Từ Việt-Hán | Phanxipăng

Lâu nay, mọi người thường bàn về từ Hán-Việt. Bài này đề cập từ Việt-Hán.

Từ chuyện múa rối

Trong hai tháng 8 và 9-2001, Đoàn Nghệ thuật Múa rối TP.HCM đã sang Hoa Kỳ biểu diễn liên tục 39 suất ở nhiều bang: Florida, Texas, New York, v.v. Suất diễn nào cũng hấp dẫn đông đảo khán giả. Vì sao?

Khắp thế giới, đâu đâu cũng thấy múa rối. Song, đó là các loại rối tay, rối que, rối dây, rối dẹt, rối mềm, rối bóng. Duy Việt Nam cống hiến một loại múa rối cổ truyền cực kỳ tài hoa, độc đáo và riêng biệt : rối nước. Rối nước Việt Nam có vị trí trong “bản đồ xuất khẩu văn hóa” là vì vậy.

Qua chuyên luận Nghệ thuật múa rối Việt Nam (NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1994), nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng khẳng định: “Múa rối nước, một môn nghệ thuật chỉ còn thấy ở nước ta”.

Nếu thế thì xưa kia, rối nước cũng từng tồn tại ở xứ khác ư? Một Hoa kiều đang sinh sống tại Chợ Lớn ghi đôi chữ 傀儡 rồi nói:

– Múa rối, tiếng quan thoại là kuei lei, âm Hán-Việt là khôi lổi hoặc ổi lổi. Bên Trung Quốc, múa rối có nhiều loại, kể cả… rối nước. Tiếng quan thoại gọi shui kuei lei, tức thủy khôi lổi, chính là múa rối nước đó. Vậy phải chăng múa rối nước Việt Nam vốn du nhập từ Trung Quốc? Hiện tại thì khắp Trung Quốc chẳng còn thấy rối nước nữa.

Giáo sư tiến sĩ dân tộc nhạc học Trần Văn Khê đã lý giải chuyện này trong hồi ký của mình. Ông nhận xét rằng về ngôn ngữ, người Trung Hoa khi tạo ra một vật gì đều đặt cho nó một cái tên bằng tiếng Hán, nhưng nếu vật phẩm từ nước ngoài đem tới thì họ thường gọi tên theo lối phiên âm. Chẳng hạn kèn dăm-đôi có nguồn gốc Thổ Nhĩ Kỳ, người Hoa gọi nhạc khí ấy là suona – một cách phiên âm từ zourna của tiếng Thổ. Trên cơ sở đó, ông đặt vấn đề xem xét chữ kuei lei, tức khôi lổi chỉ con rối là tiếng Trung Quốc hay phiên âm. Ông viết: “Chữ khôi gồm chữ nhân đứng bên chữ quỹ (1), có thể tạm chấp nhận đó là ‘hội ý’, tuy là hình dáng của người mà không phải người. Nhưng còn chữ lổi gồm chữ nhân đứng bên ba chữ điền, đó không phải tượng hình cũng không phải là hội ý, vậy đó có thể là một chữ phiên âm. Thế thì biết đâu chữ lổi chính là phiên âm từ chữ lối của Việt Nam ngày xưa, rồi thành ra rối sau này. Cũng giống như ngày nay chúng ta dùng chữ trời vốn là chữ blời ngày xưa”. Tiếp đến, giáo sư Trần Văn Khê phân tích thêm một số nét đặc trưng mà chỉ múa rối nước Việt Nam mới có (về thủy đình, chú tễu, nhạc cụ, nhạc khí, làn điệu và cả yếu tố nước, v.v.), rồi kết luận: “Tất cả những chuyện đó cho phép tôi kết luận rằng có thể chính chúng ta tạo ra múa rối nước, truyền từ đời này qua đời khác mãi tới bây giờ vẫn còn. Trong khi đó, bên Trung Quốc qua tới đời nhà Thanh thì múa rối nước đã mai một rồi. Vì vậy tôi tạm cho rằng múa rối nước là bộ môn nghệ thuật đặc biệt của Việt Nam”.

