PHONG TRÀO “XIN SƯU, KHẤT THUẾ” Ở QUẢNG NAM NĂM 1908

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

PHONG TRÀO “XIN SƯU, KHẤT THUẾ” Ở QUẢNG NAM NĂM 1908

Ts. Ngô Văn Minh1. Diễn biếnĐúng 100 năm trước, cuộc nổi dậy oanh liệt chống sưu cao thuế nặng của nông dân miền Trung bùng phát từ Quảng Nam rồi nhanh chóng phát triển thành cao trào như nước lụt vỡ đê, kéo dài từ giữa tháng 3 đến hạ tuần tháng 5 năm 1908.Khởi đầu, do mấy ông hương lý và vài người học trò ở làng Phiếm Ái huyện Đại Lộc gồm Trương Tốn, Trương Hoành, Trương Côn, Trương Đính cùng với Hứa Tạo người xã Ái Nghĩa, Lương Châu người xã Hà Thân huyện Đại Lộc trong lúc dự đám giỗ đem chuyện sưu cao thuế nặng ra bàn tán, nhân đó có ý kiến phải làm đơn lấy chữ ký yêu cầu quan huyện đề đạt lên trên để giảm bớt thuế khoá cho dân, nếu không được sẽ kéo nhau lên Tỉnh. Đơn đã được 35 hào lý địa phương ký vào. Trong khi đang tiến hành lấy chữ ký thì có lý trưởng làng La Đái sau khi ký lại lẻn đi báo trước cho Tri huyện Phạm Văn Lãng. Ngày 11/3/1908 khoảng 300 – 400 người dân (Báo cáo của Khâm sứ Trung Kỳ ghi 300 người, Châu bản triều Duy Tân ghi 400 người) kéo đến huyện đường Đại Lộc, nhưng viên quan huyện cho đóng cổng, bảo lính lệ ra nói cho đoàn người biết y đã xuống tỉnh báo về việc “làm loạn” của dân. Nghe vậy, có mấy người học trò trong đoàn đứng ra bàn: “Quan đã đem việc bẩm tỉnh rồi, dự kỳ tan về mà không tránh khỏi cái tội “củ tụ đông người, liên danh ký chỉ” chắc bị bắt tra lôi thôi, mang lấy cực lụy vô danh, thôi thì ta cứ theo quan, vác đơn xuống tỉnh kêu xin dầu không có kết quả, còn có danh nghĩa và tỏ cùng quan trên thấu thực tình bọn mình là xin xâu thuế chứ không làm điều gì trái phép”[1]. Nghe vậy, đoàn người đồng tình kéo nhau xuống tỉnh. Dọc theo đoạn đường, nhân dân các làng được tin liền hưởng ứng nhập vào khiến cho khi đến La Qua số người đã lên tới gần cả chục ngàn. Khí thế đoàn người mỗi lúc một hừng hực. Chỉ trong mươi ngày, dân các phủ huyện khác cùng kéo đến tiếp sức nên đoàn biểu tình tại tỉnh thành và Hội An tăng lên tới cả vạn người. Người đương thời kể lại: “Ai có sống vào những ngày đó mới thấy không khí sôi sục căm thù thực phong và tinh thần ái quốc ái quần của bà con và lần đầu tiên có đàn bà tham gia bàn quốc sự công khai”, và “mỗi người đi xin giảm sưu thuế phải chuẩn bị cơm gạo, ống tre đựng nước đủ ăn uống từ ba đến năm ngày. Đem theo mõ tre, mõ gỗ làm hiệu lệnh, giây đánh, giây dừa, bội (sọt), đòn khiêng để vây bắt bọn nha lại tham nhũng hại dân khiêng trả quan trên…”[2].Ngày 21/3 những người biểu tình vây thành Quảng Nam rồi tràn hẳn vào dinh Tổng đốc. Cuộc đấu lý của nhân dân với các quan Nam mỗi lúc một quyết liệt. Quan Tỉnh bảo mình không có thẩm quyền giải quyết thì dân quát: “Quan không có quyền, sao không nộp ấn mà về”. Viên Tổng đốc ra ý dọa: “Các người làm loạn một tháng nay có được gì không? Các người tưởng Tây họ để yên cho các người làm loạn à?”. Nghe vậy, một người trong đoàn biểu tình là Nguyễn Duân, người huyện Quế Sơn đứng ra mắng: “Chúng tôi làm như thế chỉ là đi xin mà lại bảo là làm loạn à? Té ra quan lớn đi với Tây một phe, lấy thế Tây dọa chúng tôi. Quan lớn tưởng mình ăn lương của Tây đó hẳn? Không phải đâu, chính quan lớn ăn lương của dân chúng tôi, tức là tiền thuế của dân chúng tôi đóng góp, vậy mà không làm gì cho chúng tôi nhờ, trái lại vào hùa với Tây toan làm hại chúng tôi. Dân Quảng Nam không cần có ông quan chúa tỉnh như vậy đâu, về đi cho rảnh!”. Viên Tổng đốc hỏi họ tên, nghề nghiệp của người vừa nói. Nguyễn Duân nói mình là học trò. Hồ Đắc Trung bảo: “Anh đã là thí sinh thì có phải nộp thuế đâu mà cũng đi xin. Một người có học biết lễ nghĩa sao lại dám mắng tay đôi với quan tỉnh?”. Nguyễn Duân liền cãi lại: “Tôi vì có học, có biết phải trái nên mới nói, còn thuế thì chỉ làm quan như các ông mới không nạp chứ ai lại không nạp”. Viên tổng đốc đỏ mặt, bỏ đi vào nhà trong[3].Tại tòa Công sứ Hội An, viên Công sứ Pháp hỏi: “Vì sao cắt tóc, mặc đồ ngắn?” thì dân trả lời: “Thuế nặng, tiền hết, không tiền mua khăn, mua vải nên phải cắt tóc, mặc đồ ngắn”. Khi viên Công sứ hỏi: “Ai thủ xướng?”, lập tức toàn dân, ai cũng như ai đều ngẩng đầu tự xưng chính mình thủ xướng. Khi thấy thời gian gây áp lực ở Hội An đã đủ, những người lãnh đạo quyết định đưa cuộc biểu tình quay trở về các phủ, huyện đường. Huỳnh Thúc Kháng viết rằng, những người biểu tình bàn tán: “Ở phố, tòa đã đông lắm, nay ở phủ huyện nào vây quanh phủ huyện ấy không phải kéo ra phố nữa”. Ngày 23/3 có đến 8000 người vây phủ lỵ Điện Bàn bắt tri phủ bỏ lên xe đưa đến toà Công sứ Pháp ở Hội An. Viên Tri phủ Trần Văn Thống được dân “mời” lên xe kéo để xuống tòa Sứ cùng xin xâu cho dân (thực ra là đem trả cho quan Tây, như đã từng làm trước đó đối với viên Tri phủ tiền nhiệm Lê Bá Đằng). Trần Văn Thống còn chần chừ liền bị một người trong đoàn biểu tình cầm lấy ba toong đánh vào mắt cá chân của y, hỏi: “Quan còn ăn tiền nữa thôi?”