Xã Hội – Wikipedia Tiếng Việt

Bước tới nội dung

Nội dung

chuyển sang thanh bên ẩn
  • Đầu
  • 1 Từ nguyên và sử dụng
  • 2 Khái niệm Hiện/ẩn mục Khái niệm
    • 2.1 Trong sinh học
    • 2.2 Trong xã hội học
      • 2.2.1 Chức năng luận
      • 2.2.2 Lý thuyết mâu thuẫn
      • 2.2.3 Tương tác luận biểu tượng
      • 2.2.4 Quan điểm ngoài phương Tây
  • 3 Các loại xã hội Hiện/ẩn mục Các loại xã hội
    • 3.1 Tiền công nghiệp
      • 3.1.1 Săn bắt và hái lượm
      • 3.1.2 Mục súc
      • 3.1.3 Trồng trọt
      • 3.1.4 Nông nghiệp
    • 3.2 Công nghiệp
    • 3.3 Hậu công nghiệp
      • 3.3.1 Xã hội thông tin
      • 3.3.2 Xã hội tri thức
  • 4 Đặc điểm Hiện/ẩn mục Đặc điểm
    • 4.1 Chuẩn mực và vai trò xã hội
    • 4.2 Giới tính xã hội và thân tộc
    • 4.3 Sắc tộc
    • 4.4 Chính phủ và chính trị
    • 4.5 Thương mại và kinh tế
    • 4.6 Xung đột
  • 5 Xem thêm
  • 6 Tham khảo Hiện/ẩn mục Tham khảo
    • 6.1 Chú thích
    • 6.2 Thư mục
  • 7 Đọc thêm
  • 8 Liên kết ngoài
  • Bài viết
  • Thảo luận
Tiếng Việt
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Công cụ Công cụ chuyển sang thanh bên ẩn Tác vụ
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Chung
  • Các liên kết đến đây
  • Thay đổi liên quan
  • Thông tin trang
  • Trích dẫn trang này
  • Tạo URL rút gọn
  • Tải mã QR
In và xuất
  • Tạo một quyển sách
  • Tải dưới dạng PDF
  • Bản để in ra
Tại dự án khác
  • Wikimedia Commons
  • Wikiquote
  • Khoản mục Wikidata
Giao diện chuyển sang thanh bên ẩn Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Từ trái qua, từ trên xuống: Một gia đình ở tỉnh Savannakhet, Lào; đám đông mua sắm ở Maharashtra, Ấn Độ; một cuộc diễu binh vào ngày nghỉ lễ tại Tây Ban Nha.
Một phần của
Xã hội học
  • Lịch sử
  • Sơ lược
  • Danh sách
Chủ đề chính
  • Xã hội
  • Toàn cầu hóa
  • Hành vi con người
  • Tác động của con người đến môi trường
  • Bản sắc
  • Các cuộc cách mạng công nghiệp 3 / 4
  • Độ phức tạp xã hội
  • Kiến tạo xã họi
  • Môi trường xã hội
  • Bình đẳng xã hội
  • Quyền lực xã hội
  • Phân tầng xã hội
  • Cấu trúc xã hội
Khía cạnh
  • Lý thuyết xung đột
  • Lý thuyết phê phán
  • Lý thuyết chức năng cấu trúc
  • Chủ nghĩa thực chứng
  • Chủ nghĩa kiến tạo xã hội
  • Lý thuyết tương tác biểu trưng
Nhánh
  • Lão hóa
  • Kiến trúc
  • Nghệ thuật
  • Xã hội học thiên văn học
  • Cơ thể
  • Tội phạm học
  • Ý thức
  • Văn hóa
  • Cái chết
  • Nhân khẩu học
  • Lệch lạc
  • Thảm họa
  • Kinh tế
  • Giáo dục
  • Cảm xúc (Sự ghen tị)
  • Môi trường
  • Gia đình
  • Nữ quyền
  • Tài khóa
  • Đồ ăn
  • Giới tính
  • Các thế hệ
  • Sức khỏe
  • Lịch sử
  • Nhập cư
  • Công nghiệp
  • Internet
  • Người Do Thái
  • Kiến thức
  • Ngôn ngữ
  • Luật
  • Nhàn rỗi
  • Văn học
  • Chủ nghĩa Marx
  • Toán học
  • Y học
  • Quân sự
  • Âm nhạc
  • Hòa bình, chiến tranh và xung đột xã hội
  • Triết học
  • Chính trị
  • Công cộng
  • Trừng phạt
  • Chủng tộc và dân tộc
  • Tôn giáo
  • Đồng quê
  • Khoa học (Lịch sử khoa học)
  • Social movements
  • Tâm lý học xã hội
  • Xã hội học điều khiển học
  • Xã hội học
  • Không gian
  • Thể thao
  • Công nghệ
  • Khủng bố
  • Đô thị
  • Utopia
  • Nạn nhân học
  • Thị giác
Phương pháp
  • Định lược
  • Định tính
  • So sánh
  • Tính toán
  • Dân tộc chí
  • Phân tích hội thoại
  • Lịch sử
  • Phỏng vấn
  • Toán học
  • Phân tích mạng lưới
  • Thí nghiệm xã hội
  • Khảo sát
Nhân vậtĐông Á
  • Thập niên 1900
    • Phí Hiểu Đồng

Nam Á

  • Thập niên 1800
    • G.S Ghurye
  • Thập niên 1900
    • Irawati Karve
    • M. N. Srinivas

Trung Đông

  • Thập niên 1400
    • Ibn Khaldun

Châu Âu

  • Thập niên 1700
    • Auguste Comte
    • Emmanuel Joseph Sieyès
  • Thập niên 1800
    • Émile Durkheim
    • Harriet Martineau
    • Karl Marx
    • Georg Simmel
    • Herbert Spencer
    • Ferdinand Tönnies
    • Max Weber
  • Thập niên 1900
    • Michel Foucault
    • Jürgen Habermas

Bắc Mỹ

  • Thập niên 1800
    • Jane Addams
    • Ernest Burgess
    • W.E.B. Du Bois
    • George Herbert Mead
    • Thorstein Veblen
  • Thập niên 1900
    • James Coleman
    • Patricia Hill Collins
    • Erving Goffman
    • Paul Lazarsfeld
    • Charles Wright Mills
    • Robert K. Merton
    • Theda Skocpol
    • Dorothy E. Smith
  • x
  • t
  • s

Xã hội là một nhóm cá nhân tham gia tương tác xã hội thường xuyên hoặc một nhóm xã hội lớn có chung lãnh thổ về mặt không gian hoặc xã hội, thường chịu cùng ảnh hưởng từ quyền lực chính trị và kỳ vọng văn hóa chủ yếu. Xã hội được đặc trưng bởi các mô hình quan hệ (quan hệ xã hội) giữa những cá nhân có chung một nền văn hóa và thiết chế đặc thù; một xã hội có thể coi là tổng hòa của các mối quan hệ loại này giữa những thành phần cấu thành xã hội đó.

