Tạo đường Viền Má: Chỉ định, Kỹ Thuật
Có thể bạn quan tâm
Tạo hình gò má là một thủ thuật tiêm chất làm đầy vào mô mềm ở vùng giữa mặt để phục hồi thể tích đã mất, nâng cao xương gò má và tạo đường nét khuôn mặt rõ nét hơn. Không giống như phẫu thuật căng da mặt, đây là một thủ thuật xâm lấn tối thiểu, không cần rạch da hay nằm viện lâu, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và hạn chế.
Các tác nhân chính được sử dụng để tạo hình má hiện nay là chất làm đầy dựa trên axit hyaluronic, canxi hydroxyapatite, polycaprolactone và mỡ tự thân của bệnh nhân. Các đánh giá có hệ thống cho thấy chất làm đầy axit hyaluronic cho vùng giữa mặt mang lại sự hài lòng cao cho bệnh nhân và bác sĩ với hồ sơ an toàn tương đối tốt khi tuân thủ các nguyên tắc giải phẫu và kỹ thuật. [1]
Trong những năm gần đây, trọng tâm đã dần chuyển từ "nâng gò má" sang phục hồi cấu trúc bình thường của vùng giữa mặt: bác sĩ không chỉ tác động lên đường gò má mà còn tác động lên các mô mỡ sâu, điểm neo và vùng chuyển tiếp mượt mà từ mí mắt sang má. Điều này cho phép tạo ra kết quả tự nhiên hơn, thay vì "quá căng". [2]
Bảng 1. So sánh đường viền má với các phương pháp trẻ hóa khác ở phần giữa khuôn mặt
| Phương pháp | Nhiệm vụ chính | Tính xâm lấn | Thời gian phục hồi |
|---|---|---|---|
| Chăm sóc, lột da, thiết bị | Chất lượng da | Thấp | Tối thiểu |
| Độc tố Botulinum, phục hồi sinh học | Nếp nhăn, độ ẩm của da | Thấp | Tối thiểu |
| Phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình má | Thể tích và hình dạng của má và xương gò má | Trung bình | Ngắn |
| Phẫu thuật căng da mặt | Nâng mô gốc | Cao | Dài hạn |
Giải phẫu má và những thay đổi liên quan đến tuổi tác
Phần giữa khuôn mặt chủ yếu được hình thành bởi xương gò má, các mô mỡ sâu và nông, dây chằng và da. Về mặt thẩm mỹ, cung gò má, vùng dưới gò má và vùng chuyển tiếp mí mắt-má đặc biệt quan trọng. Với thể tích và sự hỗ trợ phù hợp, vùng này trông đầy đặn nhưng không bị sưng: xương gò má rõ nét, nếp gấp mũi má không sắc nét và không có hốc mắt rõ rệt. [3]
Theo tuổi tác và ảnh hưởng của di truyền, hút thuốc, biến động cân nặng và tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, những thay đổi điển hình xảy ra: các mô mỡ sâu giảm thể tích, dây chằng căng ra, các mô "trượt" xuống dưới, các nếp gấp mũi má và rãnh mũi má trở nên rõ rệt hơn, và xuất hiện tình trạng chảy xệ. Đồng thời, da mất đi độ dày và độ đàn hồi. Kết quả là, khuôn mặt trông mệt mỏi và "trơ trẽn", ngay cả khi da được chăm sóc kỹ lưỡng. [4]
Tạo hình gò má chủ yếu nhằm mục đích khôi phục các điểm nâng đỡ và thể tích như khi còn trẻ. Việc chỉ tiêm chất làm đầy vào các mô mềm đã chảy xệ mà không xem xét cấu trúc bên dưới sẽ dẫn đến vẻ ngoài nặng nề và giả tạo. Do đó, phương pháp hiện đại là tác động vào các khoang sâu và tiêm liều lượng tối thiểu vào các lớp bề mặt. [5]
Bảng 2. Những thay đổi chính liên quan đến tuổi tác ở phần giữa khuôn mặt
| Kết cấu | Những thay đổi liên quan đến tuổi tác | Hiệu ứng hình ảnh |
|---|---|---|
| Đệm mỡ sâu | Giảm âm lượng, dịch chuyển xuống | Má hóp, vẻ mặt mệt mỏi |
| Các gói mỡ bề mặt | Trượt và phân phối lại | Tăng cường nếp gấp, "bay" |