. Khi đoàn người đến bến đò Phú Chiêm (cũng có tài liệu nói ở sông La Nghi) gặp một tên quan Pháp dẫn lính đến giải cứu cho Trần Văn Thống bắn một loạt súng thị uy rồi cho lính xông vào đánh. Do đường hẹp lại sát bờ sông nên có ba người ngã chết. Dân vớt lên chôn cất, có cúng tam sanh, có đối điếu. Tại lễ truy điệu, khi nghe câu lệnh: “Quảng Nam tỉnh, thất phủ huyện, các phục kỳ phục!”, tất cả mọi người đều để tang, và “cùng cất tiếng một lúc chấn động cả đất trời. Các tỉnh gần nhiều người cũng đến phúng điếu”[4]. Để tang cho một người không thuộc ruột rà như Thọ Mai Gia Lễ đã quy định, lại gọi nhau bằng hai từ “đồng bào” thì quả đây là một hiện tượng chưa thấy, tính đến lúc bấy giờ. Nội dung các câu đối điếu rất cảm động, như hai câu viết trên thẻ tre cắm đầu mộ:- Trù trướng khê đầu tòng thử biệt,Yên ba giang thượng sử nhân sầu(Ngậm ngùi đầu gềnh từ nay cách biệt,Khói sóng trên sông khiến người buồn rầu)- Tuyền hạ hữu tri hồ, mâu tặc thương sinh do vị tỉnh,Hữu tinh thùy khiển thử, sơn hà ấu trĩ diệc thương bi(Suối vàng có biết chăng? mê muội quốc dân chưa tỉnh dậy,Có tình ai chịu nỗi? ngây thơ non nước cũng đau buồn).Lại có một bài văn tế khá dài, trong đó có những câu tố cáo sự bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp:Chó ăn cả lông,Cây đào tận gốc,Không tiền mua lược, Nên đầu ông trọc, Không tiền mua vải,Nên áo ông cộc…Đến đoạn cuối thì chuyển sang cầu chúc linh hồn người chết hóa thành vũ khí, phương tiện chiến tranh để báo thù về sau: Hồn ông đi đâuXiêm La, Băng Cốc?Thượng Hải, Hoành Tân?Ấn Độ, Thiên Trúc?Lớn hóa làm tàu bay,Nhỏ hóa làm súng lục,Phơi phới trên từng mây,Để chờ cơn báo phục!Ngày 26/3 dân Thăng Bình vây phủ đường, cũng với số lượng đông. Tại Tam Kỳ dân 7 tổng kéo đến vây phủ đường. Ông Lê Cơ lý trưởng làng Phú Lâm và là một nhà thực hành duy tân xuất sắc giả người hốt hoảng cưỡi ngựa tế thẳng vào công đường báo cho viên tri phủ biết dân đang kéo đến (thực chất là đến hù trước viên quan này). Viên tri phủ lớn tiếng, Lê Cơ liền bảo: “Tình thế này mà quan lớn còn nói cứng thì nguy to, vì dân chúng hấp thụ dân quyền của ông Lư Thoa [Rútxô], Mạnh Đức Tư Cưu [Môngtécxkiơ]; họ có coi quan quyền ra gì đâu…”. Trong lúc quay ra, Lê Cơ liếc thấy tên Đề đốc Trần Tuệ gian ác coi làm đường Tam Kỳ - Trà My đang lấp ló bên trong (y sợ đoàn biểu tình nên đến trốn trong phủ đường) liền ra ngoài mật báo cho đoàn biểu tình. Ông Trần Thuyết trùm làng Phước Lợi liền hô lớn: “Bớ dân! Dân ta xin quan lớn giao ông Đề cho dân ăn gan!”. Tức thì dân 7 tổng đồng thanh cất tiếng dạ vang. Trong lúc đó, viên đại lý Pháp nghe tin đi xe đến cứu nguy cho Đề Tuệ, nhưng vì nghe tiếng hô và tiếng “dạ” vang trời, y sợ quá, đến mức hộc máu chết trên xe[5].Ngày 7/4 dân Duy Xuyên kéo đến vây nhà viên chánh tổng gian ác. Đoàn người phá buồng giam, chặt đốt các hình cụ, thả một số người bị giam giữ, đốt nhà viên Phó tổng. Viên chánh tổng Trần Quát sợ trốn trong một bụi cây, bị dân phát hiện bắt trói, cột đá vào thả dìm xuống sông cho đến chết.Tại huyện Hòa Vang, Ông Ích Đường dẫn đầu đoàn biểu tình đến vây bắt tên Lãnh Điềm gian ác khi coi xâu làm đường Đà Nẵng đi Bến Gằng, nhưng y trốn thoát được.Tin dân Quảng Nam đùng đùng nổi giận với quan Nam, quan Tây về chế độ sưu cao thuế nặng lập tức truyền sang các tỉnh lân cận, được đồng bào các tỉnh đồng lòng hưởng ứng, kéo đi biểu tình rầm rộ ở địa phương mình. Tờ truyền đơn thông tri về phong trào chống sưu thuế ở Quảng Nam do Nguyễn Hàng Chi người huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh viết: “Dân Quảng Nam! Dân Quảng Nam! Họ cũng là con cháu Hồng Bàng, họ cũng đồng một giống da vàng, tóc đen… Đường làm ăn của dân ngày càng quẩn, lòng oán ghét của dân ngày càng sâu, bồng bồng bột bột, không thể đè nén mãi được nữa, mới gây nên cái việc dân Quảng Nam kêu sưu, là một việc mà mọi người lấy làm sung sướng… Đáng yêu thay dân Quảng Nam! Đáng kính thay dân Quảng Nam! Đáng học thay dân Quảng Nam! Lòng họ rất đồng nhất, chí họ rất kiên quyết nhẫn nại, việc làm của họ rất quang minh...”[6].