Cơ cấu xã hội loài người là phức tạp và mang tính tập thể cao, có sự chuyên môn hóa lao động thông qua các vai trò xã hội. Các vai trò này cùng những mô hình hành vi khác được xây dựng từ việc coi hành động hay ý niệm nào đó là chấp nhận hay không chấp nhận được. Những kỳ vọng liên quan đến hành vi trong một xã hội nhất định được gọi là chuẩn mực xã hội. Nhờ tính hợp tác mà xã hội có thể tạo điều kiện để các thành viên được hưởng lợi theo những cách mà nếu làm theo riêng lẻ thì sẽ khó đạt được.

Sự khác biệt giữa các xã hội phụ thuộc vào trình độ công nghệ và loại hình hoạt động kinh tế. Những xã hội lớn với nguồn lương thực dồi dào thường đi theo mô hình phân tầng hoặc thứ bậc. Xã hội có thể có nhiều hình thức chính phủ, nhiều cách hiểu về quan hệ thân tộc và nhiều thể hiện giới tính khác nhau. Ở những xã hội khác nhau thì hành vi của con người cũng rất khác nhau; con người định hình xã hội, ngược lại xã hội cũng định hình con người.

Từ nguyên và sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ "xã hội" (tiếng Anh: society) thường được dùng để chỉ một nhóm đông đảo những người cùng sống và sinh hoạt trong một cộng đồng có tổ chức, có thể có cùng mưu cầu lợi ích, hoặc chỉ 'trạng thái chung sống với những người khác'.[1][2]

"Xã hội" là từ Hán-Việt đọc từ hai chữ 社會 (shèhuì), trong đó "xã" tức là 'chỗ tế thần đất' hoặc 'đoàn thể nhiều người hợp thành', còn "hội" là 'gặp' hoặc 'họp nhau'.[3] Thuật ngữ này trong Hán văn có nguồn gốc từ mẫu tự cổ (shè), vốn ban đầu mang nghĩa là địa điểm hoặc cuộc tụ họp thờ kính thổ công nhưng sau này mở rộng ra để chỉ những nghi lễ dân gian tế thần nói chung. Một số học giả phương Tây thăm Trung Quốc đầu thế kỷ 19 thường coi society nghĩa là 'đoàn thể' hoặc 'tổ chức', song đến khoảng giữa thế kỷ, xã hội học châu Âu phát triển mạnh khiến khái niệm trừu tượng của từ này trở thành trọng tâm nghiên cứu học thuật, thu hút sự chú ý của các nhà tư tưởng duy tân Nhật Bản. Mainichi Shimbun (1875) là tác phẩm đầu tiên chuyển ngữ society thành hai chữ 社會.[4] Vào cuối thế kỷ 19, Nghiêm Phục đã vận động dịch lại từ society sang chữ (qún, 'nhóm'), song giới trí thức bấy giờ ưa chuộng hơn việc biên dịch gián tiếp tài liệu phương Tây đã qua chuyển ngữ trước đó ở Nhật Bản và sử dụng hai mẫu tự 社會. Nhà Thanh sau đó cũng chấp thuận đây là cách dịch chính thức của thuật ngữ society. Ít nhất đến đầu thế kỷ 20 ở Trung Quốc, hai chữ 社會 được dùng để chỉ cả tổ chức xã hội và "hình thái tương tác theo nhóm".[4][5]

Từ tiếng Anh society xuất hiện sớm nhất từ năm 1513 và bắt nguồn từ chữ tiếng Pháp thế kỷ 12 societe (hay société theo cách viết tiếng Pháp hiện đại). Bản thân societe được vay mượn từ chữ Latinh societas ('bằng hữu', 'liên minh', 'kết hợp'), mà societas lại được phái sinh từ danh từ socius ('đồng chí', 'bạn thân', 'đồng minh').[6]

Khái niệm

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong sinh học

[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm thông tin: Tính xã hội
Tập tính học xã hội ở kiến: Kiến là côn trùng có tính xã hội cao. Nhóm xã hội cho phép các thành viên được hưởng lợi theo những cách mà nếu làm riêng lẻ thì sẽ khó đạt được.

Giống như họ hàng gần nhất là bonobo và tinh tinh, con người là động vật có tính xã hội cao. Bối cảnh sinh học này cho thấy khả năng hòa nhập cộng đồng cần thiết cho sự hình thành xã hội đã được lập trình sẵn vào bản chất con người.[7] Xã hội loài người có mức độ cộng tác cao và khác với nhóm tinh tinh hay bonobo ở những khía cạnh điển hình như vai trò làm cha của giới đực,[8][9] giao tiếp bằng ngôn ngữ,[7] chuyên môn hóa lao động[10] và thiên hướng xây dựng "tổ" (khu trại, thị trấn hoặc thành phố).[10]

Một số nhà sinh học như nhà côn trùng học E. O. Wilson xếp loài người vào nhóm có tính xã hội cao và đặt loài người cùng với kiến ở cấp độ hòa nhập cộng đồng cao nhất trong phổ tập tính ở động vật, nhưng số khác không đồng tình.[10] Sự sống theo nhóm có thể đã tiến hóa ở loài người do quá trình chọn lọc nhóm trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt, khó sinh tồn.[11]

Trong xã hội học

[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm thông tin: Xã hội học

Xã hội học phương Tây có ba mẫu hình chủ đạo trong nghiên cứu về xã hội là chức năng luận (hay gọi là chức năng luận cấu trúc), lý thuyết mâu thuẫn và tương tác luận biểu tượng.[12]

Chức năng luận

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo trường phái tư tưởng chức năng, các cá nhân trong xã hội làm việc cùng nhau giống như các cơ quan nội tạng trong cơ thể để hình thành hành vi đột sinh, đôi khi còn gọi là ý thức tập thể.[13] Chẳng hạn, hai nhà xã hội học thế kỷ 19 Auguste Comte và Émile Durkheim tin rằng xã hội cấu thành nên một "cấp độ" thực tế riêng rẽ, tách biệt với cả vật chất sinh học và vô cơ. Mọi hiện tượng xã hội do đó đều phải được lý giải trong phạm vi cấp độ này, ở đó mỗi cá nhân chỉ đơn thuần là người tạm thời nắm giữ những vai trò xã hội tương đối ổn định.[14]

Lý thuyết mâu thuẫn

[sửa | sửa mã nguồn]

Trái với chức năng luận, lý thuyết mâu thuẫn cho rằng các cá nhân và nhóm xã hội hoặc giai cấp trong xã hội luôn tương tác với nhau trên cơ sở xung đột thay vì đồng thuận. Karl Marx là một trong những nhà lý thuyết mâu thuẫn tiêu biểu. Marx xem xã hội như đang hoạt động dựa trên "cơ sở hạ tầng" kinh tế cùng với "kiến trúc thượng tầng" bao gồm chính phủ, gia đình, tôn giáo và văn hóa. Ông lập luận rằng cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và mọi biến đổi xã hội xuyên suốt chiều dài lịch sử đều khởi nguồn từ mâu thuẫn giữa người lao động và người sở hữu tư liệu sản xuất.[15]

Tương tác luận biểu tượng

[sửa | sửa mã nguồn]