| Dây chằng | Kéo giãn, suy yếu | Mất định nghĩa hình bầu dục |
| Da thú | Mỏng đi, mất độ đàn hồi | Các mô mềm "chảy" xuống |
Các loại tạo khối má
Chất làm đầy axit hyaluronic
Axit hyaluronic là loại chất làm đầy má phổ biến nhất. Nó là một chất tương thích sinh học, tương tự như các mô của cơ thể. Các loại gel khác nhau về mật độ và liên kết chéo phân tử, quyết định khả năng duy trì thể tích và khả năng chịu lực của chúng. Đối với má, các công thức đặc hơn và đàn hồi hơn thường được sử dụng, được thiết kế đặc biệt để phục hồi thể tích cho vùng giữa mặt. Các đánh giá có hệ thống xác nhận hiệu quả tốt và sự hài lòng trong việc điều chỉnh các khiếm khuyết về thể tích ở vùng giữa mặt. [6]
Khi được sử dụng đúng cách, chất làm đầy axit hyaluronic tạo ra kết quả trông tự nhiên, nhưng sẽ giảm dần khi gel phân hủy sinh học. Thời gian hiệu quả trung bình ở vùng má là khoảng 9 đến 18 tháng, với các nghiên cứu riêng lẻ báo cáo lên đến 24 tháng, tùy thuộc vào sản phẩm, độ sâu tiêm và đặc điểm chuyển hóa của từng cá nhân. [7]
Canxi hydroxyapatite và polycaprolactone
Chất làm đầy gốc canxi hydroxyapatite (như Radiesse) là các vi cầu khoáng chất được phân tán trong gel. Chúng có tác dụng hỗ trợ tốt và kích thích quá trình hình thành collagen mới. Các nghiên cứu cho thấy những sản phẩm này có thể được sử dụng an toàn và hiệu quả ở vùng má và gò má, miễn là tuân thủ kỹ thuật tiêm sâu và các hạn chế về mặt giải phẫu. [8]
Các sản phẩm gốc polycaprolactone cũng được coi là chất làm đầy sinh học kích thích với hiệu quả tương đối lâu dài và khả năng kích thích tổng hợp collagen. Tuy nhiên, dữ liệu về kết quả lâu dài và các biến chứng của chúng ít hơn so với axit hyaluronic và canxi hydroxyapatite, vì vậy việc lựa chọn các sản phẩm này cần đặc biệt cẩn thận. [9]
Mỡ tự thân và các giải pháp tái tạo
Cấy mỡ tự thân vào má là việc cấy mô mỡ của chính bệnh nhân sau khi lấy, xử lý và tiêm vào vùng thiếu hụt. Cấy mỡ tự thân giúp phục hồi thể tích và chất lượng da, nhưng có tỷ lệ sống sót khác nhau và các biến chứng cụ thể, bao gồm bất thường, hoại tử mỡ, u hạt và, trong một số trường hợp hiếm gặp, tắc mạch. [10]
Các chất tiêm tái tạo dựa trên nền tảng mỡ của người hiến tặng cũng đang nổi lên, kích thích sự hình thành mô mỡ tự thân của cơ thể và mang lại sự tái tạo nhẹ nhàng. Đây là những giải pháp chuyên biệt hơn, đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ định và không dành cho việc tạo hình xương gò má rộng rãi. [11]
Bảng 3. Các loại chất làm đầy má chính
| Loại thuốc | Thuận lợi | Nhược điểm và tính năng |
|---|---|---|
| Axit hyaluronic | Khả năng đảo ngược, khả năng dự đoán, cơ sở bằng chứng | Thời gian hiệu lực có hạn |
| Canxi hydroxyapatite | Nâng cơ mạnh mẽ, kích thích collagen | Không hòa tan với hyaluronidase |
| Polycaprolacton | Hiệu quả kích thích sinh học lâu dài | Ít dữ liệu hơn về an toàn lâu dài |
| Mỡ tự thân | Vật liệu "của chúng tôi", cải thiện chất lượng da | Sự sống còn thay đổi, nguy cơ không đồng đều |
Chỉ định và hạn chế