Được tin tòa Công sứ Hội An bị bao vây, đích thân viên Khâm sứ Trung Kỳ Lévecque cùng với Thượng thư Bộ Lại Trương Như Cương và Thượng thư Bộ Binh Vương Duy Trinh cấp tốc vào Quảng Nam chỉ đạo việc trấn áp. 220 lính được điều từ Đà Nẵng và Huế, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoá vào cùng với lực lượng lính khố xanh tại chỗ để đàn áp những người biểu tình. Chúng cho một đội cảnh binh toả xuống tận các xã để khủng bố, triệt phá các cơ sở của phong trào duy tân. Hàng ngàn người bị tra khảo, hàng trăm người bị bắt giam tại nhà lao tỉnh, 27 người bị đày ra Côn đảo và nhiều người khác bị đầy đi Lao Bảo. Có 4 người bị xử chém là Ông Ích Đường ở Hòa Vang, Nguyễn Cương, Nguyễn Dực, Phan Tham, Trần Duy, Trần Phước ở Duy Xuyên và Trần Thuyết ở Tam Kỳ. Với trường hợp Ông Ích Đường, mới 18 tuổi, là cháu nội danh tướng Ông Ích Khiêm, bị Tòa án Nam triều xử lưu động tại chợ Túy Loan giữa lúc đông người để uy hiếp tinh thần dân chúng. Trước khi bị hành quyết, ông dõng dạc nói: “Dân nước Nam như cỏ cú. Giết Đường này còn có trăm nghìn Đường khác sẽ nổi lên. Bao giời hết mía mới hết Đường!”. Ngay tại chợ có nhiều người để tang cho ông. Có người đang bán hàng xén tự động xé cả gánh vải trắng của mình phát không cho những người tưởng niệm. Tên đao phủ chém ông trên đường về bị nhân dân đón đánh, về nhà ốm liền 3 tháng thì chết. Ngay sau đó, dân chợ Túy Loan tự quyên tiền lập miếu thờ “Cậu Đường” với hai câu đối trước cửa miếu: “Tinh thần thiên bất tử/ Nghĩa khí thế trường sanh” (Tinh thần còn mãi mãi/ Nghĩa khí sống đời đời). Ông trùm làng Trần Thuyết bị xử chém tại đầu cầu Tam Kỳ, trong bản án ông có câu: “Thanh thanh thực đề đốc can, nhất hô nhi thất tổng chi dân giai ứng” (Hô một tiếng đòi ăn gan quan đề đốc mà dân bảy tổng dạ vang). Về sau, trong thư gửi Bộ trưởng thuộc địa Pháp, cử nhân Phan Thúc Duyện tố cáo nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam đã “gây ra một cái án đại ngục trên lịch sử nước Nam thuở nay chưa từng có”[7].Bị đàn áp khốc liệt như vậy, các thân sĩ ở Quảng Nam lập tức mở một chiến dịch “thân oan” để làm rõ tính minh bạch của vụ xin sưu, giảm thuế. Ngay khi phong trào đang bị đàn áp, ở huyện Hà Đông các ông Lê Tiệm, Lê Kiều lập tức viết đơn và ký thay dân hai tổng Phước Lợi, Vinh Quý đem ra Đà Nẵng bỏ vào nhà dây thép (bưu điện) gửi Quyền Toàn quyền Đông Dương tại Hà Nội. Tiếp đến là đơn kêu nài của dân Quảng Nam do Trịnh Huyền viết vào ngày 13/4/1908. Ngày 13/6 lại có tiếp đơn của các thân sĩ Quảng Nam đang bị giam tại nhà lao tỉnh viết quốc ngữ gửi cho Quyền Toàn quyền Đông Dương, cuối đơn ghi rõ “Quảng Nam thân sĩ tại ngục đồng kêu”. Lá đơn này cũng nói rõ nguyên nhân của vụ xin sưu giảm thuế là do thuế khóa ngày một tăng và quan lại tổng huyện thì nhũng nhiễu, ngăn trở việc mở trường học, lập hội buôn, diễn thuyết để mở trí không cho dân, lại bày chuyện vu cáo với Công sứ Pháp. Đồng thời qua đó khẳng định tính quang minh, hợp pháp của công cuộc duy tân, thế mà “Quan Sứ nóng giận không xét nguyên hủy là tại làm sao cứ hễ người nào có bày làm những chuyện học hành buôn bán thì bắt gông giam làm án”[8]. Và như chúng ta đã biết, Phan Châu Trinh trong thời gian ở Pháp đã viết bản “Trung kỳ dân biến tụng oan thỉ mạt ký” để biện giải về vụ dân biến này.2. Nhận địnhTừ diễn biến của phong trào chống thuế ở Quảng Nam có thể rút ra một số nhận xét sau đây:Xét về nguyên nhân, đây không phải là một hiện tượng tức nước vỡ bờ bình thường. Nó có nguyên nhân trực tiếp là do chế độ sưu thuế bấy giờ, nhất là thuế thân và lao dịch hết sức nặng nề, như chính giới thực dân thừa nhận, “trên chiếc lưng cao su của người dân An Nam, nhà nước tha hồ kéo dài mức thuế co giãn”[9]. Vào những năm đầu thế kỷ XX, một suất thuế thân đã tăng lên gấp 12 lần so với thời phong kiến độc lập. Về sưu dịch, tuy theo Nghị định ngày 1/1/1908 của Toàn quyền Đông Dương là 10 ngày, nhưng trên thực tế nếu tính tất cả các loại sưu dịch, nào dịch đón rước quan lại Pháp, Nam; dịch tu bổ đường sá; dịch khiêng vác hàng hoá... thì trong 1 năm người dân đã phải mất đến 5-6 tháng đi sưu dịch: tạp dịch vừa xong tiếp theo là quan dịch, quan dịch xong lại đến hương dịch, hương dịch xong lại có lệnh đến cố dịch (dịch trả nợ cũ). Đã thế, người đi sưu còn phải chịu bao nhiêu nỗi khổ do bọn quan lục lộ gây ra. Nhưng sưu cao thuế nặng không phải là nguyên nhân duy nhất. Nguyên nhân sâu xa vẫn là sự căm thù của nhân dân vốn đã dồn nén từ lâu đối với ách đô hộ của thực dân Pháp. Cuộc biểu tình này, như chính viên Toàn quyền Đông Dương bấy giờ nhận định, nó là “biểu hiện của một trạng thái tinh thần chung của cả nước An Nam, nhưng đã xuất hiện trước tiên ở miền Trung của Trung Kỳ”[10]. Với Quảng Nam, việc đào nối sông Vu Gia với sông Cẩm Lệ, làm đường từ Đà Nẵng đi Bến Gằng và làm đường Tam Kỳ đi Trà My đều quan hệ đến nhân mạng cả tỉnh, như lời Phan Châu Trinh tố cáo trong “Đông Dương chính trị luận” rằng, khi mới khởi công đã “huỷ hoại vô số ruộng vườn, nhà cửa của dân, mồ mả của người nghèo dời đi không kịp bị đào lên, trong 2-3 năm liền như thế, công dịch rất nhiều, nhân dân đồ thán, oán trách xôn xao đây đó. Vả lại những nơi vừa kể là nơi thâm sơn chướng khí, nước độc vô cùng, nhân dân vì thế bị chết vô số”[11]. Chính vì vậy mà “khiến cho người Việt thù ghét đến tận xương tuỷ”. Huỳnh Thúc Kháng thì xem đấy là cái đau “cắt da bào ruột” nên “lòng căm phẫn dồn chứa lại”. Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” Nguyễn Ái Quốc cũng lên tiếng: “Công việc làm các con đường đi Đà Nẵng, đi Trấn Ninh và đi Lào còn để lại cho mọi người biết bao kỷ niệm đau đớn. Dân phu phải đi bộ hàng trăm ki lô mét mới đến công trường. Đến nơi, họ phải chui rúc trong những túp lều tranh thảm hại. Không có mảy may vệ sinh, không có tổ chức y tế. Trên đường không trạm nghỉ chân, không nhà tạm trú. Họ chỉ được một suất cơm ăn không đủ no với một chút cá khô và phải uống nước bẩn, thứ nước khe núi mà họ rất sợ. Bệnh hoạn, cực nhọc, hành hạ tồi tệ gây nên chết chóc khủng khiếp”[12]. Sự căm phẫn càng như đổ dầu vào lửa khi đầu năm 1908 viên Công sứ Charles không cho phép dân Quảng Nam được nộp tiền thay cho những ngày sưu dịch, lại thêm thông tin chính quyền thực dân sẽ tăng thêm công ngân, công ích, còn ở Đại Lộc thì viên tri huyện Phạm Văn Lãng phân bổ ngày xâu cho các xã không công bằng. Trong nội dung đơn kêu oan của thân sĩ Quảng Nam có viết rằng: “Bữa mùng chín tháng hai năm nay trong tỉnh tôi dân huyện Đại Lộc nghe rằng năm này Nhà nước tăng thêm công ngân, công ích, cho nên nó sợ rằng không lấy chi mà nộp nên nó rủ nhau tới kêu quan huyện sở tại, mà quan huyện ấy trở lại chạy xuống tỉnh nói rằng chúng nó làm giặc nên chúng nó thất kinh sợ hãi làm đơn thưa với quan Tỉnh, quan Sứ”[13].Cuộc biểu tình này còn là hệ quả tất yếu của phong trào Duy tân, một phong trào vốn khởi phát ở Quảng Nam và là hình mẫu cho phong trào chung cả nước. Trong phong trào này, các sĩ phu đã tuyên truyền trong nhân dân không chỉ về “khai thông dân trí” mà còn “chấn hưng dân khí” và “mở mang dân quyền” để dân nâng cao nhận thức về sức mạnh quyền năng (quyền và năng lực thể hiện quyền) của mình. Bởi theo Phan Châu Trinh, “một khi dân đã biết được cái quyền của mình, sẽ dần dần mưu tính đến việc khác”. Các nhà nho duy tân đi khắp các làng quê để cổ suý dân quyền nên chỉ trong 4-5 năm mà nhận thức trong nhân dân đã lên cao, và họ đã thể hiện bằng cả một phong trào xin xâu gảm thuế như thác đổ triều dâng. Trong tờ tấu ngày 22 tháng 4 năm Duy Tân thứ hai (21/5/1908) Phủ Phụ chính nhận xét: “Tức như hiện nay bọn người hiếu sự ở Nam, Nghĩa ngầm mưu xúi giục làm loạn, trước thì dụ dân cắt tóc cải trang, kế thì đặt trường diễn thuyết, sau hết thì mê hoặc nhân dân bằng việc kêu xin giảm thuế, cùng nhau tụ tập, xướng làm dân quyền, dần dần đến hống đường náo thị, mà tỉnh, phủ, huyện quan sở tại không ngăn chặn được”[14]. Trong một bản phân tích các hoạt động chống Pháp ở Đông Dương từ 1904-1914 gửi Phủ Toàn quyền và được chuyển về Bộ Thuộc địa, mật thám Pháp cũng nhận định rằng: “Ở Trung Kỳ từ đầu năm 1908, sự biến động đã lên đến cao độ. Các hội buôn được tổ chức trong các xã thôn, các cuộc quyên góp được mở ra, các cuộc diễn thuyết công khai diễn ra. Và dưới chiêu bài mở mang thương mãi, nông công nghiệp hay dưới chiêu bài phát triển học vấn, giáo dục đạo đức luân lý, họ tấn công quan lại, chỉ trích Nhà nước bảo hộ, xuyên tạc hành động và ý đồ của Nhà nước”[15]. Như thế, những người học trò, hương lý và các nhà lãnh đạo duy tân ở làng xã đã “vượt qua” chủ trương của những người khởi xướng phong trào Duy tân, khiến cho Phan Châu Trinh đang ở Hà Nội cũng bị thực dân Pháp bắt giải về Huế rồi đày đi Côn đảo. Huỳnh Thúc Kháng đang ở Hội An thấy sự việc xảy ra, biết thế nào cũng liên lụy liền quay về quê nhà nhưng rồi cũng bị một đoàn hùng hậu quan binh Tây, Nam kéo đến bắt giải ra nhà lao tỉnh, sau đó đưa xuống tàu đày ra Côn Lôn. Trần Quý Cáp đang làm giáo thọ ở Khánh Hoà, chỉ biết tin từ quê nhà báo vào rồi viết thư gửi về cho Phan Thúc Duyện, có câu: “Cận văn ngô châu thử cử, khoái thậm, khoái thậm!” (gần đây nghe tỉnh ta cử hành việc ấy, sướng lắm, sướng lắm!) thế mà cũng bị bắt cùng với 5 người đồng hương, mặc dù lúc ấy ở Khánh Hòa vẫn chưa nổ ra chống thuế. Tại nhà lao tỉnh Quảng Nam, Trần Cao Vân viết một bài ca dài mà đoạn mở đầu cũng nói lên sự ngỡ ngàng của mình:Lệ thiên hàng sái sái,Bút nhất dạ thao thao,Hỏi chuyện gì ai có biết đâu nào,Lớn nhỏ xúm vô lao ngồi lúc nhúc.Nào sang nào nào hèn, nào tiên nào tục,Nào những trang khoa khoa mục, nào những khách văn chương,Xâu một xâu ngô đạo thấy mà thương, Du du vấn bỉ thương hề thùy tự?Về lực lượng, tuy tuyệt đại đa số là nông dân, nhưng có vai trò hướng đạo của những trí thức làng xã. Đó là những người học trò chưa đỗ đạt hoặc đã đỗ tú tài, cử nhân (như mấy người học trò Khâm Thiên giám làng Phiếm Ái (Đại Lộc), tú tài Nguyễn Tốn người xã Phước Thạnh, phủ Thăng Bình; hai anh em tú tài Dương Đình Thưởng, Dương Đình Thạc người xã Trường An, tú tài Trịnh