Tương tác luận biểu tượng là một lý thuyết xã hội học vi mô tập trung chủ yếu vào cá nhân và quan hệ giữa cá nhân với xã hội.[16] Lý thuyết này nghiên cứu việc con người sử dụng ngôn ngữ dùng chung để tạo ra biểu tượng thông dụng kèm theo ý nghĩa tương ứng,[17] và trên cơ sở đó tìm hiểu cách thức tương tác giữa các cá nhân nhằm xây dựng thế giới biểu tượng cũng như cách thức mà những thế giới đó định hình hành vi của cá nhân.[18]

Vào nửa sau thế kỷ 20, các nhà lý thuyết bắt đầu coi xã hội như một thực thể được kiến tạo về mặt xã hội.[19] Nhà xã hội học Peter L. Berger nhận định xã hội có tính "biện chứng": Xã hội do con người tạo thành, ngược lại xã hội cũng tạo thành hoặc định hình con người.[20]

Quan điểm ngoài phương Tây

[sửa | sửa mã nguồn]
Chân dung trắng đen của José Rizal
José Rizal, một nhà tư tưởng về xã hội thuộc địa

Sự đề cao chức năng luận, lý thuyết mâu thuẫn và tương tác luận biểu tượng trong xã hội học đã bị chỉ trích là mang nặng tính trọng Âu. Điển hình, nhà xã hội học người Malaysia Syed Farid al-Attas nhận định các nhà tư tưởng phương Tây đã quá chú trọng vào hệ quả của tính hiện đại dẫn đến phạm vi phân tích các nền văn hóa ngoài phương Tây bị hạn chế. al-Attas nhắc đến Ibn Khaldun (1332–1406) và José Rizal (1861–1896) là hai nhà tư tưởng lớn ngoài phương Tây đã vận dụng cách tiếp cận có hệ thống trong nghiên cứu xã hội.[21]

Khaldun, một người Ả Rập sống vào thế kỷ 14, tin rằng xã hội và phần còn lại của vũ trụ có "cấu trúc đáng kể" với tính ngẫu nhiên bề ngoài thực chất có thể do những nguyên nhân tiềm ẩn gây ra. Khaldun khái niệm hóa cấu trúc xã hội bao gồm hai dạng thức cơ bản là du mục và định cư. Cuộc sống du mục có tính gắn kết xã hội cao (asabijja), một đặc điểm mà Khaldun cho rằng xuất phát từ quan hệ thân tộc, phong tục tập quán chung và nhu cầu tự vệ chung. Cuộc sống định cư dưới góc nhìn của Khaldun được đặc trưng bởi sự thế tục hóa, giảm gắn kết xã hội và ham muốn nhiều hơn những thứ xa hoa.[22] Rizal là một nhà dân tộc chủ nghĩa người Philippines sống vào cuối thời kỳ thuộc địa Tây Ban Nha, người đã đưa ra những lý thuyết về xã hội thuộc địa. Rizal lập luận rằng sự lười biếng, cái mà người Tây Ban Nha lấy làm cớ để xâm chiếm, thực chất là do chính cuộc xâm chiếm thuộc địa đó gây ra. Rizal đã so sánh thời kỳ thuộc địa với thời kỳ tiền thuộc địa (thời điểm người Philippines kiểm soát các tuyến giao thương và có hoạt động kinh tế sôi động hơn) và cho rằng sự bóc lột, rối loạn kinh tế và các chính sách áp bức nông nghiệp đã dẫn đến hứng thú lao động bị sụt giảm.[23]

Các loại xã hội

[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà xã hội học thường phân loại xã hội theo trình độ công nghệ và xếp vào ba nhóm chính: tiền công nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp.[24]

Trong mỗi nhóm nêu trên lại có nhiều cách phân loại khác nhau, thường dựa trên tiêu chí về trình độ công nghệ, truyền thông và kinh tế. Một ví dụ là hệ thống phân loại của nhà xã hội học Gerhard Lenski, bao gồm: (1) săn bắt và hái lượm; (2) trồng trọt; (3) nông nghiệp; (4) công nghiệp; cùng với xã hội chuyên môn hóa (chẳng hạn như đánh bắt thủy sản và chăn nuôi).[25]

Một số nền văn hóa theo thời gian đã phát triển thành các dạng tổ chức và kiểm soát phức tạp. Sự tiến hóa văn hóa này có tác động sâu sắc đến các mô hình cộng đồng. Các bộ lạc săn bắt và hái lượm định cư xung quanh những nguồn lương thực mùa vụ để hình thành làng xã nông nghiệp. Làng xã phát triển thành thị trấn và thành phố, rồi thành phố dần trở thành thành bang và quốc gia dân tộc. Tuy nhiên, các quá trình này không diễn ra một chiều.[26]

Tiền công nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Xã hội tiền công nghiệp

Trong xã hội tiền công nghiệp, sản xuất thực phẩm bằng lao động chân tay từ sức người và động vật là hoạt động kinh tế chính. Tùy theo trình độ công nghệ và phương thức sản xuất mà xã hội tiền công nghiệp có thể được chia thành xã hội săn bắt và hái lượm, mục súc, trồng trọt hoặc nông nghiệp.[25]

Săn bắt và hái lượm

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Săn bắt và hái lượm
Người San ở Botswana nhóm lửa thủ công

Hình thức sản xuất lương thực chủ yếu trong xã hội săn bắt và hái lượm là thu hoạch cây cối và săn bắt động vật hoang dã hằng ngày. Những người săn bắt hái lượm phải di chuyển liên tục để tìm kiếm thức ăn,[27] vì vậy họ không xây dựng làng mạc cố định hoặc chế tạo đồ tạo tác đa dạng. Quy mô của xã hội loại này cũng bị hạn chế do nhu cầu di chuyển cao và thường chỉ dừng ở những nhóm nhỏ như bầy người hay bộ lạc, mỗi cộng đồng thường dưới 50 người.[28][29] Bầy người và bộ lạc là những cộng đồng tương đối quân bình và thường ra quyết định trên cơ sở đồng thuận. Xã hội bộ lạc không có chức vụ chính trị nào nắm quyền lực thực sự, thay vào đó tù trưởng chỉ là một người có ảnh hưởng và quyền lãnh đạo được trao theo phẩm chất cá nhân.[30] Gia đình là đơn vị xã hội chính với đa số thành viên có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân.[31]

Nhà nhân chủng học Marshall Sahlins đã gọi xã hội săn bắt và hái lượm là "xã hội thịnh vượng nguyên thủy" do có nhiều thời gian rảnh rỗi. Sahlins ước tính người trưởng thành trong xã hội loại này chỉ làm việc từ 3 đến 5 giờ mỗi ngày.[32][33] Quan điểm của ông bị nhiều nhà nghiên cứu phản bác do họ nhận thấy xã hội săn bắt và hái lượm có tỉ lệ tử vong cao và chiến tranh xảy ra liên tục.[34][35][36] Những người ủng hộ quan điểm của Sahlins cho rằng phúc lợi của những người sống trong xã hội săn bắt và hái lượm thể hiện sự mâu thuẫn với giả thiết về mối quan hệ giữa tiến bộ công nghệ và tiến bộ của loài người.[37][38]

Mục súc

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Xã hội mục súc
Người Maasai biểu diễn điệu nhảy truyền thống adumu