Rối nước mời trầu. Ảnh: Thuỳ Linh

Thêm chuyện trầu cau

Ngày nay, khắp nước ta, phong tục ăn trầu cau không còn phổ biến rộng rãi thường nhật. Thế nhưng, trong những nghi thức cúng bái tổ tiên, trong các “đại sự” như quan-hôn-tang-tế, quả cau với lá trầu luôn là lễ vật cần thiết. Đặc biệt với đám hỏi, đám cưới, nhất quyết không thể thiếu mâm cau-trầu-rượu. Tục lệ ấy tương truyền xuất hiện vào thuở Hùng Vương. Theo Lĩnh Nam chích quái do Trần Thế Pháp biên soạn hồi thế kỷ XIV, sau này Nguyễn Đổng Chi ghi lại trong bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Tập 1 – NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1976, trang 87) thế này: “Điều đáng chú ý là luật của nhà vua (Hùng Vương) bắt buộc trai gái khi kết hôn thế nào cũng phải tìm cho được ba món trầu, cau và vôi cho mọi người nhai nhai, nhổ nhổ một tí để ghi nhớ tình yêu không bao giờ phai lạt. Vì thế, từ đó dân Việt mới có tục ăn trầu”.

Sự tích kể mối tình vô cùng éo le và cảm động giữa hai anh em ruột nhà họ Cao, một tên Tân, một tên Lang, với cô gái họ Lưu. Kết cục Lang hóa đá vôi, Tân hóa cây cau và nàng họ Lưu hóa thành dây trầu quấn quít. Truyện đó, nhiều người đã biết. Người ta cũng biết rằng tân lang, tiếng Hán – phồn thể ghi 檳榔, giản thể ghi 槟榔 – dùng để gọi cây cau, đồng âm với từ chỉ chàng trai mới lấy vợ tức chú rể. Còn phù lưu cũng là tiếng Hán, ghi 浮留, dùng để gọi cây trầu không. Sở dĩ có cách đặt tên nhân vật trùng hợp như thế là do Trần Thế Pháp biên soạn Lĩnh Nam chích quái bằng chữ Hán; khoảng một thế kỷ sau thì Vũ Quỳnh và Kiều Phú lại hiệu đính, dĩ nhiên cũng bằng chữ Hán: 嶺南摭怪. Còn trước đấy rất lâu, truyện từng được dân gian lưu truyền và tên của ba nhân vật thì mỗi nơi một khác – như các dị bản đã sưu tầm được ở Nghệ An, Thừa Thiên, Quảng Nam. Điều đó có thể khẳng định là tục ăn trầu vốn xuất hiện trong cộng đồng người Việt từ xa xưa, trước khi bị người Hán tràn qua thống trị. Luận điểm này được củng cố vững chắc bởi các cứ liệu sinh thái học, khảo cổ học, dân tộc học và ngôn ngữ học lịch sử.

Hàng loạt di chỉ được khai quật thời gian qua, nhất là các mộ thuyền từ xa xưa, đã cho thấy vết tích của tục lệ ăn trầu trong cư dân Việt cổ thông qua di cốt mà dễ thấy nhất là hàm răng cùng đồ tùy táng. Trong khi đó, các tộc người phương Bắc không có thói quen ăn trầu. Vậy cư dân Việt cổ gọi trầu là gì?

Tương tự sự chuyển hóa ngữ âm blời thành trời, danh từ trầu / giầu ngày nay nguyên là blầu / blàu thuở xa xưa. Tên gọi loài thực vật nhiệt đới này của cư dân Việt thuở ấy đã được người Hán tiếp thụ và phiên âm, thoạt tiên là bồ lưu, dần trở thành phù lưu. Một làng cổ ở tỉnh Bắc Ninh nước ta từng nổi tiếng trồng trầu là làng Phù Lưu, tên nôm là làng Giầu.

Cây cau, một loài thực vật xuất xứ ở Nam Á, đã được người Trung Quốc di thực về trồng với số lượng rất ít, chủ yếu để làm cảnh. Như đã nêu, cây cau được ghi chữ Hán là tân lang, âm Bắc Kinh là bīnláng, âm Quảng Đông là bánh loòng. Những từ đó đều mang nguồn gốc phương Nam.

Tra cứu Từ điển từ Việt cổ do Nguyễn Ngọc San và Đinh Văn Thiện biên soạn (NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2001), sẽ thấy ông cha ta thuở xưa gọi cây cau là nang. Dấu vết từ cổ này hiện nay vẫn còn sót lại trong mo nang (= mo cau). Đối chiếu với một số ngôn ngữ cùng họ Nam Á, cũng thấy âm nang tồn tại trong từ chỉ cây cau. Chẳng hạn tiếng Mường là nang, tiếng Êđê là mnang.

Cau trầu. Ảnh: Phanxipăng

Đôi câu chuyện đang đề cập gợi ra hướng khả thi để phát hiện từ Việt-Hán: trước mắt, hãy tìm những từ tiếng Hán dùng để gọi các “đặc sản” của đất phương Nam và xem thử những từ nào mang gốc gác tiếng Việt.

Loạt tên cây cối

Cây cau có tên khoa học Areca catechu L., thuộc họ Cau (Arecaceae). Areca là cách gọi cây cau của người Ấn Độ và người Philippines. Từ cau trong tiếng Việt cũng chính do phiên âm tắt từ areca ấy. Dần dần, từ cau thay thế một từ cổ là nang. Như chúng ta đã biết, từ binh lang / tân lang trong tiếng Hán vốn xuất xứ bởi từ nang kia của người Việt cổ.

Cùng họ Cau, còn có cây báng, tên gọi khác là cây đoác. Cuống hoa báng chứa nhiều nước ngọt, có thể cho lên men rượu hoặc đem chưng cất thành đường. Do đó, người Pháp gọi cây báng là palmier à sucre. Lõi ruột thân cây báng chứa nhiều tinh bột nên dân vùng sơn cước khai thác làm bột báng. Cho đến nửa cuối thế kỷ XX, người Rục ở rừng núi phía tây tỉnh Quảng Bình còn lấy bột báng làm lương thực chính. Lần lại quá khứ thì thấy cư dân Việt cổ trong giai đoạn văn hóa bầu bí cũng dùng bột báng làm thức ăn. Thuở đó, tiếng Việt cổ gọi cây báng là klang.

Theo quy luật biến đổi phụ âm đầu kl > bl > b, ví như klan dần thành blan rồi ra bàn, từ klang cũng biến âm thành blang và cuối cùng trở nên báng. Người Hán đã di thực cây klang về phương Bắc trồng làm cảnh và phỏng theo người Việt mà gọi cây là quang lang, ghi 桄榔.

Đoác

Có cây khác cũng thuộc họ Cau, được xem là một trong những “đặc sản” nổi tiếng ở khu vực nhiệt đới bao gồm Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, lndonesia, Phinippines. Cây này rất khó phát triển ở phương Bắc vì không thích nghi nổi khí hậu giá rét. Đó là cây dừa, âm Tày-Thái là da. Từ đó đã được nhập vào Trung Quốc. Quả dừa, tiếng Hán là da tử. Chữ da, ghi 椰, âm Quảng Đông là dề, âm Bắc Kinh là yé.

Quả dừa. Ảnh: Phúc Đường

Một cây phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cực kỳ quen thuộc khắp nước ta: cây chuối. Từ này, người Hoa đọc chíu / chéo và viết bằng chữ tiêu có bộ thảo đầu thành 蕉. Chẳng khó khăn gì cũng thấy được mối liên hệ giữa các tên gọi cùng một sự vật của hai ngôn ngữ và có thể phán đoán được thứ tiếng nào đã ảnh hưởng đến thứ tiếng nào.

Buồng chuối. Ảnh: Đơn Hồng Uy

Từ thượng cổ, cư dân Việt đã đào gừng lấy củ làm gia vị và làm thuốc. Tên củ gừng thuở ấy là keng. Người Hán nhận thấy đây là dược liệu quý, vị cay, tính ôn, tác động lên ba kinh phế, tì và vị, chữa trị được nhiều chứng bệnh, nên nhập về phương bắc và phỏng theo âm Việt cổ mà ghi chữ 薑, bính âm phát jiāng, âm Hán-Việt phát khương. Củ gừng khô là can khương, gừng tươi là sinh khương. Không chỉ nhập gừng, họ còn nhập cả lúa nước và mía từ Giao Chỉ. Sách Tề dân yếu thuật, một thư tịch cổ của Trung Hoa, còn cho biết như thế.

Gừng

Trong kỷ yếu Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ phương Đông (Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 1986), Trần Quốc Vượng chỉ ra: “Trung Quốc ở vùng trung lưu Hoàng Hà khí hậu khô và lạnh, lượng mưa thấp, nên người Hoa cổ chủ yếu dùng cây cao lương, kê và lúa mạch, lúa vùng khô gọi là tắc. Lưu vực Hoàng Hà không phải là vùng thích hợp với những đặc tính sinh thái của cây lúa vốn là thực vật ưa nước và cần nhiệt độ trung bình trên 130C để phát dục. Vì vậy từ đạo (lúa) đọc là tạo (2) trong tiếng Hán là một cách phiên âm từ khẩu trong tiếng Tày-Thái”. Còn trong sách Tìm hiểu về tiếng Việt lịch sử (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1993, trang 92), Nguyễn Ngọc San khẳng định : “Từ đường trong tiếng Hán cũng bắt nguồn từ Giao Chỉ”.

Từ chỉ sự vật và con người

Trước kia, người Hán ở phương Bắc gọi con sông là hà, ghi 河. Ví dụ: Hoàng Hà (Huanghe), Y Hà (Yinhe), Vĩnh Định Hà (Yondinghe). Về sau, họ có thêm từ giang, ghi 江, để chỉ các dòng sông ở phía nam Trường Giang (Chiangjiang). Phân tích chữ giang đó, sẽ thấy thanh phù công đi kèm bộ thủy. Mà công cùng những biến âm kôn, khôông, krôn, krông chính là cách gọi sông nước đặc trưng của các dân tộc phương Nam. Rõ ràng từ giang trong tiếng Hán đã “khởi nguồn từ sông trong tiếng Việt cổ hoặc các từ tương đương trong ngữ hệ Nam Á xa xưa”.

Thứ vũ khí bắn tên của người phương Bắc và người phương Nam vốn cũng có những nét đại đồng tiểu dị. Hán tộc gọi là cung. Dân Việt gọi là ná. Tiếng Mường, Chứt, Cuối là na. Tiếng Khmer là sna. Tiếng Cơ ho là sana. So với cung, ná chứng tỏ nhiều ưu điểm hơn khi chiến đấu. Chẳng hạn ná có thể điểm xạ chính xác gấp nhiều lần, lại dễ dàng cài đặt theo chế độ tự động nhờ bộ phận gọi là “lẫy”. Do đó, người Hán tìm trăm mưu nghìn kế để chiếm lĩnh kỹ thuật quân sự đặc sắc này. Sự thật lịch sử ấy chẳng những được phản ánh qua truyền thuyết Rùa vàng do dân ta lưu truyền tự bao đời, mà còn được ghi nhận trong thư tịch cổ của Trung Hoa như Giao Châu ngoại vực ký. Cái ná lọt vào tay người Hán và được gọi là no (vì âm a trong tiếng Hán bấy giờ mang tính tròn môi), viết thành chữ nỗ bằng cách ghép bộ cung với thanh phù nô: 弩. Âm Hán-Việt nỗ dần dà lại được Việt hóa thành nỏ. Ví dụ: nỏ thần Kim Quy.

Nỏ. Ảnh: Bibo

Lưu ý rằng truyền thuyết liên quan nỏ thần Kim Quy về sau được các nhà nho chép vào sách vở bằng Hán ngữ, hình thức lẫn nội dung bị Hán hóa khá nhiều là điều không tránh khỏi. Hãy đọc kỹ đoạn đầu trong các sách giáo khoa ngày nay, cũng thấy được điều ấy: “An Dương Vương nước Âu Lạc là người Ba Thục, họ Thục tên Phán. Nhân vì tổ phụ cầu hôn Mỵ Nương là con gái Hùng Vương, vua Hùng không gả cho, bèn mang oán”. Những thành quả nghiên cứu về thời đại Hùng Vương đạt được suốt thời gian qua đã phủ nhận bao chi tiết trong đoạn vừa dẫn. Chẳng hạn nhân thân của Thục Phán. Từ đầu thế kỷ XX, soạn Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim đã bác bỏ cái thuyết Ba Thục là đất Tứ Xuyên bên Trung Quốc. Năm 1971, tập 1 bộ Lịch sử Việt Nam do Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam chỉ đạo biên soạn đã được ấn hành, xác nhận rằng Thục Phán là một thủ lĩnh người Âu Việt ở miền núi nước ta, vốn là cư dân bản địa và thực chất cùng nòi Lạc Việt. Trên cơ sở khảo chứng công phu, Đinh Văn Nhật phát hiện cụ thể hơn đất phát tích của Thục Phán: đó là tỉnh Yên Bái. Phát hiện ấy được công bố năm 1976, đến nay vẫn được phần đông giới nghiên cứu tán đồng và bổ sung thêm chứng cứ. Hệ thống truyền thuyết sưu tập trên địa bàn rộng còn cung cấp xuất xứ của cột đá thề dựng ở núi Nghĩa Lĩnh: đó là di vật đánh dấu sự kiện Hùng Duệ Vương vì không có con trai nên truyền ngôi báu cho Thục Phán, chứ đôi bên chẳng diễn ra tranh chấp quyền bính. Các tác giả sách Thời đại Hùng Vương (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1976) rút ra kết luận: Thục Phán là cư dân Việt bản địa, đã đoàn kết người Âu Việt với người Lạc Việt thành một khối nhằm đập tan cuộc xâm lấn của quân Tần rồi lập nên quốc gia Âu Lạc vào cuối năm 208 trước Công nguyên, kế tục sự nghiệp nước Văn Lang. Thực tế lịch sử là thế (2). Riêng xét trên bình diện ngữ học, đoạn đầu truyền thuyết An Dương Vương cũng tồn tại lắm điểm đáng suy nghĩ.

Thục Phán có phải là nhân vật “họ Thục tên Phán” không ? Người Việt cổ không đặt họ tên như người Hán. Chữ Thục Phán chỉ là cách phiên âm từ tục phăn, vốn là cách gọi kẻ “mở đất mở mường” trong tiếng Tày-Thái cổ. Người ta cũng dễ dàng nhận thấy Hùng Vương và An Dương Vương là các danh xưng mà đời sau truy phong theo kiểu Hán. Dò tìm trong tiếng Tày, Thái, Mường, Xá, giáo sư Trần Quốc Vượng đã phục nguyên được danh hiệu vua Hùng. Hóa ra Hùng là phiên âm bởi khun / kun – từ chỉ thủ lĩnh một bộ tộc, một vùng đất thuở xưa. Còn Hùng Vương nguyên là pò khun, nghĩa là bố (pò = bố = vua) của các khun, là “thủ lĩnh của mọi thủ lĩnh”.

Các chuyên gia nghiên cứu tiếng Việt lịch sử còn chỉ ra rằng Mỵ Nương, từ chỉ con gái vua Hùng, được người Hán ghi thành mễ nang. Đây là cách phiên âm từ mê nang / mệ nàng của cư dân phương nam gọi con gái của các thủ lĩnh quý tộc. Và như thế, từ nương trong tiếng Hán (được viết 娘 bằng bộ nữ đi kèm thanh phù tương dùng để chỉ phái đẹp) vốn có nguồn gốc tiếng Việt từ nang / nàng xa xưa. Ví dụ: 姑娘 được âm Hán-Việt phát cô nương, người Hoa đọc là cúa lường / cúa niáng, còn người Việt quen gọi cô nàng.

Đủ cơ sở để khẳng định: thực sự có hệ thống từ Việt-Hán, tức từ Hán gốc Việt. Công việc cần xúc tiến là thống kê, phân loại và đào sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn những quy luật về “giao lưu” ngôn ngữ trong quá khứ lẫn hiện tại. Qua đó mọi người càng thêm yêu quý, thêm trân trọng tiếng Việt của chúng ta. ♥

_________________

(1)  Đúng ra là quỷ với dấu hỏi, nghĩa là ma quỷ.

(2)  Viết sách Lục độ tập kinh & lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta (Đại học Vạn Hạnh ấn hành, Sài Gòn, 1972; NXB TP. HCM, 2006), Lê Mạnh Thát khẳng định không có Thục Phán, không có thời kỳ An Dương Vương.

● Phanxipăng

Đã đăng Tài Hoa Trẻ 187 (28-11-2001) & 188 (5-12-2001)

Chia sẻ:

  • Facebook
  • X
Thích Đang tải...

Có liên quan

Từ khóa » Múa Rối Nước Tiếng Trung Là Gì