Luyện ở xã Kim Đới, Phủ Tam Kỳ)[16] và sự tham gia trực tiếp ký vào đơn và cùng dân đi chống thuế của rất nhiều lý hương tại các làng xã (như Hứa Tạo lý trưởng xã Ái Nghĩa huyện Đại Lộc, Hương chánh Hoàng Cảnh người làng Hà Lam phủ Thăng Bình, Lê Cơ lý trưởng làng Phú Lâm phủ Tam Kỳ), lại có một số hưu quan (như Trương Nhiếp người xã Phiếm Ái, huyện Đại Lộc, nguyên Trước tác của Triều đình; Đặng Lương nguyên là Hậu Bổ; Nguyễn Đình Tán người xã Kỳ Lam, huyện Điện Bàn, nguyên Thị độc). Trong phong trào này, không cứ là người có danh sắc mới có uy tín, mà lãnh đạo có khi chỉ là một ông trùm làng Trần Thuyết hô một tiếng mà dân 7 tổng dạ vang. Trong đôi câu đối điếu Nguyễn Quần tại Côn đảo, Thai Sơn Đặng Nguyên Cẩn viết: “Nhân vật xứ Ngũ Hành nay ra Côn Lôn, nầy nghĩa đảng, nầy thân sĩ, nầy hương chức xen vào trong; đều nghĩa đồng bào, há lấy tôn ty phân đẳng cấp/ Tân triều kỷ hai mươi, thẳng xông đất Á, hoặc đánh lưỡi, hoặc đánh bút, hoặc vì lợi quyền tranh ở dưới; cảm ngươi máu nóng, vì ai lưu lạc đến ven trời”[17]. Huỳnh Thúc Kháng nhận xét: “Nói thực ra, chủ động cuộc cự sưu đó chỉ vỏn vẹn vài bác hương lý cùng vài anh học trò trong thôn quê mà tạo ra cái phong trào như nước lụt vỡ đê, cuốn cả toàn kỳ trên mười tỉnh (từ Bình Thuận đến Thanh Hóa) vào xoáy khu ốc, ảnh hưởng rung động khắp trong nước – cả Nam Bắc”[18].Về tính chất, thoạt đầu phong trào diễn ra như rất ôn hoà, chỉ là “xin xâu khất thuế” – đấy là chủ trương chung của những người lãnh đạo muốn giữ nó ở thế hợp pháp để địch không có cớ đàn áp, nhưng trong diễn biến của nó đã thấy tính bạo động. Trước hết là bằng áp lực của hàng ngàn người vây công đường. Thứ nữa là một số nơi đoàn biểu tình mạnh tay với quan lại: bắt giải Tri phủ Điện Bàn Trần Văn Thống; vây nhà Lãnh Điềm; nhất là việc dìm nước cho đến chết chánh tổng Trần Quát và đòi ăn gan Đề đốc Trần Tuệ thì đã vượt quá tầm kiểm soát ban đầu. Tuy nhiên, so với các tỉnh khác thì tính ôn hòa của phong trào ở Quảng Nam rõ hơn. Ở Bình Định và Nghệ Tĩnh tính chất bạo lực thể hiện rất rõ, đến mức theo Châu bản triều Nguyễn, những người biểu tình “chống đánh tập binh, hoặc tranh cướp súng ống”. Quyền Toàn quyền Bonhoure nhận định: “Giai đoạn đầu của cuộc biến động không có rắc rối nào nghiêm trọng, trừ trường hợp ở Quảng Ngãi. Nhưng khi nó lan đến các tỉnh phía Nam thì ngay từ đầu nó đã mang tính chất nổi loạn dữ dội. Tỉnh Bình Định là một trong những nơi đã thực sự rơi vào tình trạng vô chính phủ”, và “Ở phía Bắc các cuộc rối loạn chỉ mới bắt đầu nhưng đáng lo ngại do tính khí người An nam ở vùng này hiếu chiến hơn nên tính chất của nó có thể nghiêm trọng hơn”[19].Cũng không phải chỉ nhân chuyện đàm đạo ngẫu nhiên trong một đám giỗ mà dẫn đến được cả một cuộc xin xâu giảm thuế rầm rộ đến thế. Thực ra, phong trào này đã được ngấm ngầm chuẩn bị từ trước. Hàng loạt thơ ca nói về khổ trạng sưu cao, thuế nặng được sáng tác và lưu hành trong tỉnh nhằm khơi thêm lòng căm phẫn để chuẩn bị về mặt tư tưởng cho phong trào. Chẳng hạn, một câu ca đương thời:Dân Quảng Nam từ năm Bính Ngọ [1906]Xâu ngũ nhật, công sưu, công ích, đường trường làm tột núi cao,Thuế bách phân gia ngũ gia tam, đủ ngón vét từng xu nhỏ.… Thuế nạp cho mau, tiền xâu bắt đủ.Đánh đập cả ngày cả đêm, thúc giục bằng cồng, bằng mõ.Lý hào ỷ thế hành hung, dân chúng kinh hồn thất thố.Đứa nọ vì xâu chưa đủ, đóng gông giải về quan,Thằng kia thuế nạp không xong, làm án tù cả họ.Ba ngày công ích, kéo nhau cuốc xuổng cho mau,Bảy hạt nhân dân, mặc kệ mùa màng để đó…Hoặc:Con chim xanh ăn quanh bãi cátThiếp nạp cho chàng mỗi năm ba đồng sáu giác công ngânChàng ơi ngồi lại thiếp phân,Chàng nhịn ăn, thiếp nhịn mặc đóng công ngân cho chàng.Nộp rồi lòng vẫn chưa an,Lại nghe mõ đánh ngoài làng kêu xâu…Tiếp đến là các hoạt động “nháy” để thăm dò phản ứng của quan lại Nam triều, như trong sách “Cuộc sự sưu Trung Kỳ”, Huỳnh Thúc Kháng viết: “Sĩ dân lại có đơn kiện chánh phó 7 tổng (tức là kiện viên tri phủ) kể nhiều khoản tình tệ. Tỉnh và Bộ đương xét thì vụ xin xâu xảy ra”[20]. Trong “Đông Dương chính trị luận” Phan Châu Trinh viết: “Mấy tháng trước, dân làng trong 6 tổng của toàn hạt đã kiện lên quan Công sứ”. Rồi đến dịp tết năm Mậu Thân (1908) dưới hình thức một cuộc chơi xuân, các nhà nho duy tân tại các làng xã thuộc phủ Tam Kỳ đã họp nhau tại trường tân học Phú Lâm bàn chủ trương và những biện pháp cụ thể lãnh đạo nhân dân đi chống thuế: 1, Giao cho học trò vận động nhân dân làm đơn liên danh ký chỉ xin giảm sưu thuế, đòi đổi đề đốc Trần Tuệ đi nơi khác, cử người đem đến phủ đường vào ngày 20 tháng giêng; 2, Cổ động nhân dân kéo xuống phủ đường xin giảm sưu thuế. Nếu không được sẽ đi luôn đến tỉnh đường và ra Toà Khâm sứ Huế để kêu nài, nằm vạ tại đó cho đến bao giờ chính quyền chịu giảm mới thôi; 3, Mỗi xã cử một người, mỗi tổng cử 2 người biết chữ quốc ngữ và đủ tài đối đáp với quan lại.Chỉ sau cuộc họp trên mấy hôm, một phong trào làm đơn liên danh ký chỉ đòi đổi Trần Tuệ được nhân dân hưởng ứng. Các cuộc diễn thuyết tố cáo tham quan lại nhũng diễn ra ở hầu hết các làng thuộc hai tổng Phước Lợi và Vinh Quý. Ngày 17 tháng giêng (18/2/1908), một đoàn gồm 20 người, do các ông Dương Đình Luyến, Mục Thuyết (Trần Thuyết), Biện Trữ (Nguyễn Trữ) ở tổng Phước Lợi dẫn đầu đến thẳng phủ đường Tam Kỳ yêu cầu tri phủ Tạ Kinh Tú phải đáp ứng các yêu sách của dân. Ôn Dương Đình Luyến người xã Địch Yên Tây cất tiếng: “Bẩm quan lớn, dân chúng tôi bấy lâu nay bị mất mùa, đói rách không có đủ tiền nạp thuế, bị bắt đi xâu dài ngày nên bỏ cả việc làm ăn, treo nồi mà nhịn, lại thêm quan Đề ác quá, đánh đập, giam cầm dân chúng không kể xiết. Vì lẽ đó, chúng tôi xin quan lớn miễn giảm sưu thuế và đổi quan Đề đi nơi khác thì mới sốn nổi”[21]. Tạ Kinh Tú quát: “Việc chước giảm sưu thuế tôi không có quyền, dân muốn xin giảm thì làm đơn ký chỉ để tư về tỉnh tòa xét, chứ nói miệng sao được. Lui ra đừng có nói lôi thôi!”. Cả đoàn người đồng thanh cất tiếng “Dạ! Chúng con sẽ về làm đơn” rồi rời khỏi công đường. Đúng ngày 20 tháng giêng (21/2/1908) lại kéo xuống (lần này đông đến 50 người) mang theo 36 lá đơn. Nhưng Tạ Kinh Tú bảo mình không có quyền giải quyết, lại quát hỏi ai là người thủ xướng. Lập tức đoàn người trả lời: “Chính quan lớn thủ xướng chứ còn ai nữa. Bữa xưa quan bảo làm đơn để tư tỉnh tòa xin chước giảm sưu thuế, sao bữa nay quan lớn nói tréo bản họng vậy?”. Thấy đã bị mắc mưu, Phủ Tạ đành phải nhận đơn[22]. Cuộc vận động xin giảm sưu thuế và đòi đổi Trần Tuệ ở phủ Tam Kỳ đang diễn ra như vậy thì gặp lúc cuộc chống thuế bùng phát ở huyện Đại Lộc và các phủ Điện Bàn, Thăng Bình vào giữa tháng 3 và nó hoà chung vào phong trào của cả tỉnh. Cùng lúc với các hoạt động nháy trên, những người chủ trì còn có đơn báo trước cho chính quyền thực dân. Đây là lá đơn tập thể, không ghi tên người viết, đề ngày 13 Février 1908, tức là trước ngày nổ ra vụ chống thuế, nhưng đến ngày 22/4/1908 Toàn quyền Đông Dương mới nhận được và y liền chỉ thị thuộc cấp phải dịch ngay. Nội dung đơn này, trước hết than phiền về nạn xâu thuế và nạn quan lại hà hiếp dân, tiếp đến là những kiến nghị với chính quyền bảo hộ Pháp: 1, Đổi đi nơi khác: Công sứ Pháp, Tổng đốc Hồ Đắc Trung, Lãnh binh Trần Tuệ, Tri phủ Trần Văn Thống, các tri huyện Phạm Lãng, Nguyễn Lâm là những người mà họ “không còn muốn thấy chúng ở trong tỉnh nữa”; 2, Giảm thuế thân xuống còn 1,10$ như trước kia với lời hứa hẹn sẽ dạy cho dân nghề làm ăn, buôn bán; dạy cho dân học và làm cho dân được hưởng về mọi mặt như người Pháp. Điều rất đáng lưu ý là những lời cảnh báo ở cuối đơn: “Chúng tôi rất đội ơn quan lớn, nếu quan lớn chú ý đến những điều trình bày của chúng tôi. Nếu không được như thế, chúng tôi sẽ quyết giết hết những viên quan lại nói trên, rồi chịu tội xử bắn cũng xin vui lòng”[23]. Cũng trong tháng 2/1908 còn có nhiều đơn khác phản ứng về việc Tổng đốc Hồ Đắc Trung ra trát sức không cho các sĩ phu Duy tân đánh trống tụ dân diễn thuyết. Đó là đơn phản ứng của Hoàng Quý Thành người xã Chiên Đàn và đơn của 41 Lý trưởng, 5 Phó lý, 1 nguyên Chánh tổng, 8 Hương mục, 8 hào mục thuộc 59 xã và một đơn khác của 6 Cử nhân, 24 Tú tài và 10 thí sinh ở phủ Tam Kỳ phản ứng đối với trát sức trên[24].Về mặt tổ chức, các bước tiến hành đều được cân nhắc kỹ: Lúc đầu là làm đơn ký chỉ hoặc nói miệng trước nhằm “bẫy” cho Tri phủ yêu cầu làm đơn rồi mới viết đơn. Tiếp đến là kéo nhau đi gửi đơn. Với quan lại địa phương thì yêu cầu cùng “đi xin giảm sưu thuế” cho dân được nhờ. Với những tham quan thì bắt đem “trả” quan trên, và chỉ tập trung vào quan Nam, chưa đụng đến quan Pháp để Pháp không có cớ đàn áp. Khi phong trào nổ ra, các đoàn đều có ban điều hành cắt cử luân phiên người đi kẻ về và tiếp tế lương thực. Những người tham gia rất có tổ chức. Trong công điện ngày 29/3/1908 cho Toàn quyền Đông Dương, chuyển đi từ Hội An, viên Khâm sứ Lévecque báo cáo: “Dân Quảng Nam nổi dậy chống thuế. Từng đoàn kéo đi có khẩu hiệu chung”[25]. Huỳnh Thúc Kháng thì viết: “Nhân dân các phủ huyện trong tỉnh khoai mo, cơm gói, quần xách, áo mang, kéo đi từng đoàn ra phố [Hội An] thay nhau kẻ ở người về, cơm tiền giúp nhau”. Nếu là những làng duy tân hoàn toàn thì người đi biểu tình sẽ được các thương hội trích quỹ chi phí ăn đường. Khi có người thiệt mạng được ban tổ chức lo đám tang chu đáo. Nó thể hiện tài tổ chức, tình đồng bào và sự đồng thuận rất cao của những người tham gia phong trào. Chính việc chuẩn bị một cách khôn khéo như vậy, nên trong giai đoạn đầu khi phong trào nổ ra ở Quảng Nam, thực dân Pháp khá bối rối, phải mất hơn 20 ngày mới lên kế hoạch trấn áp. Và cũng do tính hợp lý trong chủ trương xin sưu khất thuế - xin chứ không chống, khất chứ không kháng nên khi làm án chính quyền Nam triều dưới sự điều khiển của viên Khâm sứ Pháp rất lúng túng trong việc luận tội, buộc phải kết tội những người cầm đầu với những án tiết hết sức ám muội, “án tình vô lý, văn nghĩa bất thông” (Lời Phan Châu Trinh) không liên quan gì đến việc xin sưu khất thuế, chỉ là “mở tiệm buôn, lập trường sở, họp người diễn thuyết”, “dụ dỗ đồng dân cắt tóc”, “xướng làm các việc dân quyền”. Phan Châu Trinh vạch rõ: “Nhưng khốn nỗi không tìm được cớ để kết án xử tử, nên lượm lặt nào là hội buôn, hội diễn thuyết, nào là mặc đồ Tây… bày bõ ra cho thành cái án”[26]. Huỳnh Thúc Kháng thì nhận xét: “Đọc án văn trên, thấy cái lối quan tòa buộc tội người không cần chứng cớ, không biện lệ luật, lấy ý đoán chừng mà kết án. Càng lạ hơn nữa, bắt giam vào ngục rồi bắt đi đày, trước sau không tuyên án”[27].Nói chung, đây là một sự sắp xếp kế hoạch khá bài bản, như một chứng nhân người Pháp là Ajabert đã nhận xét trong cuốn sách “Những số phận ở Đông Dương” rằng: “Cuộc khởi loạn được tổ chức một cách thông thạo nhất - như là một sự luyện tập, một sự thao diễn thí nghiệm trong đó xứ An Nam tổng ước các năng lực của nó, kiểm điểm các lực lượng phiến loạn của nó”[28].Từ chỗ xâu chuỗi các sự kiện như đã dẫn ở trên, cũng như sự lan toả ra các tỉnh khác, khiến tôi nghĩ đến sự liên hệ từ trước giữa các nhà lãnh đạo phong trào trong tỉnh Quảng Nam (cùng thống nhất một kế hoạch như nhau là gửi đơn trước, rồi sau đó kéo cả đoàn người biểu tình đến xin giảm sưu thuế, nhưng thực ra là gây áp lực) và sự liên hệ trước giữa các tỉnh trong khu vực, nên mới có sự đồng loạt hưởng ứng nhanh như thế. Về quy mô và thời gian, phong trào này huy động được hàng chục ngàn người ở tất cả các phủ huyện tham gia và duy trì được khá lâu, kéo dài gần một tháng.Về đặc điểm và ý nghĩa, đây là một cuộc nổi dậy phản ứng của nông dân với một hình thức đấu tranh rất mới mẻ so với trước đó là biểu tình. Nó thể hiện dân khí, dân quyền đã lên cao, là sự tiếp nối các phong trào yêu nước Nghĩa hội, Duy tân và để rồi sau đó là vụ mưu khởi nghĩa của Thái Phiên, Trần Cao Vân cũng khởi phát tại Quảng Nam, có vua Duy Tân tham gia vào năm 1916. Như chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đã nhận xét: Nếu như những lần quật khởi trước “hoặc tự đem quân khí cũ xưa ra chống với súng bom, hoặc nhờ binh lực nhiều ít, nêu cái danh nghĩa “trung quân”, cùng cái lối “nương cánh phụng, vin vẩy rồng” (phan long phụ thượng) để hiệu triệu quần chúng, ít nữa những vai chủ động cần phải là người danh vọng có thế lực, không nữa cũng mượn thanh thế nước ngoài mới gây một keo sống chết, không kể thành bại. Duy cuộc cự sưu năm 1908 thuần nhiên là tự sức quần chúng phơi gan trải ruột đem thịt máu ra chống với hai chính phủ: chính phủ bảo hộ giặc Pháp và chính phủ bù nhìn Việt Nam Nam triều. Rõ là viên đá móng đầu tiên mới bắt đầu xây nền “dân quyền” trong thời “quân quyền” còn vững chắc như hòn đá lớn nằm trên dốc cao, dưới có mấy gành đá ngăn đỡ, mà lần này mới bắt đầu lung lay”[29]. Viên Toàn quyền Đông Dương bấy giờ thì lo ngại từ phong trào này sẽ dấy lên một sự thức tỉnh tinh thần dân tộc nhằm hướng đến lật đổ ách cai trị của Pháp. Y viết trong bản báo cáo gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp: “Với kiểu tác động có hệ thống đó thực ra họ không chỉ nhằm giảm một vài thứ thuế mà nhằm – tôi xin nhắc lại đây mới là điều nghiêm trọng và đáng lo cho tương lai – tạo ra một sự hỗn loạn về tổ chức cai trị trong toàn quốc và chuẩn bị sự thức tỉnh của một phong trào dân tộc”[30].Mặc dù đàn áp khốc liệt nhưng Toàn quyền Đông Dương cũng phải sửa đổi đôi chút chính sách bóc lột để giảm bớt sự công phẫn của nhân dân, như giảm bớt số tiền thuế và số ngày đi xâu, xem xét trừng trị một số quan lại tham nhũng, yêu cầu chính quyền hàng tỉnh phải có chương trình cụ thể đảm bảo an toàn tối thiểu cho người đi làm xâu, tránh không được huy động một lúc cả xã hay trong những ngày mùa. Cũng qua sự kiện này, Lênin có nhận xét: “Cứ xem thái độ của Pháp ở Đông Dương thì thấy rằng lần này một số tên tham gia cướp bóc thuộc địa đã cảm thấy không yên lòng… Chúng cũng run sợ cho sự toàn vẹn của những thuộc địa châu Á “của chúng” ở bên cạnh Trung Quốc”[31]. * Bài đăng trong Kỷ yếu Hội thảo "100 năm phong trào chống thuế Quảng Nam", do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam ấn hành, 2008, có bổ sung.[1] Dẫn theo Huỳnh Thúc Kháng: Một ít dật sự trên đoạn lịch sử Việt Nam cách mạng trong thời kỳ thuộc Pháp 1885-1945”. Xem Chương Thâu: Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng (chọn lọc). Nxb Đà Nẵng, 1989, tr272.