Chỉ định chính cho việc tạo hình má bao gồm tình trạng mất thể tích ở phần ba giữa khuôn mặt do tuổi tác, làm mịn cung gò má, làm sâu các nếp gấp mũi má và rãnh mũi má, má hóp do di truyền hoặc giảm cân đột ngột, và mất cân đối giữa phần trên và phần dưới khuôn mặt. Với vị trí và thể tích phù hợp, chất làm đầy có thể "nâng" mô, giảm sự xuất hiện của các nếp nhăn và mang lại cho khuôn mặt vẻ ngoài trẻ trung, "thoải mái" hơn. [12]
Tạo hình má không được chỉ định cho các trường hợp biến dạng khuôn mặt nghiêm trọng, da thừa đáng kể, mô mềm chảy xệ đáng kể và xương hàm nhô cao liên quan đến tăng cân tổng thể. Trong những trường hợp như vậy, tiêm thể tích chỉ có thể làm tăng trọng lượng khuôn mặt và làm nổi bật sự mất cân đối. Bài viết này thảo luận về các kỹ thuật phẫu thuật, giảm cân, quản lý chất lượng da và, nếu cần, kết hợp với tiêm chất làm đầy tối thiểu chỉ tại các điểm chính. [13]
Chống chỉ định tuyệt đối bao gồm các quá trình viêm và nhiễm trùng đang hoạt động tại vùng dự định tiêm, các bệnh toàn thân nghiêm trọng trong giai đoạn mất bù, các phản ứng dị ứng đã biết với các thành phần của thuốc, mang thai và cho con bú, rối loạn đông máu và các bệnh ung thư trong giai đoạn điều trị tích cực. Chống chỉ định tương đối bao gồm các bệnh tự miễn, xu hướng phản ứng u hạt, sợ tiêm nghiêm trọng và kỳ vọng không thực tế. [14]
Bảng 4. Khi nào thì việc tạo đường viền má là phù hợp và khi nào thì không
| Tình huống | Chiến thuật |
|---|---|
| Mất thể tích từ nhẹ đến trung bình | Có thể tạo đường viền má |
| Má hóp ở một bệnh nhân trẻ | Có thể, nhưng phải ở mức vừa phải |
| Sụp mí nặng, chảy xệ, da thừa | Phẫu thuật và giảm cân chủ yếu được thảo luận. |
| Viêm hoạt động, mất bù bệnh tật | Thủ tục được hoãn lại cho đến khi ổn định |
Chuẩn bị và lựa chọn thuốc
Trước khi thực hiện thủ thuật, bác sĩ sẽ thu thập tiền sử bệnh chi tiết, đánh giá tính cân đối của khuôn mặt, mô hình lão hóa, vị trí cung gò má, độ sâu của rãnh mũi má và rãnh mũi má, và tình trạng da. Hình ảnh chụp chiếu chuẩn cho phép ghi lại tình trạng ban đầu và theo dõi kết quả. Các kỳ vọng, phạm vi có thể và khả năng thực hiện lại các thủ thuật sẽ được thảo luận. [15]
Việc lựa chọn sản phẩm dựa trên mục tiêu và kế hoạch trẻ hóa tổng thể. Đối với việc điều chỉnh ban đầu, đặc biệt là ở những bệnh nhân thận trọng khi tiêm, chất làm đầy hyaluronic thường được lựa chọn vì chúng dễ kiểm soát và có thể đảo ngược. Chất làm đầy sinh học kích thích và tiêm mỡ nên được thảo luận tốt nhất sau khi đã có kinh nghiệm với axit hyaluronic, hiểu rõ phản ứng của từng mô và mong muốn hiệu quả lâu dài hơn. [16]
Vài ngày trước khi thực hiện thủ thuật, nên hạn chế sử dụng các loại thuốc làm tăng nguy cơ chảy máu và tụ máu, nếu tình trạng bệnh lý tiềm ẩn cho phép và đã được bác sĩ chuyên khoa chấp thuận. Hút thuốc lá và rượu bia làm chậm quá trình lành vết thương và tăng nguy cơ sưng tấy, do đó, nên kiêng hoặc giảm đáng kể lượng tiêu thụ các chất này. [17]
Bảng 5. Các yếu tố để lựa chọn chất làm đầy má
| Nhân tố | Lựa chọn ưu tiên |
|---|---|
| Thủ thuật đầu tiên, bệnh nhân thận trọng | Axit hyaluronic mật độ cao |
| Nhu cầu về hiệu quả lâu dài hơn | Canxi hydroxyapatite hoặc polycaprolactone theo chỉ định |
| Kết hợp trẻ hóa, cải thiện chất lượng da | Mỡ tự thân trong một số điều kiện nhất định |
Quy trình và quá trình phục hồi diễn ra như thế nào?