Thay vì tìm kiếm thức ăn hằng ngày, thành viên trong xã hội mục súc thường sử dụng gia súc thuần hóa để đáp ứng nhu cầu thực phẩm. Người chăn mục súc thường sống du mục và hay di chuyển đàn gia súc từ đồng cỏ này sang đồng cỏ khác.[39] Quy mô một cộng đồng trong xã hội mục súc tương tự như xã hội săn bắt và hái lượm (khoảng 50 người), tuy nhiên một xã hội mục súc thường bao gồm nhiều cộng đồng khác nhau với tổng cộng hàng nghìn người sinh sống. Đó là bởi các nhóm mục súc thường sinh hoạt ở những khu vực rộng mở và dễ di chuyển, tạo điều kiện cho việc hội nhập chính trị.[40] Xã hội mục súc thường tạo ra lương thực thặng dư, có phân công lao động[24] và mức độ bất bình đẳng cao.[40]

Trồng trọt

[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm: Trồng trọt

Trái cây và rau quả trồng trong các mảnh vườn được khai hoang từ rừng rậm hoặc rừng cây là nguồn thực phẩm chủ yếu của xã hội trồng trọt. Xã hội loại này có trình độ công nghệ và độ phức tạp trong tổ chức tương tự như xã hội mục súc.[41] Xã hội trồng trọt cùng với xã hội mục súc xuất hiện khoảng 10.000 năm trước sau khi những thay đổi công nghệ từ cuộc cách mạng nông nghiệp tạo tiền đề cho ngành trồng trọt và chăn nuôi.[41] Những người trồng trọt sử dụng sức lao động thủ công cùng các công cụ đơn giản để canh tác trong một hoặc nhiều mùa vụ. Khi đất cằn cỗi, họ sẽ khai hoang mảnh đất mới và để mảnh đất cũ trở về trạng thái tự nhiên nhằm trở lại canh tác sau đó vài năm. Thông qua việc luân canh, người trồng trọt có thể ở lại một khu vực nhất định trong thời gian dài và từ đó xây dựng lên làng xã cố định hoặc bán cố định.[42]

Tương tự như xã hội mục súc, lương thực dư thừa dẫn đến phân công lao động phức tạp hơn. Các vai trò chuyên môn trong xã hội trồng trọt bao gồm thợ thủ công, shaman (lãnh đạo tôn giáo) và thương nhân.[42] Nhờ việc chuyên môn hóa này mà xã hội trồng trọt có khả năng chế tạo nhiều loại đồ tạo tác khác nhau. Sự khan hiếm và tranh giành tài nguyên có thể dẫn đến bất bình đẳng về của cải trong hệ thống chính trị của xã hội trồng trọt.[43]

Nông nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Xã hội nông nghiệp
Cày ruộng bằng trâu vào thế kỷ 15

Xã hội nông nghiệp ứng dụng những tiến bộ công nghệ nông nghiệp nhằm canh tác trên diện tích đất lớn. Lenski tách bạch xã hội trồng trọt và xã hội nông nghiệp qua việc sử dụng cày.[44] Nguồn cung lương thực dồi dào nhờ cải tiến công nghệ là lý do khiến cộng đồng nông nghiệp có quy mô lớn hơn cộng đồng trồng trọt. Lượng lương thực dư thừa lớn hơn là cơ sở cho việc hình thành và phát triển các thị trấn trở thành trung tâm thương mại. Thương mại kinh tế tiếp đó dẫn đến sự chuyên môn hóa cao hơn, bao gồm cả tầng lớp thống trị cùng với vai trò nhà giáo dục, thợ thủ công, thương nhân và nhân vật tôn giáo, vốn không trực tiếp tham gia sản xuất lương thực.[45]

Điểm nổi bật của xã hội nông nghiệp là sự chênh lệch giai cấp xã hội cực đoan và tính di động xã hội kém.[46] Đất đai là nguồn tài sản chính, vì vậy cấu trúc phân cấp xã hội phát triển dựa trên quyền sở hữu đất đai thay vì lao động. Hệ thống phân tầng được đặc trưng bởi mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với thường dân, giữa thiểu số thành thị với đa số nông dân và giữa thiểu số biết chữ với đa số mù chữ, tất cả diễn ra đồng thời. Việc này dẫn đến sự xuất hiện hai tầng lớp phân biệt là giới tinh hoa thành thị và quần chúng nông dân. Điều này ngoài ra cũng có nghĩa là sự khác biệt văn hóa trong nội bộ xã hội nông nghiệp là lớn hơn so với khác biệt văn hóa giữa nhiều xã hội nông nghiệp khác nhau.[47]

Tầng lớp địa chủ thường kết hợp các thể chế chính phủ, tôn giáo và quân sự để củng cố quyền sở hữu và đồng thời hỗ trợ các mô hình tiêu dùng phức tạp. Nô lệ, nông nô hoặc lao dịch cưỡng bức thường là số phận của người sản xuất chính. Những người cai trị xã hội nông nghiệp thường không quản lý người bị trị vì lợi ích chung hoặc nhân danh công ích mà chỉ quản lý không khác gì tài sản họ sở hữu.[48] Hệ thống đẳng cấp (như từng xuất hiện trong lịch sử Nam Á) là cơ chế gắn liền với xã hội nông nghiệp, tại đây những hoạt động nông nghiệp suốt đời phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm và kỷ luật nghiêm ngặt. Theo học giả Donald Brown, phương Tây hiện đại coi trọng các quyền tự do cá nhân phần lớn là nhằm phản ứng trước cơ chế phân tầng cứng nhắc và khắc nghiệt của xã hội nông nghiệp.[49]

Công nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Xã hội công nghiệp
Tàu hỏa công nghiệp
Vận tải công nghiệp (bao gồm tàu hỏa) có thể bảo đảm nền kinh tế ổn định và dân số tăng trưởng.

Ra đời vào thế kỷ 18 trong cuộc cách mạng công nghiệp, xã hội công nghiệp phụ thuộc nhiều vào máy móc được vận hành từ nguồn năng lượng bên ngoài để sản xuất hàng hóa.[50][51] Trong khi ở xã hội tiền công nghiệp đa phần lao động diễn ra trong các ngành nghề sơ cấp tập trung vào khai thác nguyên liệu thô (trồng trọt, đánh bắt thủy sản, khai thác mỏ, v.v.), thì ở xã hội công nghiệp, lao động chủ yếu tập trung vào chế biến nguyên liệu thô thành sản phẩm hoàn chỉnh.[52] Các xã hội ngày nay có mức độ công nghiệp hóa khác nhau, một số sử dụng phần lớn là những nguồn năng lượng mới hơn (như than đá, dầu mỏ và năng lượng hạt nhân) còn số khác vẫn lệ thuộc vào sức người và sức động vật.[53]