[2] Lời kể của Nguyễn Trữ và Phan Quang quê huyện Tiên Phước, là những người có vai trò hướng đạo trong cuộc vận động xin sưu giảm thuế ở các tổng Phước Lợi, Vinh Quý thuộc phủ Tam Kỳ. Dẫn theo tài liệu “Lịch sử phong trào yêu nước chống Pháp huyện Tiên Phước” của ông Trần Ngọc Chương (bản đánh máy), 1980.[3] Dẫn theo Lâm Quang Thự: Quảng Nam, địa lý - lịch sử - nhân vật. Xem: Lâm Quang Thự, người con đất Quảng. Nxb Đà Nẵng và Họi Khoa học Lịch sử Đà Nẵng xuất bản, 2005, tr 732.[4] Dẫn theo nội dung tờ truyền đơn “thông tri” về phong trào chống thuế và bài giới thiệu của nhà nghiên cứu quá cố Nguyễn Văn Xuân, trong tập kỷ yếu Nghiên cứu lịch sử địa phương và chuyên ngành Quảng Nam – Đà Nẵng của Ty Văn hoá và Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng . Số 1/1981[5] Cụ Huỳnh Thúc Kháng cho biết, khi phong trào bị khủng bố, ông Trần Thuyết bị kết án xử trảm. Trong án có câu: “Thanh thanh thực đề đốc can, nhất hô nhi thất tổng chi dân giai ứng”. Nghĩa là: “Một tiếng hô ăn gan đề đốc mà nhân dân bảy tổng hưởng ứng”.[6] Truyền đơn chữ nho in thạch, nhan đề “Kính cáo đồng bào thư”, viết ngày 3 tháng 3 năm Duy Tân thứ hai (3/4/1908). Dẫn theo Trần Ngọc Chương. Ông Trần Ngọc Chương không xác định tác giả của tờ truyền đơn, chúng tôi xác định của Nguyễn Hàn Chi viết.[7] Dẫn theo Tổng tập văn học Việt Nam. T 21. Nxb KHXH. H, 1996, tr 806.[8] Dẫn theo Hồ Song. Bài đăng trên tạp chí Non Nước, số 24-25 tháng 3-4/1999. [9] Dẫn theo Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam: Lịch sử Việt Nam. T2. Nxb KHXH. H, 1985, tr105.[10] Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới. Q1,t1. Nxb Đà Nẵng, 2001, tr57.[11] Dẫn theo Nguyễn Q. Thắng: Phan Châu Trinh, cuộc đời và tác phẩm. Nxb Văn học, 1992, tr199-200.[12] Nguyễn Ái Quốc: Bản án chế độ thực dân Pháp. Nxb Sự Thật. H, 1985, tr93.[13] Tài liệu đã dẫn.[14] Dẫn theo Nguyễn Thế Anh: Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản triều Duy Tân. Tủ sách Sử học. Bộ Văn hoá giáo dục và Thanh niên xuất bản, 1973, tr 25.[15] Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới. Sđd, tr102.[16] Ở Quảng Ngãi, Bình Định và nhiều tỉnh khác ở miền Trung lãnh đạo phong trào này cũng là những cử nhân, tú tài.[17] Mính Viên: Thi tù tùng thoại. Nam Cường xuất bản. Sài Gòn, 1951, tr64.[18] Dẫn theo Chương Thâu: Tlđd, tr 269.[19] Tài liệu sưu tầm và dịch của bà Lê Thị Kinh, xem Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới. Q2t1, tr 58-59.[20] Dẫn theo Chương Thâu: Tlđd, tr 276.[21] Báo cáo mật của Tri phủ Tam Kỳ gửi Tổng đốc Nam – Nghĩa, ngày mùng 4 tháng 3 năm Duy Tân thứ hai (4/4/1908). Dẫn theo Trần Ngọc Chương.[22] Lời kể của Nguyễn Trữ. Dẫn theo Trần Ngọc Chương.[23] Bản dịch tiếng Pháp lưu tại Aix-en Provence. Dẫn theo PGs Hồ Song, trong bài Vụ dân biến miền Trung đầu năm 1908.[24] Dẫn theo Hồ Song. Tài liệu đã dẫn.[25] Tài liệu lưu CAOM. Ký hiệu SPCE372. Bản dịch chép tay của bà Lê Thị Kinh.[26] Dẫn theo Nguyễn Q. Thắng: Phan Châu Trinh, cuộc đời và tác phẩm. Nxb TPHCM, 1992, tr308[27] Dẫn theo Chương Thâu: Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng (chọn lọc). Nxb Đà Nẵng, 1989, tr 282.[28] Theo Nguyễn Thế Anh, trong bài Thử xét các nguyên nhân của phong trào kháng thuế ở miền Trung năm 1908. Bài in trong Nghiên cứu Việt Nam. Tập I. Dẫn lại từ bài viết của Hồ Song “Vụ dân biến ở miền Trung…”. [29] Huỳnh Thúc Kháng: Cuộc cự sư Trung Kỳ. Dẫn theo Chương Thâu: Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng (chọn lọc). Nxb Đà Nẵng, 1989, tr 268-269.[30] Dẫn theo Lê Thị Kinh. Tlđd, tr 63[31] Lênin: Toàn tập. T17. Nxb Tiến Bộ. M, 1979, tr217.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài đăng Mới hơn Bài đăng Cũ hơn Trang chủ Đăng ký: Đăng Nhận xét (Atom)

Lưu trữ Blog

  • ▼  2011 (10)
    • ▼  tháng 9 (10)
      • TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN THẮNG CHỦ NGHĨA PHÁT XÍT ĐỐI V...
      • TẦM VÓC CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM CỦA VIỆT NAM QUA...
      • TẠO THỜI CƠ VÀ TẬN DỤNG THỜI CƠ TRONG CHỈ ĐẠO CUỘ...
      • GIẢI PHÓNG TIÊN PHƯỚC – TẠO THẾ VÀ LỰC CHO GIẢI PH...
      • PHONG TRÀO “XIN SƯU, KHẤT THUẾ” Ở QUẢNG NAM NĂM 1908
      • CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT...
      • SỰ BỀN BỈ, LIÊN TỤC TRONG XÂY DỰNG, CỦNG CỐ TỔ CH...
      • MẶT TRẬN ĐÀ NẴNG – NƠI DIỄN RA CHIẾN THẮNG LỚN...
      • CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI Q...
      • ĐÀNG TRONG DƯỚI THỜI QUỐC CHÚA NGUYỄN PHÚC CHU (1...

Giới thiệu về tôi

Ngô Văn Minh Blog Blog này chứa những bài viết của tác giả Ngô Văn Minh, blog đang trong giai đoạn hoàn thiện. Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

Từ khóa » Khất Sưu Là Gì