Tạo hình gò má được thực hiện trong phòng điều trị, tuân thủ tất cả các biện pháp phòng ngừa vô trùng. Kem gây tê được bôi lên vùng điều trị, sau đó gây tê thấm hoặc tiêm chất làm đầy chứa lidocaine. Thể tích tiêm và vị trí tiêm phụ thuộc vào giải phẫu và kết quả mong muốn: thông thường nhất, các điểm neo bolus được tạo trên xương và các đường hỗ trợ đường viền. Các kỹ thuật cụ thể vẫn do bác sĩ chịu trách nhiệm và không được tự ý thực hiện. [18]
Ngay sau khi thực hiện thủ thuật, có thể xuất hiện cảm giác đầy đặn, đau nhức vừa phải và sưng nhẹ hoặc nặng. Vùng má thường bị bầm tím. Với chất làm đầy axit hyaluronic, tình trạng sưng thường giảm trong vòng vài ngày. Với phương pháp tiêm mỡ tự thân hoặc chất kích thích sinh học, tình trạng sưng có thể kéo dài hơn và kết quả cuối cùng phát triển dần dần khi mô được tái tạo. [19]
Trong giai đoạn đầu, nên tránh các biểu hiện trên khuôn mặt tích cực, làm nóng mặt, massage, tập thể dục cường độ cao, xông hơi, cũng như ngủ úp mặt vào gối. Sự phân bố cuối cùng của chất làm đầy, đặc biệt là với thể tích lớn hơn, được đánh giá sau vài tuần, khi tình trạng sưng tấy đã giảm hoàn toàn. Nếu cần, có thể điều chỉnh tại chỗ hoặc, trong trường hợp tiêm axit hyaluronic, có thể hòa tan một phần bằng enzyme. [20]
Bảng 6. Cảm giác điển hình sau khi tạo hình má
| Giai đoạn | Cảm xúc và sự thay đổi |
|---|---|
| Những giờ đầu tiên | Sưng, cảm giác đầy, đau vừa phải |
| 1-3 ngày | Sưng tấy và bầm tím ở mức cao nhất |
| 4-7 ngày | Giảm sưng, làm mịn đường viền |
| 2-4 tuần | Đánh giá kết quả, có thể điều chỉnh thêm |
Các biến chứng và rủi ro có thể xảy ra
Hầu hết các biến chứng sau khi tạo hình má đều nhẹ và có thể hồi phục: sưng, bầm tím, đau nhức, mất cân xứng tạm thời hoặc nổi cục nhỏ. Những biến chứng này liên quan đến chấn thương mô do kim tiêm hoặc phản ứng với gel và thường tự khỏi hoặc chỉ cần các biện pháp đơn giản. [21]
Các vấn đề phức tạp hơn bao gồm sưng tấy kéo dài, các nốt sần dai dẳng, hiệu ứng Tyndall (màu xanh lam khi tiêm gel trong suốt vào bề mặt), sự di chuyển của chất làm đầy và sự tạo đường nét gel trên da mỏng. Mỡ tự thân có liên quan đến nguy cơ không đều màu, hoại tử mỡ, vôi hóa và các khuyết điểm dễ nhận thấy về mặt thẩm mỹ, đôi khi phát triển sau nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm. [22]
Biến chứng nguy hiểm nhất là biến chứng mạch máu. Nếu chất làm đầy xâm nhập vào mạch máu hoặc nếu có áp lực bên ngoài đáng kể, tình trạng thiếu máu cục bộ mô và hoại tử da có thể xảy ra. Sự xâm nhập ngược dòng của vật liệu vào các nhánh động mạch nối với mắt hoặc não có thể dẫn đến mất thị lực và các hậu quả nghiêm trọng khác. Các ấn phẩm gần đây mô tả chi tiết các trường hợp như vậy và nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu rõ về giải phẫu, sử dụng các kỹ thuật an toàn và sẵn sàng can thiệp ngay lập tức. [23]