Công nghiệp hóa gắn liền với bùng nổ dân số và sự phát triển của các thành phố. Năng suất lao động tăng cao cộng với sự ổn định do hạ tầng giao thông được nâng cấp dẫn đến tỉ lệ tử vong giảm và dân số tăng nhanh.[54] Việc tập trung sản xuất hàng hóa trong các nhà máy và nhu cầu lao động nông nghiệp suy giảm là tiền đề cho quá trình đô thị hóa.[51][55] Xã hội công nghiệp thường đi theo chủ nghĩa tư bản, có mức độ bất bình đẳng cao và khả năng di động xã hội cao do giới doanh nhân sử dụng thị trường để tích lũy lượng tài sản khổng lồ.[51] Điều kiện làm việc tại các nhà máy thường hà khắc và chịu nhiều ràng buộc bất lợi. Công nhân có chung lợi ích có thể tập hợp thành công đoàn nhằm bảo vệ những lợi ích đó.[56]

Xã hội công nghiệp nhìn chung được đặc trưng bởi mức độ quyền lực của con người ngày một gia tăng. Những thành tựu công nghệ từ xã hội công nghiệp đi đôi với nguy cơ chiến tranh chết chóc thêm hiện hữu. Công nghệ thông tin được chính phủ các nước tận dụng để kiểm soát dân chúng chặt chẽ hơn. Xã hội công nghiệp còn để lại tác động môi trường ngày càng lớn.[57]

Hậu công nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Xã hội hậu công nghiệp Xem thêm: Thời đại Thông tin

Xã hội hậu công nghiệp là xã hội chi phối bởi thông tin và dịch vụ thay vì sản xuất hàng hóa.[58] Những xã hội công nghiệp tiên tiến đang chứng kiến ​​sự chuyển dịch theo hướng tăng trưởng các mảng dịch vụ thay vì sản xuất công nghiệp. Các ngành dịch vụ bao gồm giáo dục, y tế và tài chính.[59]

Xã hội thông tin

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Xã hội thông tin
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về xã hội thông tin tại Genève (tháng 2 năm 2005)

Xã hội thông tin là xã hội mà ở đó việc sử dụng, sản xuất, phân phối, chỉnh sửa và tích hợp thông tin là hoạt động quan trọng.[60] Những người ủng hộ quan điểm xã hội toàn cầu hiện đại là một xã hội thông tin khẳng định rằng công nghệ thông tin đang tác động đến hầu hết các hình thức tổ chức xã hội lớn như giáo dục, kinh tế, y tế, chính trị, chiến tranh và các cấp độ dân chủ.[61] Tuy đã được bàn luận từ thập niên 1930, ngày nay khái niệm xã hội thông tin hầu như được áp dụng nhằm đề cập đến tác động của công nghệ thông tin đến xã hội và văn hóa. Khái niệm này vì vậy cũng bao gồm ảnh hưởng mà máy tính và viễn thông mang lại đối với hộ gia đình, nơi làm việc, trường học, chính phủ cùng các cộng đồng và tổ chức khác nhau, cũng như sự xuất hiện các hình thức xã hội mới trên không gian mạng.[62]

Xã hội tri thức

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Xã hội tri thức
Phòng điều hành Cyworld tại Seoul (ảnh chụp năm 2005)

Trong bối cảnh khả năng tiếp cận tài nguyên thông tin điện tử ngày càng cao vào đầu thế kỷ 21, khái niệm xã hội tri thức đã bắt đầu thu hút sự chú ý đặc biệt. Xã hội tri thức là nơi tạo ra, chia sẻ và cung cấp tri thức nhằm mục đích cải tiến tình trạng con người đến mọi thành viên trong xã hội.[63] Điểm khác với xã hội thông tin nằm ở chỗ thay vì chỉ sản xuất và phổ biến dữ liệu sơ cấp, xã hội tri thức chuyển hóa thông tin thành nguồn lực giúp xã hội hành động hiệu quả hơn.[64]

Đặc điểm

[sửa | sửa mã nguồn]

Chuẩn mực và vai trò xã hội

[sửa | sửa mã nguồn]

Chuẩn mực xã hội là những tiêu chuẩn chung về hành vi chấp nhận được trong một nhóm.[65][66] Chuẩn mực xã hội có thể là những hiểu biết thông thường chi phối hành vi của các thành viên trong xã hội cũng như được hệ thống hóa thành các quy tắc hay luật lệ,[67] và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hành vi con người.[68]

Vai trò xã hội là chuẩn mực, nghĩa vụ và mô hình hành vi liên quan đến địa vị xã hội của một cá nhân.[69] Trong tư tưởng chức năng luận, mọi cá nhân cùng hình thành cấu trúc xã hội bằng cách đảm nhiệm các vai trò xã hội.[14] Tương tác luận biểu tượng quan niệm rằng cá nhân sử dụng biểu tượng để định hướng và truyền đạt vai trò xã hội. Erving Goffman lấy hình ảnh sân khấu làm ẩn dụ để cho ra đời lăng kính kịch nghệ với lập luận rằng vai trò xã hội làm nên kịch bản chi phối tương tác xã hội.[70]

Giới tính xã hội và thân tộc

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Giới tính xã hội, Thể hiện giới tính, và Thân tộc
Một gia đình người Ai Cập ngồi trên xe lừa kéo (ảnh chụp năm 2019). Quan hệ gia đình là một trong những nguyên tắc tổ chức quan trọng nhất trong nhiều xã hội.

Sự phân chia con người thành thể hiện giới tính nam và nữ được phản ánh về mặt văn hóa qua sự phân biệt tương ứng về chuẩn mực, tập quán, trang phục, hành vi, quyền, nghĩa vụ, đặc quyền, địa vị và quyền lực. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thể hiện giới tính phát sinh một cách tự nhiên từ khác biệt về giới tính, dẫn đến sự phân công lao động mà trong đó phụ nữ đảm nhận công việc sinh sản và các vai trò nội trợ khác.[71] Thể hiện giới tính đã có nhiều thay đổi trong lịch sử và những thách thức với các chuẩn mực giới tính chiếm ưu thế vẫn còn hiện hữu ở nhiều xã hội.[72][73]

Mọi xã hội loài người đều tổ chức, công nhận và phân loại các dạng quan hệ xã hội dựa trên quan hệ giữa cha mẹ với con cái và hậu duệ khác (quan hệ huyết thống) hoặc quan hệ hôn nhân. Ngoài ra còn có một loại quan hệ gia đình thứ ba dành cho cha mẹ đỡ đầu hoặc con nuôi (thân tộc giả định). Các mối quan hệ định nghĩa về mặt văn hóa như trên được gọi là thân tộc hay họ hàng. Thân tộc là một trong những nguyên tắc tổ chức xã hội quan trọng nhất và có vai trò trong việc chuyển giao địa vị và thừa kế.[74] Tất cả xã hội có quy tắc cấm loạn luân, theo đó hôn nhân giữa một số loại quan hệ thân tộc nhất định bị nghiêm cấm; một vài xã hội còn có quy tắc quản lý việc kết hôn đối với một số quan hệ thân tộc khác.[75]

Sắc tộc

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Sắc tộc

Sắc tộc là một phạm trù xã hội mà trong đó một nhóm cá nhân nhận dạng với nhau dựa trên những đặc điểm chung phân biệt họ với các nhóm khác. Những đặc điểm chung này có thể là truyền thống, tổ tiên, ngôn ngữ, lịch sử, xã hội, văn hóa, quốc gia, tôn giáo hoặc sự đối xử xã hội trong khu vực sinh sống.[76][77] Hiện chưa có định nghĩa nào về các thành phần cấu thành nhóm sắc tộc được chấp thuận rộng rãi,[78] và từ trước đến nay con người đã hình thành khả năng thay đổi mối liên hệ với các nhóm xã hội một cách tương đối dễ dàng, kể cả rời bỏ những nhóm từng có quan hệ đồng minh mạnh mẽ nếu việc đó được coi là mang lại lợi ích cá nhân.[79] Sắc tộc khác với khái niệm chủng tộc, vốn dựa trên đặc điểm thể chất, tuy cả hai đều được kiến tạo về mặt xã hội.[80] Việc xác định một nhóm người nhất định thuộc sắc tộc nào rất phức tạp, bởi ngay cả những tộc danh phổ biến vẫn có thể có nhiều nhóm nhỏ khác nhau và thành phần của các nhóm sắc tộc này cũng có thể thay đổi theo thời gian ở cả cấp độ tập thể và cá nhân.[81] Nhóm sắc tộc có khả năng đóng vai trò mạnh mẽ đối với bản sắc xã hội và sự đoàn kết của các đơn vị chính trị dân tộc. Bản sắc dân tộc gắn chặt với quá trình trỗi dậy của các quốc gia dân tộc như là hình thức tổ chức chính trị chủ đạo trong thế kỷ 19 và 20.[82][83][84]

Chính phủ và chính trị

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Chính phủ và Chính trị
Trụ sở Liên Hợp Quốc tại thành phố New York, nơi tọa lạc một trong những tổ chức chính trị lớn nhất thế giới

Chính phủ xây dựng pháp luật và chính sách tác động đến người dân dưới sự quản lý của mình. Có nhiều dạng chính phủ tồn tại trong lịch sử thế giới với nhiều cách thức phân bổ quyền lực và nhiều cấp độ, phương thức quản lý xã hội khác nhau.[85] Ở giai đoạn đầu lịch sử, sự phân bố quyền lực chính trị được quyết định qua nguồn nước ngọt, lượng đất phì nhiêu và khí hậu ôn đới tại các địa điểm khác nhau.[86] Sau này dân cư nông nghiệp tập trung lại thành những cộng đồng lớn, các nhóm người dần tương tác với nhau ngày một nhiều hơn dẫn đến hệ thống quản trị trong nội bộ cộng đồng và giữa các cộng đồng lẫn nhau ngày càng phát triển.[87]

Tính đến năm 2024, Cơ quan Tình báo Kinh tế thuộc The Economist xếp loại 42,5% chính phủ quốc gia vào nhóm dân chủ, 35,9% chuyên quyền và 21,6% có yếu tố của cả hai.[88] Đã có nhiều tổ chức chính trị quốc tế và liên minh được thành lập trên thế giới, trong đó Liên Hợp Quốc có quy mô lớn nhất với 193 quốc gia thành viên.[89][90]

Thương mại và kinh tế

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Giao thương và Kinh tế học
Các tuyến đường buôn bán gia vị đường dài dọc theo con đường tơ lụa (màu xanh lục) và các tuyến đường khác (màu đỏ) vào khoảng thế kỷ 1 CN

Thương mại là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ một cách tự nguyện. Đây đã là một khía cạnh của xã hội loài người từ lâu và được xem là một đặc điểm phân biệt con người với các loài động vật khác.[91] Thương mại thậm chí còn được coi là hoạt động mang lại cho Homo sapiens lợi thế lớn so với các loài họ Người khác. Nhiều bằng chứng cho thấy Homo sapiens thuở đầu đã sử dụng các tuyến giao thương đường dài để trao đổi hàng hóa và tư tưởng, dẫn đến quá trình bùng nổ văn hóa và cung cấp thêm nguồn thực phẩm khi săn bắt còn khan hiếm. Người Neanderthal đã tuyệt chủng không có các mạng lưới thương mại như vậy.[91][92] Hoạt động thương mại thời kỳ đầu bao gồm trao đổi vật liệu chế tạo công cụ như đá vỏ chai trong khoảng cách ngắn.[93] Ngược lại, xuyên suốt thời kỳ cổ đại và trung đại, một số tuyến đường vận chuyển đường dài lớn nhất có chức năng chuyên chở thực phẩm và hàng hóa xa xỉ, chẳng hạn như buôn bán gia vị.[94]

Những nền kinh tế sơ khai của loài người khả năng cao là dựa trên cơ chế tặng quà hơn là trao đổi hiện vật.[95] Con người thời gian đầu sử dụng hàng hóa làm tiền tệ, trong đó gia súc là loại lâu đời nhất và vỏ ốc xà cừ là loại dùng phổ biến nhất.[96][97] Tiền tệ từ đó phát triển thành tiền xu, tiền giấy và tiền điện tử do chính phủ lưu hành.[98][99] Kinh tế học là một ngành khoa học xã hội tìm hiểu cách thức phân phối nguồn lực khan hiếm của xã hội giữa các cá nhân khác nhau.[100] Phân phối của cải trên thế giới có sự bất bình đẳng rất lớn; ở Trung Quốc, Mỹ và châu Âu tính đến năm 2018, 10% người giàu nhất sở hữu hơn 70% tổng tài sản của các khu vực này.[101]

Xung đột

[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm: Chiến tranh và Bạo lực
Napoleon rút quân sau khi xâm lược Nga thất bại năm 1812 (tranh sơn dầu của Adolph Northen năm 1851)

Việc con người sẵn sàng giết hại đồng loại hàng loạt thông qua xung đột có tổ chức (tức chiến tranh) từ lâu đã là một chủ đề gây nhiều tranh luận. Một trường phái tư tưởng cho rằng chiến tranh xảy ra như là phương tiện nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh và bạo lực là đặc điểm bẩm sinh của con người. Tỉ lệ con người gây bạo lực với đồng loại tương đương các loài linh trưởng khác (tuy con người có tỉ lệ giết người trưởng thành tương đối cao và tỉ lệ giết trẻ sơ sinh tương đối thấp).[102]

Một trường phái khác cho rằng chiến tranh là hiện tượng tương đối mới và xảy ra do điều kiện xã hội thay đổi. Dù chưa có kết luận chắc chắn, các bằng chứng hiện nay cho thấy hành vi hiếu chiến chỉ trở nên phổ biến cách đây 10.000 năm, thậm chí là gần đây hơn ở một số khu vực.[103]

Phân tích phát sinh chủng loại dự đoán có 2% số người tử vong là do giết người, xấp xỉ tỉ lệ giết người trong xã hội bộ lạc.[104] Song, tỉ lệ bạo lực có sự dao động đáng kể tùy thuộc vào chuẩn mực xã hội;[104][105] ở những xã hội có hệ thống pháp luật và thái độ văn hóa chống bạo lực mạnh mẽ thì tỉ lệ giết người chỉ ở mức khoảng 0,01%.[105]

Xem thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Chủ nghĩa tiêu dùng
  • Công tác xã hội
  • Cứu trợ xã hội
  • Dịch vụ mạng xã hội
  • Kỹ năng xã hội
  • Mạng lưới xã hội
  • Nhân dân
  • Phương tiện truyền thông mạng xã hội
  • Sinh học xã hội
  • Sụp đổ xã hội
  • Tâm lý học xã hội
  • Tệ nạn xã hội
  • Tổ chức bí mật
  • Xã hội dân sự
  • Xã hội học
  • Xã hội mở
  • Xã hội thượng lưu

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Viện Ngôn ngữ học; Hoàng Phê chủ biên (2003). Từ điển tiếng Việt. Trung tâm từ điển học, Nhà xuất bản Đà Nẵng. tr. 1140. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  2. ^ "Meaning of society in English" [Nghĩa của society trong tiếng Anh]. Cambridge Dictionary (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  3. ^ Đào Duy Anh (2001) [1932]. Hán-Việt từ điển: Giản yếu. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. tr. 315, 927. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  4. ^ a b Lý Công Trung (2020). Society与“社会”的早期相遇:一项概念史的考察 [Sự tiếp xúc ban đầu giữa 社会 và "Society": Nghiên cứu về lịch sử các khái niệm]. 近代史研究 [Nghiên cứu lịch sử hiện đại] (bằng tiếng Trung) (3). Viện Lịch sử Hiện đại, Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc: 4–18. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  5. ^ Hoàng Khắc Vũ (2008). 新名詞之戰:清末嚴復譯語與和製漢語的競賽 [Cuộc chiến thuật ngữ mới: Sự cạnh tranh giữa các thuật ngữ dịch của Nghiêm Phục và tiếng Trung theo kiểu Nhật Bản vào cuối triều đại nhà Thanh] (PDF). 中央研究院近代史研究所集刊 [Tạp chí Viện Lịch sử Hiện đại, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc] (bằng tiếng Trung) (62): 1–42. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  6. ^ "Society" [Xã hội]. Merriam-Webster Dictionary (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  7. ^ a b Fukuyama, Francis (2011). "The State of Nature" [Trạng thái của tự nhiên]. The Origins of Political Order: From Prehuman Times to the French Revolution [Nguồn gốc của trật tự chính trị: Từ thời kỳ tiền nhân loại đến Cách mạng Pháp] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 1). New York, NY: Farrar, Straus and Giroux. tr. 26–48. ISBN 978-0-374-22734-0. LCCN 2010038534. OCLC 650212556.
  8. ^ Godelier, Maurice (2004). Métamorphoses de la parenté [Sự biến đổi của quan hệ họ hàng] (bằng tiếng Pháp). Fayard. ISBN 2-213-61490-3. LCCN 2004459773. OCLC 61137773.
  9. ^ Goody, Jack (tháng 11–12 năm 2005). "The Labyrinth of Kinship" [Mê cung của tình thân]. New Left Review. II (36). London, UK: 127–139. ISSN 0028-6060. LCCN 63028333. OCLC 1605213. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  10. ^ a b c Angier, Natalie (tháng 4 năm 2012). "Edward O. Wilson's New Take on Human Nature" [Quan điểm mới của Edward O. Wilson về bản chất con người]. Smithsonian Magazine (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  11. ^ Wilson, David Sloan (2007). Evolution for Everyone: How Darwin's Theory Can Change the Way We Think About Our Lives [Tiến hóa dành cho mọi người: Lý thuyết của Darwin có thể thay đổi cách chúng ta nghĩ về cuộc sống như thế nào] (bằng tiếng Anh). New York, NY: Delacorte. ISBN 978-0-385-34092-2. LCCN 2006023685. OCLC 70775599.
  12. ^ Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 103–108.
  13. ^ Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 103–104.
  14. ^ a b Macionis, John J.; Gerber, Linda Marie (2011). Sociology [Xã hội học] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 7). Toronto, Canada: Pearson Prentice Hall. ISBN 978-0-13-700161-3. OCLC 434559397.
  15. ^ Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 104–105.
  16. ^ Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 21, 108.
  17. ^ Hall, Peter M. (2007). "Symbolic Interaction" [Tương tác biểu tượng]. Trong Ritzer, George (biên tập). Blackwell Encyclopedia of Sociology [Bách khoa toàn thư Blackwell về xã hội học]. Quyển 10. Wiley-Blackwell. doi:10.1002/9781405165518.wbeoss310. ISBN 978-1-4051-2433-1. LCCN 2006004167. OCLC 63692691.
  18. ^ West, Richard L.; Turner, Lynn H. (2018). Introducing Communication Theory: Analysis and Application [Nhập môn lý thuyết giao tiếp: Phân tích và ứng dụng] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 6). ISBN 978-1-259-87032-3. LCCN 2016059715. OCLC 967775008.
  19. ^ Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 109–110.
  20. ^ Berger, Peter L. (1967). The Sacred Canopy: Elements of a Sociological Theory of Religion [Mái vòm thiêng liêng: Các yếu tố của lý thuyết xã hội học về tôn giáo] (bằng tiếng Anh). Garden City, NYC: Doubleday & Company, Inc. tr. 3. ISBN 978-0-385-07305-9. LCCN 90034844. OCLC 22736039.
  21. ^ al-Attas, Syed Farid (tháng 3 năm 2021). "Deparochialising the Canon: The Case of Sociological Theory" [Vượt ra khỏi khuôn khổ giáo phái: Trường hợp của lý thuyết xã hội học]. Journal of Historical Sociology (bằng tiếng Anh). 34 (1): 13–27. doi:10.1111/johs.12314. ISSN 0952-1909. LCCN 89656316. OCLC 18102209.
  22. ^ Becker, Howard; Barnes, Harry Elmer (1961). "The Meeting of East and West and the Advance of Secularism" [Giao thoa giữa Đông và Tây và sự phát triển của chủ nghĩa thế tục]. Social Thought from Lore to Science [Tư tưởng xã hội từ truyền thuyết đến khoa học] (bằng tiếng Anh). Quyển 1 (ấn bản thứ 3). New York, NY: Dover Publications. tr. 266–277. LCCN 61004323. OCLC 423043.
  23. ^ Alatas, Syed Farid; Sinha, Vineeta (2017). "Jose Rizal (1861–1896)". Sociological Theory Beyond the Canon [Lý thuyết xã hội học hơn cả khuôn khổ truyền thống] (bằng tiếng Anh). London, UK: Palgrave Macmillan. ISBN 978-1-137-41133-4. LCCN 2017934880. OCLC 966921499.
  24. ^ a b Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 99.
  25. ^ a b Lenski & Lenski 1974, tr. 96.
  26. ^ Glassman, Ronald M. (ngày 20 tháng 6 năm 2017). "The Importance of City-States in the Evolution of Democratic Political Processes" [Tầm quan trọng của thành bang trong sự tiến hóa của các quy trình chính trị dân chủ]. The Origins of Democracy in Tribes, City-States and Nation-States [Nguồn gốc của dân chủ trong các bộ lạc, thành bang và quốc gia dân tộc] (bằng tiếng Anh). Springer. tr. 1502. doi:10.1007/978-3-319-51695-0_126. ISBN 978-3-319-51695-0. LCCN 2019746650. OCLC 1058216897.
  27. ^ Lenski & Lenski 1974, tr. 135.
  28. ^ Lee, Richard B.; Daly, Richard H. (1999). "Introduction: Foragers & Others". The Cambridge Encyclopedia of Hunters and Gatherers [Bách khoa toàn thư Cambridge về săn bắt và hái lượm] (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr. 3. ISBN 0-521-57109-X. LCCN 98038671. OCLC 39654919.
  29. ^ Lenski & Lenski 1974, tr. 134.
  30. ^ Lenski & Lenski 1974, tr. 146.
  31. ^ Lenski & Lenski 1974, tr. 142.
  32. ^ Sahlins, Marshall D. (1968). "Discussions, Part II: Notes on the Original Affluent Society" [Thảo luận phần II: Sơ lược về xã hội thịnh vượng nguyên thủy]. Trong Lee, Richard B.; DeVore, Irven (biên tập). Man the Hunter [Người săn bắt] (bằng tiếng Anh). Chicago, Illinois: Aldine Publishing Company. tr. 85–89. LCCN 67017603. OCLC 490234.
  33. ^ Sahlins, Marshall D. (1972). "The Original Affluent Society" [Xã hội thịnh vượng đầu tiên]. Stone Age Economics [Kinh tế thời kỳ đồ đá] (bằng tiếng Anh). Chicago, Illinois: Aldine-Atherton, Inc. tr. 34. ISBN 0-202-01098-8. LCCN 75169506. OCLC 363958. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026. Reports on hunters and gatherers of the ethnological present—specifically on those in marginal environments—suggest a mean of three to five hours per adult worker per day in food production.
  34. ^ Hill, Kim; Hurtado, A. M.; Walker, R. S. (tháng 4 năm 2007). "High adult mortality among Hiwi hunter-gatherers: Implications for human evolution" [Tỉ lệ tử vong cao ở người trưởng thành trong cộng đồng săn bắt hái lượm Hiwi: Ý nghĩa đối với sự tiến hóa loài người]. Journal of Human Evolution (bằng tiếng Anh). 52 (4): 443–454. doi:10.1016/j.jhevol.2006.11.003. eISSN 1095-8606. ISSN 0047-2484. LCCN 72623558. OCLC 925940973.
  35. ^ Keeley, Lawrence H. (1996). "Crying Havoc: The Question of Causes" [Tiếng kêu than hỗn loạn: Vấn đề về nguyên nhân]. War Before Civilization [Chiến tranh trước khi có nền văn minh] (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Oxford. tr. 113–126. ISBN 0-19-509112-4. LCCN 94008998. OCLC 30158105.
  36. ^ Kaplan, David (mùa thu 2000). "The Darker Side of the 'Original Affluent Society'" [Mặt tối của 'xã hội thịnh vượng nguyên thủy']. Journal of Anthropological Research (bằng tiếng Anh). 56 (3). Nhà xuất bản Đại học Chicago: 287–484. doi:10.1086/jar.56.3.3631086. eISSN 2153-3806. ISSN 0091-7710. LCCN 2006237061. OCLC 60616192.
  37. ^ Gowdy, John (2005). "Hunter-Gatherers and the Mythology of the Market" [Người săn bắt hái lượm và thần thoại về thị trường]. Trong Lee, Richard B.; Daly, Richard H. (biên tập). Cambridge Encyclopedia of Hunters and Gatherers [Bách khoa toàn thư Cambridge về săn bắt và hái lượm] (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr. 391–398. ISBN 0-521-57109-X. LCCN 98038671. OCLC 39654919. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  38. ^ Lewis, Jerome (tháng 9 năm 2008). Watkins, Stuart (biên tập). "Managing abundance, not chasing scarcity: the real challenge for the 21st century" [Quản lý cái dư dả thay vì theo đuổi cái khan hiếm: thách thức thực sự của thế kỷ 21] (PDF). Radical Anthropology (bằng tiếng Anh) (2). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  39. ^ Lenski & Lenski 1974, tr. 267.
  40. ^ a b Lenski & Lenski 1974, tr. 268–269.
  41. ^ a b Bulliet, Richard W.; Crossley, Pamela Kyle; Headrick, Daniel R.; Hirsch, Steven W.; Johnson, Lyman L.; Northrup, David (2015). The Earth and Its Peoples: A Global History [Trái Đất và con người: Lịch sử thế giới] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 6). Cengage Learning. tr. 14. ISBN 978-1-285-44563-2. LCCN 2014932005. OCLC 891574574.
  42. ^ a b Lenski & Lenski 1974, tr. 165.
  43. ^ Gurven, Michael; Borgerhoff Mulder, Monique; Hooper, Paul L.; Kaplan, Hillard; Quinlan, Robert; Sear, Rebecca; Schniter, Eric; von Rueden, Christopher; Bowles, Samuel; Hertz, Tom; Bell, Adrian (ngày 19 tháng 2 năm 2010). "Domestication Alone Does Not Lead to Inequality: Intergenerational Wealth Transmission among Horticulturalists" [Thuần hóa động vật không dẫn đến bất bình đẳng: Sự kế thừa tài sản giữa các thế hệ trong giới làm vườn] (PDF). Current Anthropology (bằng tiếng Anh). 51 (1): 49–64. doi:10.1086/648587. S2CID 12364888. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026 – qua CrossRef.
  44. ^ Lenski & Lenski 1987, tr. 164–166.
  45. ^ Lenski & Lenski 1987, tr. 166–172.
  46. ^ Langlois, Simon (2001). "Traditions: Social". Trong Smelser, Neil J.; Baltes, Paul B. (biên tập). International Encyclopedia of the Social & Behavioral Sciences [Bách khoa toàn thư quốc tế về khoa học xã hội và hành vi] (bằng tiếng Anh). Quyển 23 (ấn bản thứ 1). Elsevier Science. tr. 15830. doi:10.1016/B0-08-043076-7/02028-3. ISBN 0-08-043076-7. LCCN 2001044791. OCLC 47869490. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  47. ^ Brown 1988, tr. 78–82.
  48. ^ Lenski, Gerhard; Nolan, Patrick (2010). "The Agricultural Economy" [Kinh tế nông nghiệp]. Human Societies: An Introduction to Macrosociology [Xã hội loài người: Nhập môn xã hội học vĩ mô] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 11). Nhà xuất bản Đại học Oxford. tr. 35–37. ISBN 978-0-19-994602-0.
  49. ^ Brown 1988, tr. 112.
  50. ^ Lenski & Lenski 1974, tr. 315.
  51. ^ a b c Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 101.
  52. ^ Nolan & Lenski 2009, tr. 221.
  53. ^ Nolan & Lenski 2009, tr. 208.
  54. ^ Lenski & Lenski 1974, tr. 319.
  55. ^ Lenski & Lenski 1974, tr. 328.
  56. ^ Nolan & Lenski 2009, tr. 223.
  57. ^ Nolan & Lenski 2009, tr. 205.
  58. ^ Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 102.
  59. ^ Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 528.
  60. ^ Beniger, James Ralph (1986). The Control Revolution: Technological and Economic Origins of the Information Society [Cách mạng Kiểm soát: Nguồn gốc công nghệ và kinh tế của xã hội thông tin] (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Harvard. tr. 21–22. ISBN 0-674-16986-7. LCCN 85031743. OCLC 13064782.
  61. ^ Mattelart, Armand (2003). Histoire de la Société de l'information [Lịch sử xã hội thông tin] (bằng tiếng Anh). