của hành động, kểcả khi chưa gây ra hậu quả đáng tiếc hay tổn hại nào thì cũng vấn được xem là cóbiểu hiện của hành vi gây hấn.II. Các quan điểm tiếp cận về gây hấn:Nhân tính con người là một chủ đề được bàn luận từ xưa tới nay, từ phươngĐông cho tới phương Tây, trong nhiều ngành học khác nhau: triết học, tâm lý học,xã hội học…Ở phương Đông thì có quan niệm về “nhân chi sơ tính bản thiện”: tức bản tínhnguyên sơ của con người vốn thiện lương, sự tập nhiễm xã hội dần mang lại nhữngdữ dằn, hung bạo…Ngược lại, Tuân Tử lại cho rằng “nhân tính bản ác”, rằng connguời vốn có bản tính ác từ khi mới sinh nên cần phải dùng Pháp trị để giáo hóa.Phương Tây cũng đề cập tới chủ đề này, qua các tác phâm hoặc quan điểm củacác nhà triết học như Thomas Hobbes; Jean Jacques Rousseau…của nhà tâm lýhọc Sigmund Freud; của Konrad Lorenz…Tựu chung lại, khi đi phân tích nguyên nhân của hành vi gây hấn, các nhà tâm lýhọc xã hội đặt ra các câu hỏi xung quanh nguồn gốc của nó: Liệu hành vi gây hấnlà do bẩm sinh hay do học hỏi từ xã hội mà có? Hành vi gây hấn có nguồn gốc từnhững căng thẳng tâm lý nội tại hay do bên ngoài? Khuynh hướng chung khi điphân tích vấn đề này hiện nay tập trung vào các quan điểm: Nguồn gốc sinh họccủa hành vi gây hấn; nguồn gốc tâm lý và sự tập nhiễm xã hội của hành vi gây hấn.1.Thuyết bản năng về gây hấn:Gây hấn có nguồn gốc là bẩm sinh? Quan điểm tự nhiên về hành vi gây hấn đượcDarwin đưa ra trong thuyết tiến hóa của loài người, căn cứ trên nguyên lý chọn lọctự nhiên. Đấu tranh sinh tồn theo sự chọn lọc tự nhiên sẽ theo xu hướng kẻ mạnhlấn át kẻ yếu, khi xảy ra các tình trạng đói khát, khan hiếm thức ăn.Thuyết bản năng của Sigmund Freud (1920) và Konrad Lorenz đã xem gây hấnnhư là một bản năng bẩm sinh của con người. S. Freud cho rằng con người bị thúcđẩy bởi hai bản năng chính yếu nhất: bản năng chết (Thanatos) và bản năng sống(Eros). Với bản năng sống, cá nhân có những nhu cầu cần thiết cho hoạt động sốngcủa mình như ăn uống, tình dục, được bảo vệ, được yêu thương…con người sẽ tìmcác cách thức khác nhau nhằm thỏa mãn những ham muốn này, sẽ có xu hướnggây hấn một khi những nhu cầu này bị cản trở thỏa mãn, bị đe dọa…; ngược lại,với bản năng chết được xem như khát vọng vô thức mong muốn thoát ra khỏinhững lo lắng, thất vọng, căng thẳng của cuộc sống đem lại, của nội giới phátra…để đi tới sự chấm dứt cuộc sống, khi đó cá nhân sẽ được giải thoát, bản năngnày trước hết hướng vào sự tự hủy hoại bản thân, sau đó là hướng tới, phóng chiếura những đối tượng khác.2. Thuyết động lực về gây hấn:Các thuyết động lực (drive theories) quan tâm đến động cơ gây tổn hại cho ngườikhác nhấn mạnh rằng nguồn gốc của gây hấn không phải do bản năng sống, do genhay do đặc điểm giải phẫu cơ thể quy định. Thuyết này loại bỏ cái nhìn thuần túyvề bản năng gây hấn mà Freud và Lorenz đưa ra. Theo họ, gây hấn bắt nguồn từ sựđáp ứng lại với hẫng hụt và đau đớn, bắt nguồn từ động cơ chống đối. Tiếp cận gâyhấn từ thất vọng được nghiên cứu khá nhiều trong tâm lý học lâm sàng.Thất vọng được định nghĩa như là sự cản trở hay ngăn chặn một số hành vi địnhhướng đến mục tiêu. Khi điều ta mong muốn sắp trở thành hiện thực mà bị ngăntrở thì sẽ dẫn tới động cơ gây hấn do thất vọng gây ra.Các lý thuyết về động lực quan niệm nguồn gốc gây ra gây hấn là từ bên ngoàivào, tạo nên những thất vọng hoặc sự chống đối lại ngoại lực đó.3. Thuyết hành vi về gây hấn:Đại diện cho trường phái tâm lý học hành vi cổ điển là J. B. Watson, Thorndikevà Skinner. Thuyết này nghiên cứu hành vi bên ngoài mà bỏ qua việc khám phánhững hiện tượng tâm lý bên trong như cảm xúc, ý thức..Công thức nổi tiếng củathuyết hành vi là khi có kích thích từ môi trường bên ngoài sẽ có phản ứng của cơthể:S - R4. Thuyết học tập xã hội về gây hấn:Các lý thuyết hiện đại theo quan điểm của tâm lý học xã hội về gây hấn đượcAnderson & Bushman (2002); Berkowitz (1993)…chỉ ra mô hình gây hấn chúngvà muộn hơn là thuyết học tập xã hội của Bandura (1997). Các thuyết này khôngtập trung vào một nhân tố riêng lẻ (bản năng, động lực, sự chống đối) như lànguyên nhân của gây hấn.III. Nhận thức của học sinh về nguồn gốc của hành vi gây hấn – Những nghiên cứutừ thực tiễn:Nhằm tìm hiểu nhận thức của học sinh về các biểu hiện của hành vi gây hấn,chúng tôi đã đưa ra một bộ câu hỏi bao gồm 23 câu của BenJamin (1985), yêu cầu771 học sinh PTTH ở 3 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình lựa chọnnhững hành vi được coi là gây hấn.1.Nhận thức của học sinh về hành vi gây hấn thể chất:1.1. Gây hấn làm tổn hại về thể chất có nguồn gốc bản năng, tự vệ.1.2. Gây hấn làm tổn hại về thể chất có nguồn gốc từ sự giận dữ, thất vọng.1.3. Gây hấn làm tổn hại về thể chất có nguồn gốc từ sự quan sát, học hỏi.2. Nhận thức của học sinh về hành vi gây hấn tinh thần:3. Nhận thức của học sinh về những hành vi không phải là hành vi gây hấn:IV. Một số câu chuyện gây hấn đăng tải qua mạng:1.Các biểu hiện gây hấn do hậu quả của rượu và tức giận.2. Nỗi khổ khi yêu phải…Trương Phi.3. Gây hấn do ghen tuông.4. Thất vọng – gây hấn.1Chương III.Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gây hấnChương này tập trung phân tích ảnh hưởng của các yếu tố sinh học xã hội đếnhành vi gây hấn của con người, trong đó chỉ ra hoạt động của vùng hưng phấnkhiến cho hành vi của con người trở nên hung hãn, cũng như sự biến thể của genMAOA gây ra xu hướng thích bạo lực ở một số người. Lượng một số loại hormonetrong máu, điều kiện sống, nhiệt độ hay tình huống bị sỉ nhục, mất mặt…cũng lànhững nguyên nhân dẫn tới hành vi gây hấn. Ngoià ra chương này còn đề cập tớinhững yếu tố ảnh hưởng từ văn hóa xã hội (ví dụ như game bạo lực, văn hóa phẩmkhiêu dâm…).I. Ảnh hưởng của các yếu tố sinh học xã hội đến hành vi gây hấn:1. Ảnh hưởng của hệ thần kinh.Các nhà khoa học nghiên cứu về cấu trúc và cơ chế hoạt động cảu hệ thần kinhngười đã chỉ ra trung khu điều phối các xúc cảm gây hấn, đó là vùng hạch hạnhnhân (Amygdala), khi vùng này bị kích thích làm cho hưng phấn hoặc ức chế,những hành vi hay thái độ mang tính gây hấn xuất hiện nằm ngoài ý thức chủ quancủa chủ thể. Một số khác biệt khác của cấu trúc não cũng có khả năng gây rakhuynh hướng gây hấn. Tính cách riêng nhất của mỗi cá nhân còn chịu sự chi phốicủa hệ thần kinh, đặc biệt là hệ thần kinh giao cảm.2. Ảnh hưởng của gen.Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ rằng hành vi bạo lực của con người chịu sự điềukhiển của một gen (hoặc nhóm gen nào đó). Những người mang gen này có xuhướng dễ bùng phát hành vi bạo lực hơn người khác khi bị kích thích. Tuy nhiêncác nhà khoa học chưa xác định chính xác được loại gen nào. Trong nghiên cứucủa các nhà khoa học thuộc Đại học Florida đã chỉ ra rằng những người ưa thíchbạo lực đều sở hữu một biến thể của gen MAOA, gen này làm tăng hoặc giảmnồng độ của nhiều chất dẫn truyền thần kinh như dopamine hay serotonin, dẫn tớisự thay đổi tâm trạng và hành vi.3. Ảnh hưởng của hormone.2Một loại hormone là Serotonin có thể gây cảm giác vui vẻ, phấn chấn nhưngngưn chặn những hành vi có xu hướng xâm kích. Nghiên cứu chỉ ra cho thấy lượngchất hormone này ở những tên tội phạm thường thấp. Ngược lại những nghiên cứutrên nhóm trẻ 15 – 17 ở Thụy Điển, các nhà khoa học đã chỉ ra mối liên hệ giữanồng độ của kích tố dục nam testosterone với xu hướng hung tính, hormone này tácđộng tới khả năng hoạt động, cảm giác hưng phấn cao độ hoặc xâm kích.4. Ảnh hưởng của khí chất.Khí chất mỗi người được hình thành từ tuổi ấu thơ và tônf tại tương đối vữngchắc. Những người có hệ thần kinh không cân bằng, trong đó hưng phấn mạnh hơnức chế - kiểu khí chất hướng ngoại, sẽ dễ phát triển các hành vi mạnh mẽ hơnnhững trẻ có kiểu khí chất hướng nội. Sự xung đột giữa khí chất của trẻ và bố mẹđôi khi là nền tảng cho hung tính nghiêm trọng và kéo dài.II. Những ảnh hưởng của điều kiện sống xã hội và tâm lý tới gây hấn:1.Ảnh hưởng của điều kiện sống.1.1. Gây hấn do ảnh hưởng của sức nóng.Những cụm từ như: nóng giận, nóng bừng bừng, điên sôi máu…cho thấy có thểcó mối liên hệ giữa nhiệt độ và gây hấn của con người, Trong thực tế, nhiều ngườicho biết họ thường cảm thấy cáu kỉnh vào những ngày nóng và có độ ẩm cao.Quan sát trên loài vật cho thấy khi thời tiết quá nóng chúng thường cảm thấy khóchịu, chúng có xu hướng tấn công các loài vật khác hoặc bất kỳ đồ vật nào trongtầm mắt. Tương tự như vậy, với các dạng khó chịu khác mà cơ thể con người phảichịu đựng, như nóng nực, ẩm ướt, không khí ô nhiễm, mùi khó chịu…có thể làmgia tăng tính gây hấn của con người.…Như vậy, trời càng nóng hoặc quá lạnh khiến con người cảm giác khó chịu thì tỷlệ gây gổ, cãi vã, bạo lực càng tăng. Nếu sự khó chịu này kéo dài khiến hành vi gâyhấn thường xuyên được củng cố, nó sẽ làm cho hành động của họ có xu hướng tấncông nhiều hơn và sẽ trở thành một nét tính cách trong con người họ. Và, cáchhành xử này sẽ được áp dụng mọi lúc mọi nơi, kể cả khi họ không còn sự khó chịunữa.31.2. Ảnh hưởng của các chất kích thích.Các bà mẹ thường xuyên dùng rượu hoặc sử dụng ma túy trong lúc mang thai sẽthúc đẩy những trận cãi vã, gây hấn thường xuyên.Quan sát đời sống xung quanh có thể nhận thấy rằng rượu và các chất kích thíchcó ảnh hưởng rất lớn đến hành vi hung tính của con người.2. Ảnh hưởng của kinh tế xã hội.Các giai đoạn thoái trào kinh tế dẫn đến đói nghèo cũng dẫn đến sự gây hấn.3. Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý.3.1. Nhận thức và xúc cảm liên quan đến hành vi gây hấn.Ở loài người, sự xuất hiện của hình thức tư duy trí tuệ tạo ra nhiều hình thái tấncông đa dạng liên quan đến gây hấn, đặc biệt là hình thức gây hấn tinh thần.3.2. Gây hấn do bị sỉ nhục, bị tấn công.Bị tấn công hoặc bị sỉ nhục bởi người khác là một con đường đặc biệt dẫn tới gâyhấn…Có thể nói, việc bị tấn công hay bị lăng mạ luôn mang đến những ảnh hưởngtiêu cực và sự báo thù với lý do khiêu khích luôn là nguồn gốc chủ yếu của hành vihiếu chiến.3.3. Gây hấn do đau đớn và khó chịu.Sự đau đớn và khó chịu cũng có tác động kích thích nâng cao trạng thái gâyhấn…Nếu sự khó chịu này kéo dài, hành vi gây hấn thường xuyên được củng cố,nó trở thành một nét nhân cách của con người.3.4. Sự hiếu chiến và chống đối.Thuyết động lực gây hấn (Dollard và cộng sự, 1939) khẳng định rằng sự chốngđối luôn dẫn đến một vài kiểu gây hấn và gây hấn luôn luôn bắt nguồn từ chốngđối.3.5. Sự khiêu khích trực tiếp.4Quan sát thực tế cho thấy những khiêu khích bằng ngôn ngữ và hành vi bạo lựctừ người khác là một trong những nguyên nhân chủ yếu nhất dẫn đến gây hấn.III. Ảnh hưởng của phương tiện truyền thông đến gây hấn.Ở Việt Nam, hành vi gây hấn ở tuổi vị thành niên đã được “báo động đỏ” trêncác báo in và báo mạng. Điều này khiến chúng ta tự hỏi vì sao các phương tiệntruyền thông như radio, sách báo, tranh khiêu dâm, tivi, phim ảnh, đặc biệt làgames trực tuyến lại khiến bạo lực mọc lên như nấm.1.Sách báo, tranh ảnh khiêu dâm và hành vi gây hấn.Việc thưỡng xuyên xem các sách báo, tranh ảnh khiêu dâm liên quan đến bạo lựcliệu có làm “chai sạn” nhận thức và cảm xúc của người xem?2. Ti vi với hình ảnh bạo lực.Một nghiên cứu của Huston và cộng sự (1992) cho thấy kết thúc tiểu học, tínhtrung bình ở Mỹ trẻ em xem khoảng 8000 chương trình ti vi liên quan đến giếtngười và 100.000 chương trình có bạo lực.3. Video game và gây hấn.Không chỉ xem tivi có ảnh hưởng đến tính cách hay mức độ hài lòng về cuộcsống của người xem, mà các trò chơi điện tử cũng ảnh hưởng…4. Vũ khí thúc đẩy gây hấn.…Hành vi gây hấn bị kích thích bởi tính hung hăng và nó sẽ tăng lên khi có nhữngyếu tố kích động hoặc lời kích bác của ai đó trong cơn tức giận…Bị người khác tấncông cũng là một yếu tố kích động gây hấn…IV. Một số thực nghiệm về gây hấn.1.Phim khiêu dâm và bạo lực đối với phụ nữ.Do Neil Malamuth, Edward, Donnerstein (1981) thực hiện.Bình luận: Xem phim khiêu dâm bạo lực đối với phụ nữ tạo ra xu hướng tậptrung mọi thù hận vào đối tượng là phụ nữ.52. Xem ti vi bạo lực và hành động bạo lực của người xem.Tác giả: Leyens và cộng sự.Kết quả thực nghiệm tại hiện trường ở Bỉ cũng tương đồng với kết quả nghiêncứu trong phòng thí nghiệm của Liebert và Baron. Điều này khẳng định rằng việcxem những chương trình truyền thông đại chúng có tính chất bạo lực thật sự xúibẩy ứng xử bạo lực.3. Phản ứng chủ quan của cơ thể khi bị kích thích.Tác giả: Russel Geen và các đồng sự (1972).Thực nghiệm cho thấy, việc đọc sách khiêu dâm và gây giật điện đối với cácnghiệm thể đều tạo nên những kích thích cơ thể như nhau.4. Đau đớn về thể chất kích thích sự gây hấn.Tác giả: Leonard Berkowitz và các cộng sự (1978, 1983), đại học Wisconsin,Mỹ.Những người ngâm tay trong nước lạnh nói rằng họ cảm thấy dễ bực tức và cáugiận hơn và họ sẽ dễ dàng sỉ vả ai đó với những lời lẽ khó ưa.5. Tiếp xúc với khiêu dâm và xu hướng hành xử khiêu dâm.Tác giả: Dolf Zillmann và Jennings Bryant (1984).Những người xem sáu phim khiêu dâm một tuần đã nhanh chóng nhất trí đưa racác quan điểm về nhu cẩu tình dục và mức án đưa ra chỉ bằng một nửa thời gian sovới người khác.V. Một số câu chuyện games bạo lực đăng tải qua mạng.1. Chết vì chơi điện tử 12 tiếng liên tục.Theo thông tin của cơ quan y tế ở thành phố Ekaterinburg (Nga), bi kịch xảy rasau khi cậu bé ngồi chơi games suốt 12 tiếng. Các bác sĩ kết luận, trò chơi điện tửlà nguyên nhân làm phát triển các bệnh về não bộ, từ đó dẫn tới đột quỵ.2. Ngăn chặn game bạo lực đang đầu độc giới trẻ.63. Những hệ lụy từ game bạo lực.4. Trẻ em và game bạo lực.5. Bạo lực trò chơi ngoài đời.6. Sex và bạo lực đang đầu độc con trẻ.Chương IVGây hấn học đườngGây hấn học đường hiện nay đang là một vấn nạn mang tính toàn cầu.Thuật ngữ gây hấn học đường là một thuật ngữ chung nhất, ngoài ranhững hành vi gây hấn trong môi trường học đường còn có thể được gọibằng những thuật ngữ khác cụ thể hơn trong từng tình huống, như bắt nạthọc đường chỉ hiện tượng học sinh lớn đe doạ học sinh yếu hơn; trừngphạt học đường khi đề cập tới mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh;xâm hại học đường dùng nói tới tình huống các đối tượng học sinh nhỏtuổi bị người lớn xâm hại.Trong chương này, ngoài những con số thống kê về tình hình gây hấnhọc đường trên thế giới và ở Việt Nam, chúng tôi tập trung phân tích thựctrạng gây hấn học đường ở Việt Nam. Những số liệu trình bày trongchương này được phân tích từ kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học củachúng tôi dưới sự tài trợ của Trung tâm hỗ trợ nghiên cứu châu Á và quỹGiáo dục cao học Hàn Quốc, ĐHQGHN (2008-2010). Phần cuối chươngđiểm qua một số bài báo trên Internet phản ánh về tình trạng gây hấn họcđường hiện nay ở Việt Nam.I.Cái nhìn bao quát về thực trạng gây hấn học đường trên thế giới.Mặc dù hầu hết các trường học trên thế giới bằng cách này hay cáchkhác đều có những quy định cấm trừng phạt học sinh, tuy nhiên, tìnhtrạng gây hấn học đường vẫn không ngừng gia tăng và đạt đến mức báođộng cấp quốc gia. Ở Nhật Bản, báo cáo của chính phủ cho thấy tình hìnhbắt nạt hiện rất phổ biến trong trường học mà hầu hết học sinh từng trảiqua – hoặc là nạn nhân hoặc là thủ phạm. Báo cáo cho biết tình trạng bắtnạt xảy ra hầu hết ở mọi học sinh bất kể thành phần gia đình xuất thân vàđặc trưng cá nhân.Ở Châu Âu, vấn đề ngăn chặn bạo lực học đường được quan tâm từ rấtsớm. Hiện tượng bắt nạt học đường xảy ra thường xuyên ở trường tiểuhọc.Ở Vương quốc Anh, một cuộc điều tra Chính phủ trong năm 1989 thấyrằng cứ 2/100 giáo viên đã có báo cáo về việc phải đối mặt với gây hấnthể chất…Trung bình một ngày các trường học ở Anh xảy ra khoảng 40vụ gây gổ buộc cảnh sát phải can thiệp.Ở Đức, từ sau vụ tấn công ở thành phố Erfurt năm 2002, độ tuổi đượcphép sử dụng súng cho các mục đích giải trí, thể thao…tăng thêm 3 nămnữa, lên mức 21 tuổi. Các nhà sản xuất trò chơi máy tính cũng được yêucầu giới hạn các nhóm tuổi cho mỗi trò chơi.…Các chuyên gia tâm lý của Đức cho rằng, nguyên nhân là các em bị ứcchế tâm lý do sức ép phải đạt kết quả cao trong học tập và phải tham giamột khối lượng lớn các hoạt động ngoại khóa.Những nghiên cứu gần đây ở Mỹ cho thấy cứ 7 phút lại có một trẻ embị bắt nạt. Cứ 4 trẻ lại có một trẻ thừa nhận đã bị bắt nạt. và cứ 5 trẻ, cómột trẻ thừa nhận đã từng bắt nạt những trẻ khác.Những tranh cãi xung quanh chủ đề trừng phạt trẻ em ở trường học luônmang tính quốc tế. Ở Thụy Điển, người ta đã tranh luận một cách rộng rãivà sôi nổi về dự thảo luật cấm đánh đập trẻ em và nghiêm cấm cha mẹlăng mạ hoặc ngược đãi dẫn đến mức trẻ rối loạn tinh thần. Trong khi đó,ở Hoa Kỳ, hiện nay mới chỉ có 8 bang ban hành luật tuyệt đối cấm trừngphạt thân thể trong trường học.II. Thực trạng gây hấn học đường ở Việt Nam.1.Hiện tượng bắt nạt trong trường học.Hiện tượng gây hấn học đường thường được nhìn nhận theo nghĩa bắtnạt học đường – một hình thức của gây hấn hay bạo lực ở trường học. Bắtnạt thể hiện ở 3 dạng hành vi lạm dụng, đó là: lạm dụng tâm lý, lạm dụngthể chất và lạm dụng lời nói. Trong bắt nạt, tính chất cưỡng chế, gây áplực thể hiện qua các đặc điểm tâm lý sau:1. Người có hành vi bắt nạt cố ý gây hại cho người bi bắt nạt.2. Hành vi bắt nạt được lặp đi lặp lại, vì thế thường làm cho nạn nhâncăng thẳng, lo âu, dẫn đến rối loạn tâm lý hoặc tự hủy hoại bản thân,hoặc trở thành kẻ gây hấn người khác.3. Mối quan hệ giữa kẻ bắt nạt và người bị bắt nạt thể hiện ở sự chênhlệch về quyền lực. Trong đó, người bị bắt nạt thường khó có khảnăng tự vệ.2. Nghiên cứu về gây hấn học đường ở Việt Nam.Hiện nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu về hành vi gây hấn của thanhthiếu niên nói chung và trong môi trường học đường, mặc dù tình trạngbạo lực, gây hấn trong trường học giữa học sinh và học sinh với thầy côgiáo đã được báo chí phản ánh khá nhiều…Vì vậy gây hấn học đường vẫncòn đó.2.1. Chân dung bao quát về kẻ gây hấn và nạn nhân.Trong nghiên cứu của chung tôi, như đã nhắc tới ở chương II, cho thấyhiện tượng gây hấn học đường luôn bao gồm tối thiểu hai đối tượng cơbản, đó là: người gây hấn (thủ phạm) và nạn nhân (người bị gây hấn,người bị bắt nạt).Nạn nhân của bắt nạt học đường thường là một học sinh có xu hướngsống khép mình. Các em có ít bạn bè nên dễ trở thành nạn nhân của nạnbạo lực học đường…Tuy mô hình các thành phần tham gia khá phức tạp ,nhưng chủ yếu có hai nhóm đối tượng chính tham gia vào hành vi gâyhấn là thủ phạm – người đi gây hấn, và nạn nhân – người bị gây hấn. cảhai nhóm đối tượng này đều có những khó khăn tâm lý cần được giúp đỡnhiều nhất.Tại một số trường, các đại ca còn thành lập thành băng nhóm, trong cặpsách, ba lô còn thủ sẵn hung khí như dao, mã tấu, côn, kiếm, ống nước…“Học sinh bây giờ về nhà đồ đạc lấm lem, bố mẹ hỏi thì nói đánh nhau.Trong mắt học sinh bây giờ đánh nhau giống như một môn ngoại khóachả có gì sợ mà che giấu gia đình. Cứ mỗi lần đi học bên cạnh việc soạnbài còn soạn thêm một khúc sắt để có cái mà đi đánh nhau. Trường nàocũng có những chuyện như thế cả.”Kẻ bắt nạt (và cả kẻ bị bắt nạt – nạn nhân) có xu hướng ít quý trọng bảnthân mình hơn người khác. Kết quả là họ thường có hành vi gây hấn đểxây dựng hình ảnh bản thân…Cuối cùng kẻ bắt nạt và cả kẻ bị bắt nạt tinrằng cách tốt nhất để đáp trả lại bắt nạt là gây hấn; Vì nghĩ rằng gây hấnvới người khiêu khích mình sẽ lấy được sự tôn trọng của người khác vànhư thế họ cảm thấy tốt hơn (Ireland & Archer, 2002).2.2. Đặc điểm tâm lý xã hội của học sinh thực hiện bắt nạt.Người có tính cách bắt nạt thường là người độc đoán…Trong nghiêncứu của chúng tôi, giáo viên chủ nhiệm cho biết những điểm chung trongtính cách của các em học sinh hay gây hấn là thích được khẳng định bảnthân, thích mình trở nên nổi bật…Về tính cách, các em thường đua đòi,chạy theo vật chất, thích làm người lớn, thích học tập những nhân vật anhhùng trong phim hành động. Các em cũng là những đứa trẻ có đặc tínhbốc đồng, thống trị, thiếu sự cảm thông, muốn trở thành trung tâm gây sựchú ý, có những thái độ không lành mạnh về bạo lực.2.3. Đặc điểm tâm lý – xã hội của học sinh bị gây hấn.Thông thường những em là nạn nhân của tình trạng gây hấn trongtrường học là những em yếu đuối về thể chất, rụt rè, nhút nhát, không cókỹ năng giao tiếp hay kết bạn nên ít bạn bè…Địa điểm nơi các hành vi gây hấn học đường có thể là những nơi trongtrường học: sân trường, toilet, phòng thể dục…hoặc cũng có thể là nhữngđịa điểm ngoài trường học như cổng trường, để tránh bị nhà trường kỷluật.…Nói xấu là một hình thức gây hấn mà các em học sinh thường gặpnhiều nhất vưois tỷ lệ 78.1 % học sinh thường xuyên bị bạn nói xấu saulưng hoặc dựng chuyện.Với sự phát triển của công nghệ viễn thông, nạn “khủng bố” qua điệnthoại di động và Internet cũng gia tăng. Tại Mỹ, nghiên cứu của Hội đồngphòng chống tội phạm quốc gia (NCPC) khẳng định 43 % học sinh cảnam lẫn nữ thuộc độ tuổi từ 13 – 17 tuổi từng bị dọa nạt hoặc chế giễutrên Internet.2.4. Khác biệt giới trong hành vi gây hấn.Qua những phỏng vấn đã thực hiện, giáo viên và học sinh cho biết tìnhtrạng học sinh nữ gây hấn, sử dụng bạo lực giờ không còn là hiện tượnghiếm trong các trường phổ thông. Nữ sinh được nhận xét là cũng quậyphá, ghê gớm như nam sinh.Khác với học sinh nam, học sinh nữ thường không sử dụng phương tiệnnào khi đánh nhau, nhưng các em có hành vi nhục mạ hoặc túm tóc, càocấu, xé áo đối phương…Những hành vi trên có thể ít gây hại về mặt thểchất nhưng lại gây nên những tổn thương về tâm lý, tinh thần…3. Hậu quả của hành vi gây hấn đối với học sinh.3.1. Những tổn thương về sức khoẻ, thể chất.Qua nhiều công trình nghiên cứu, các nhà khoa học thuộc trường Y tếCộng đồng Harvard (Mỹ) đã đưa ra kết luận rằng những người có tínhcách hay gây hấn và cả nạn nhân của tình trạng bị gây hấn thường phảitrải nghiệm những cảm xúc âm tính như: giận dữ, thù địch..những cảmxúc tiêu cực này sẽ đẩy con người vào nguy cơ cao mắc chứng tim mạchvà làm giảm tính hiệu quả của hệ miễn dịch trong cơ thể. Sự tức giậnđược cơ thể “hormone hóa” qua việc tiết ra một lượng lớn cortisol,adrenalin vào máu..gây mệt mỏi, căng thẳng, kiệt quệ…3.2.Những tổn thương về tâm lý.Với những em đi gây hấn, một số nhận ra lỗi lầm của mình, ý thức đượcvề hậu quả mình gây ra, các em cảm thấy xấu hổ với thầy cô, bạn bè, ngạingùng tham gia vào hoạt động tập thể; hành vi gây hấn của các em cũnglàm các bạn bè xa lánh, không muốn chơi cùng. Cá biệt, có những em vẫnkhông ý thức được hậu quả do mình gây ra thì vẫn nhởn nhơ, tiếp tục cóhành vi vi phạm tiếp.Đối với nạn nhân, nếu không được chuẩn bị tinh thần để chống lại kẻhay gây hấn với mình, các em thường dùng các phương án tiêu cực nhưbỏ học, giả vờ ốm, điểm số học tập sút kém và sống thu mình.3.3. Ngăn chặn nạn gây hấn học đường.G.K.Chesterton nói về gây hấn cho rằng: Vấn đề không phải là chúng takhông thể tìm ra giải pháp mà ở chỗ chúng ta không nhìn ra bản chất củasự việc.Đối với tệ bắt nạt học đường, có những nguyên nhân mang tính gốc rễxã hội và để loại trừ hoàn toàn tệ nạn này trong trường học là rất khó.Vấn đề là cần tăng cường mối quan hệ gia đình, cộng đồng, nhà trường vàxã hội trong việc giáo dục ngăn chặn sự manh nha của hành vi bắt nạttrước khi nó gây ra bi kịch.III. Một số câu chuyện bạo lực học đường đăng tải qua mạng.1.Sốc vì video một nhóm học sinh đánh bạn học tới chết.Đoạn video quay bằng điện thoại về cuộc “hành quyết” cậu học sinhdanh dự 16 tuổi D.A., của trường Trung học Fenger, Chicago, Mỹ, đãxuất hiện trên khắp các hãng tin địa phương. Hơn 30 học sinh đã bị giếthại trong năm học vừa qua, và dự tính con số này trong năm nay còntăng…2. Thiện, ác và học làm người có ích.Một trong những lý giải được đưa ra về hiện trạng bạo lực học đường làmột phần do các em học sinh thiếu kỹ năng sống, thiếu năng lực xác đinhgiá trị,..3.Những kiểu “đánh ghen” của học sinh phổ thông.Với một số teen girl “cá tính”, nếu một ai đó “dám” cướp lấy tình yêucủa mình thì các bạn ấy không hè ngần ngại trong chuyện “Đánh tơi bờicon nhỏ đó cho tao, cái tội dám cướp người yêu của chị mày hả?”.Khi phát hiện ra sự việc, những em học sinh này có thể kéo cả nhómbạn đi đánh “hội đồng”, hoặc đánh ghen âm thầm. Có những trường hợpngười bị đánh ghen hoàn toàn vô tội và đôi khi bị chặn đánh mà cònkhông biết tại sao mình bị đánh.4. Nữ sinh đánh nhau trong WC.5. Bạo lực học đường.Bạo lực học đường là chuyện nghiêm trọng và nan giải, nhưng đôi khinảy sinh với những lý do rất bâng quơ, “củ chuối”: Những mà chào đónhọc sinh mới nhập trường như bắt lau sàn, làm vệ sinh chỗ ngồi cho cácđại ca…Xin đểu: hiện tượng các học sinh cá biệt thường chặn đường bắt các“nạn nhân” phải nộp tiền…Tẩy chay, Đánh ghen…6. Một số câu chuyện giáo viên bạo lực với học sinh.7. Bảo mẫu bạt tai, chửi thề, bắt trẻ ăn lại đồ ói.8. Lãnh đạo bàn về vấn đề bạo lực “càn quét” cổng trường học.9. Hạ lương cô giáo đánh 6 học sinh.10. Bàn luận về việc “bó tay” trước nạn bạo lực với học trò.Đã có nhiều bài viết của các tác giả về việc bất lực trước nạn bạo lực vớihọc trò. Theo phó cục trưởng Cục Nhà giáo (Bộ GD – ĐT) Trương ĐìnhMậu thì: không thể nói là các vụ việc bạo lực gần đây mới nở rộ. Do hiệnnay, khi báo chí và các loại hình thông tin mạng phát triển, dân trí đượcnâng lên, nên số vụ bạo lực “được” phát hiện nhiều hơn.Các hình thức xử lý kỷ luật giáo viên vi phạm đạo đức thường khôngđược xử lý theo quy định “cứng” nào mà chủ yếu xử lý theo hình thức“nóng”.Sự lúng túng trong việc giải quyết tình trạng bạo lực học đường là dokhi văn bản, quy định của Bộ ban hành luôn “chậm chân” sau tiêu cực.Liệu đến nay (2010) chúng ta đã có chuẩn mực về sự trừng phạt họcsinh dành cho cả giáo viên và học sinh?Chương V.Bạo lực gia đinh.Một trong những hình thức gây hấn “thân thương nhất, đáng trách nhất” là nạnbạo lực gia đình, trong đó chủ yếu là vợ - chồng đánh chửi nhau, chồng bạo lực vớivợ và cha mẹ con cái hục hặc nhau, cha mẹ gây tổn thương cho con cái. Chươngnày đề cập đến những khía cạnh pháp lý từ các văn bản liên quan đến bạo lực giađình; những quan điểm lý thuyết nhìn nhận về bạo lực gia đình, cũng như nhữngtổn thương tâm lý mà phụ nữ và trẻ em phải chịu đựng do bạo lực gia đình gây ra.Cuối chương giới thiệu về những bài báo mạng nói về thực trạng bạo lực gia đìnhở Việt Nam.I.Những văn bản pháp lý về bạo lực gia đình.Bạo lực gia đình là thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi tấn công, đe dọa thể chấtvà tinh thần của một thành viên đối với các thành viên khác trong cùng một giađình. Hành vi bạo lực thường thấy nhất là giữa vợ và chồng. Bạo lực giữa cha mẹvới con cái, hay ông bà, anh em ruột với nhau, hoặc giữa mẹ chồng nàng dâu…Bạo lực giới không được đề cập một cách chi tiết trong Hiệp định ký kết năm1979 về việc loại trừ các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW –Công ước Liên hiệp quốc chống mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ), dophần lớn các chính phủ coi bạo lực với phụ nữ là vấn đề riêng tư giữa các cá nhântrong gia đình.Hội nghị thế giới về nhân quyền tổ chức ở Vienna (1993) đã công nhận cácquyền của phụ nữ và trẻ em gái là “một phần không thể thiếu của vấn đề nhânquyền nói chung”. Đại hội đồng Liên hợp quốc (tháng 12 năm 1993) đã thông quaTuyên bố về việc loại trừ bạo lực đối với phụ nữ. Tuyên bố này được xem như làvăn kiện quốc tế đầu tiên về nhân quyền để giải quyết một cách hiệu quả nạn bạolực chống lại phụ nữ.Pháp luật Việt Nam (hiến pháp, luật hôn nhân gia đình, luật hình sự…) cũng đãcó những quy định về bảo vệ người phụ nữ. Luật bình đẳng giới đã được Quốc hộithông qua năm 2006. Năm 2007 luật phòng chống bạo lực gia đình cũng đã ra đời,đồng thời nhà nước và chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật, chế tàixử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm đến quyền phụ nữ.II. Các lý thuyết tiếp cận về bạo lực gia đình.1.Tiếp cận sinh học xã hội về bạo lực gia đình.Các nhà sinh học xã hội tìm kiếm câu trả lời cho sự khác biệt về vai trò xã hộigiữa phụ nữ và nam giới từ những nguyên nhân sinh học. Ví dụ như tính hunghăng của đàn ông và chức năng sinh dưỡng ở đàn bà là kết quả của những dị biệt ditruyền (Wilson, 1978).Trong nhiều năm qua, quan điểm sinh học cho rằng chu kỳ kinh nguyệt và lưulượng máu trong thời kỳ kinh nguyệt là nguyên nhân chính gây nên mọi đặc tínhtiêu cực ở nữ giới, từ tính cách nông nổi cho tới bản chất bị coi là tội lỗi, dâm ô(Dolaney, Lupton và Toth, 1988).Cũng từ góc độ sinh học, Sigmund Freud – một đại diện của trường phái Phântâm học công bố rằng giải phẫu của người phụ nữ quyết định số mệnh của họ.Theo ông, đặc điểm sinh học của phụ nữ quyết định tâm lý, năng lực và vai trò củahọ trong xã hội.Trên thực tế, có sự khác biệt sinh học giữa phụ nữ và nam giới, nhưng sự khácbiệt đó không thể là cơ sở cho sự phân biệt đẳng cấp…Vấn đề bạo lực với phụ nữcó liên quan tới nền tảng văn hóa và giáo dục.2.Tiếp cận tâm lý học về bạo lực gia đình.Tiếp cận từ góc độ Tâm lý học nhấn mạnh đến yếu tố động cơ – cảm xúc và yếutố nhận thức trong quá trình hình thành xu hướng bạo lực. Theo đó:Lý thuyết nhận thức nhấn mạnh rằng sự khác nhau về hành vi ứng xử của namgiới và nữ giới tùy thuộc vào cách mỗi người nhận thức về một “hoàn cảnh” cụ thểlà thuận lợi hay bất lợi cho hành vi ứng xử đó diễn ra.Lý thuyết học tập xã hội mà trọng tâm là quá trình xã hội hóa thời thơ ấu đượcnhắc đến như là lý thuyết cơ bản lý giải sự hình thành các bạo lực giới và phân biệtđối xử của mỗi cá nhân… Thuyết học tập xã hội cho rằng cá nhân bắt chước hànhvi bạo lực từ trong gia đình.3. Tiếp cận xã hội học về bạo lực gia đình.Các nhà nghiên cứu xã hội học cho rằng hoàn cảnh xã hội là yếu tố khách quantác động đến việc cá nhaancos hành vi bạo lực đối với các thành viên trong giađình (Loseke, 2005).Lý thuyết căng thẳng xã hội cho rằng những khó khăn trong cuộc sống có thểkhiến cá nhân có hành vi bạo lực đối với người thân trong gia đình.Lý thuyết vai trò được đề cập nhiều nhất khi giải thích về các vấn đề giới. Quanđiểm này nhấn mạnh rằng những hành vi ứng xử của con người chịu ảnh hưởngmạnh mẽ bởi các vai trò xã hội mà họ đóng.Lý thuyết trao đổi xã hội dựa trên nguyên tắc “cùng có lợi” trong mối tương tácgiữa các cá nhân. Đó là việc thực hiện cơ chế cho – nhận, tức là trao đổi mọi thứ“ngang giá” theo kiểu kinh tế học.Lý thuyết nguồn lực giải thích bản chất của bạo lực gia đình từ góc độ nguồn lựccủa con người. Trong đó nguồn lực kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất.4. Tiếp cận văn hóa về bạo lực gia đình.Lý thuyết văn hóa xem xét bạo lực gia đình như một tiểu văn hóa tương tác, ứngxử của một xã hội rộng lớn hơn…Khhi con người có xu hướng thỏa hiệp các hànhvi bạo lực ngoài xã hội thì trong gia đình họ cũng có xu hướng sử dụng bạo lực vớicác thành viên khác.5. Tiếp cận khoa học giới về bạo lực gia đình.Một trong những vấn đề cốt lõi của lý thuyết giới là hệ thống lý luận xoay quanhmột số câu hỏi cơ bản: Nguồn gốc nào tạo nên bạo lực giới? Cơ chế nào đang duytrì hinhfh thức bạo lực giới, cũng như làm thế nào để thu hẹp khoảng cách giới, hayxóa bỏ những bất bình đẳng giới đang tồn tại?III. Một số thống kê về bạo lực gia đình.1.Bạo lực gia đình mang tính toàn cầu.Bản báo cáo toàn cầu đầu tiên về tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ domột nghiên cứu quốc tế (của tổ chức Y tế thế giới, 1998), cho rằng bạo lực gia đìnhlà dạng bạo lực phổ biến nhất đối với phụ nữ, và nó đang tác động tới khoảng 20đến 50 % phụ nữ trên toàn thế giới.Ở nhiều quốc gia, việc đánh đập phụ nữ vẫn được coi là bình thường như mộtphần trong cuộc sống vợ chồng.Một số nghiên cứu về bạo lực hôn nhân cũng đã phát hiện ra rằng: ngày càng cónhiều phụ nữ tham gia vào bạo lực nhiều hơn. Nhưng, người phụ nữ bị lạm dụngdẫn đến bị tổn thương lại cho thấy nghiêm trọng hơn. Bạo lực thể chất cao nhấttrong các mối quan hệ vợ chồng. Sự lạm dụng vợ chồng được kết hợp với sự tăngcăng thẳng, địa vị xã hội thấp và sự lớn lên trong gia đình bạo lực.2. Vài con số thống kê về bạo lực gia đình ở Việt Nam.Thống kê của tòa án nhân dân tối cao cho thấy hậu quả nghiêm trọng của bạo lựcgia đình: năm 1998 có 55.419 vụ ly hôn, trong đó 28.686 vụ bạo lực (chiếm 52%)…Năm 2000 có 51. 361 vụ ly hôn, trong đó có 32. 164 vụ bạo lực, chiếm 62 %.Riêng năm 2005 cả nước có 65. 929 vụ ly hôn, thì có tới 39. 730 vụ ly hôn do bạolực gia đình, chiếm 60 %. Như vậy từ năm 2000 tới năm 2005, bạo lực gia đình cóchiều hướng gia tăng gây ra tỷ lệ ly hôn cao.Theo thống kê của Công ty ứng dụng khoa học tâm lý Hồn Việt, sáu tháng đầunăm 2007 có 82 % trong số 702 khách hàng nữ đến tư vấn là nạn nhân của bạo lực.Trong đó chỉ có 28 % là bạo lực hành vi, còn lại 72 % là bạo lực tinh thần – kiểubạo lực „hộp đen”.Các nghiên cứu về bạo lực ở Việt Nam thường chỉ ra 3 hình thức bạo lực cơ bản,đó là: bạo lực về thể chất, bạo lực tinh thần và bạo lực tình dục. Ngoài ra một số tàiliệu còn nhắc đến hình thức bạo lực kinh tế và bạo lực xã hội.IV. Tổn thương tâm lý trong chu trình bạo lực gia đình.Có nhiều kiểu bạo lực gia đình, nhưng phổ biến nhất vẫn là vợ (hoặc chồng) bịbạn đời hay bạn tình bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần hay bạo lực tình dục (ép,cưỡng…). Một số chuyên gia cho rằng cái gốc của bạo lực gia đình ở Việt Namxuất phát từ bất bình đẳng giới…Các nhà tư vấn cũng đặc biệt lưu ý đến giai đoạn“trăng mật”. Đây là giai đoạn người bạo lực tỏ ra hối hận, muốn chuộc lỗi, cónhững biểu hiện quan tâm chăm sóc mang tính bù đắp; chính điều này làm nhiềunạn nhân của nạn bạo lực gia đình bị cuốn vào vòng xoáy không dứt ra được: từbạo lực, rồi bất bình vị bị hành hạ, rồi lại đến sự an ủi thỏa mãn trong giai đoạn
Tài liệu liên quan
- Tài liệu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ từ góc độ tâm lí học. docx
- 8
- 3
- 10
- Báo cáo " Một số yếu tố tác động đến việc gia tăng dân số nhìn từ góc độ tâm lý học" docx
- 5
- 824
- 1
- Báo cáo "Vài nét về hoạt động của doanh nghiệp kinh tế tư nhân hiện nay từ góc độ tâm lý học " potx
- 6
- 572
- 0
- Báo cáo " Hành vi trừng phạt trẻ em từ góc độ tâm lý học xã hội" docx
- 7
- 1
- 7
- Báo cáo "Giải quyết xung đột trong khiếu kiện của công dân dưới góc độ tâm lý học " docx
- 4
- 538
- 1
- Báo cáo " Khái niệm kỹ năng sống xét theo góc độ tâm lý học" pptx
- 4
- 559
- 4
- Báo cáo " Nhận thức hiện thực khách quan- nhìn từ góc độ tâm lý học" pot
- 3
- 666
- 1
- Báo cáo " Hành vi phạm tội nhìn từ góc độ tâm lý học" doc
- 7
- 1
- 66
- Báo cáo " Một khía cạnh xây dựng văn hoá học đường nhìn từ góc độ tâm lý học " potx
- 8
- 519
- 6
- Cách nhận thức tác phẩm nghệ thuật từ góc độ tâm lý ppt
- 11
- 505
- 1
Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về
(915.91 KB - 28 trang) - Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lý học xã hội trần thị minh đức Tải bản đầy đủ ngay ×Từ khóa » Khái Niệm Gây Hấn Là Gì
-
Hành Vi Gây Hấn – Phân Tích Từ Góc độ Tâm Lý Học Xã Hội - VNU
-
Gây Hấn – Wikipedia Tiếng Việt
-
Gây Hấn Nghĩa Là Gì? - Từ-điể
-
Gây Hấn Là Gì? Hiểu Thêm Văn Hóa Việt - Từ điển Tiếng Việt
-
Hành Vi Gây Hấn – Phần I - CSCI INDOCHINA
-
Khái Niệm Giảm Thiểu Hành Vi Gây Hấn - 123doc
-
Hung Hăng, Gây Hấn - Hành Vi Tâm Lý Lệch Chuẩn
-
Hành Vi Gây Hấn – Phần I - Chickgolden
-
Hành Vi Gây Hấn « Tâm Lý Xã Hội
-
Gây Hấn Học đường - TẠP CHÍ GIÁO DỤC
-
Hành Vi Gây Hấn - TẠP CHÍ GIÁO DỤC
-
Gây Hấn Gián Tiếp Là Gì?
-
Luận Văn: Hành Vi Gây Hấn Của Học Sinh Trường THCS Tại Hà Nội
-
[PDF] Hành Vi Gây Hấn Của Học Sinh Trƣờng Trung Học Cơ Sở - Văn Nghiệp