Một nhóm biến chứng khác là phản ứng viêm chậm và u hạt, có thể phát sinh từ cả chất làm đầy và từ màng sinh học và nhiễm trùng muộn. Những biến chứng này đòi hỏi chẩn đoán chi tiết, đôi khi cần dùng kháng sinh, enzyme, corticosteroid, và trong trường hợp sử dụng chất kích thích sinh học và mỡ tự thân, cần các phương pháp phức tạp hơn, bao gồm cả phẫu thuật chỉnh sửa. [24]
Bảng 7. Phân loại tóm tắt các biến chứng của phẫu thuật tạo hình má
| Nhóm biến chứng | Ví dụ |
|---|---|
| Phổi | Sưng, bầm tím, đau nhức, cục u |
| Thẩm mỹ | Sự bất đối xứng, không đồng đều, sự di chuyển của gel |
| Viêm | Các nốt muộn, u hạt, nhiễm trùng |
| Mạch máu | Thiếu máu cục bộ, hoại tử da, suy giảm thị lực |
Kết hợp với các phương pháp khác và lựa chọn bác sĩ
Tạo hình má hiếm khi là phương pháp trẻ hóa duy nhất. Để đạt kết quả tối ưu, phương pháp này được kết hợp với các phương pháp điều trị vùng mũi má và rãnh mũi má, cằm và hàm dưới, tiêm độc tố botulinum vào một phần ba trên của khuôn mặt, và đôi khi kết hợp với kỹ thuật luồn chỉ và các thủ thuật phần cứng. Điều quan trọng là kế hoạch phải nhất quán và ưu tiên sự an toàn, chứ không chỉ là mong muốn "làm mọi thứ cùng một lúc". [25]
Yếu tố an toàn quan trọng nhất là trình độ chuyên môn và đào tạo của bác sĩ. Việc tiêm vào vùng má nên được thực hiện bởi các chuyên gia y tế am hiểu về giải phẫu khuôn mặt, các quy trình xử lý biến chứng và khả năng tiếp cận thuốc cấp cứu. Các cơ quan quản lý và các hiệp hội chuyên môn đã ghi nhận rõ ràng sự gia tăng các biến chứng nghiêm trọng khi các thủ thuật được thực hiện bởi những người chưa được đào tạo. [26]
Việc làm rõ trước loại thuốc cụ thể mà bệnh nhân dự định sử dụng, loại thuốc đó có được đăng ký hay không, bác sĩ sử dụng thuốc thường xuyên như thế nào, những biến chứng nào đã gặp phải và cách xử lý chúng sẽ rất hữu ích. Những tuyên bố kiểu "không có gì khủng khiếp có thể xảy ra" không phù hợp với dữ liệu từ các đánh giá có hệ thống, trong đó các biến chứng về mạch máu và viêm, mặc dù hiếm gặp, nhưng đã được mô tả khá chi tiết. [27]
Bảng 8. Những câu hỏi cần hỏi bác sĩ trước khi tạo hình má
| Câu hỏi | Tại sao cần phải có nó? |
|---|---|
| Chất độn nào sẽ được sử dụng? | Hiểu về vật liệu và thời gian kéo dài của hiệu ứng |
| Bác sĩ có kinh nghiệm gì với loại thuốc này? | Đánh giá năng lực thực hành |
| Những biến chứng nào đã gặp phải và cách giải quyết như thế nào? | Đánh giá rủi ro thực tế |
| Có những phương pháp thay thế nào cho tiêm thuốc? | Hiểu xem liệu thủ tục có được áp dụng hay không |
Câu hỏi thường gặp
Tạo hình má có phải là giải pháp thay thế cho phẫu thuật căng da mặt không? Không. Chất làm đầy tác động lên thể tích và mô mềm, nhưng không loại bỏ được da thừa và không thể nâng cơ mặt chảy xệ nghiêm trọng. Đối với những thay đổi liên quan đến tuổi tác từ nhẹ đến trung bình, chất làm đầy có thể làm mới khuôn mặt và "nâng" nhẹ mô mềm, nhưng đối với tình trạng sụp mí mắt nghiêm trọng, các lựa chọn phẫu thuật đang được thảo luận. [28]
Kết quả tạo hình má kéo dài bao lâu? Hiệu quả rõ rệt trung bình kéo dài từ 9 đến 18 tháng khi sử dụng chất làm đầy axit hyaluronic, đôi khi lâu hơn. Canxi hydroxyapatite và polycaprolactone mang lại hiệu quả lâu dài hơn bằng cách kích thích sản sinh collagen, trong khi tiêm mỡ tự thân có thể kéo dài một phần trong nhiều năm, miễn là mỡ được hấp thụ. Tuy nhiên, quá trình lão hóa mô vẫn tiếp diễn, vì vậy đôi khi cần phải điều chỉnh để duy trì. [29]
Liệu có thể hòa tan hoàn toàn kết quả nếu bạn không hài lòng không? Điều này chỉ khả thi đối với chất làm đầy gốc axit hyaluronic, có thể hòa tan một phần hoặc hoàn toàn bằng hyaluronidase. Không có "mạng lưới an toàn" nào như vậy đối với chất làm đầy gốc mỡ tự thân, canxi hydroxyapatite, polycaprolactone và chất làm đầy gốc mỡ tự thân. Tất cả các biện pháp khắc phục trong những trường hợp này chỉ giới hạn ở việc tiêu xương, tiêm thêm, hoặc trong trường hợp nghiêm trọng, phẫu thuật. [30]
Tạo hình gò má có nguy hiểm cho thị lực không? Khi thực hiện các thủ thuật ở phần giữa khuôn mặt, nếu kỹ thuật không đúng cách, có thể xảy ra biến chứng mạch máu, chất làm đầy sẽ thẩm thấu ngược vào các mạch máu liên quan đến mắt, về mặt lý thuyết có thể dẫn đến suy giảm thị lực. Những trường hợp như vậy cực kỳ hiếm gặp, nhưng đã được mô tả trong tài liệu. Điều này giải thích sự nhấn mạnh nghiêm ngặt về giải phẫu, kỹ thuật an toàn và sự sẵn sàng của bác sĩ trong việc phản ứng ngay lập tức với các dấu hiệu tai biến mạch máu. [31]
Làm sao để biết loại nào tốt hơn: tiêm chất làm đầy má hay tiêm mỡ tự thân? Đối với những bệnh nhân gầy, thiếu hụt thể tích đáng kể và cân nặng ổn định, tiêm mỡ tự thân có thể mang lại hiệu quả mềm mại và lâu dài hơn, đồng thời cải thiện chất lượng da. Tuy nhiên, phương pháp này gây nhiều đau đớn hơn, đòi hỏi phải lấy mỡ và tỷ lệ sống sót khác nhau. Tiêm chất làm đầy được ưa chuộng hơn khi mong muốn kết quả có thể kiểm soát và đảo ngược, ít xâm lấn và có khả năng điều chỉnh từng bước một cách cẩn thận. Lựa chọn tối ưu nên được thảo luận với bác sĩ dựa trên mục tiêu, độ tuổi, tiền sử bệnh và khả năng chịu đựng rủi ro của bệnh nhân. [32]
Từ khóa » đường Viền Má
-
Phân Tích Trước Các đường Viền Của Khuôn Mặt
-
Cách để Có đường Viền Hàm Rõ Nét - WikiHow
-
Đường Viền Mới Cho Gương Mặt - Báo Phụ Nữ
-
Cách Tạo đường Viền Và Làm Nổi Bật Khuôn Mặt Của Bạn Với Cọ Xếp ...
-
5 Bài Tập Hiệu Quả Nhất để Có được đường Viền Hàm Jawline đẹp ...
-
Mewing Sẽ Thay đổi Cấu Trúc Nào Trên Khuôn Mặt?
-
[PDF] Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ đường Viền Khuôn Mặt
-
[PDF] PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ ĐƯỜNG ... - Hội Y Học TP.HCM
-
9 Bài Tập "hô Biến" Người Béo Mặt Sở Hữu Gương Mặt V-line Thời ...
-
CÁCH XÁC ĐỊNH HÌNH DẠNG KHUÔN MẶT - Minh Nhã
-
Tập Cơ Mặt Jawline – “điêu Khắc” Khuôn Mặt Theo Cách Của Bạn - Fado
-
8 Bí Kíp Xóa Nếp Nhăn Rãnh Mũi Má, Giúp Bạn Trẻ Ra 10 Tuổi
-
Hạ Gò Má Cao - Suckhoe123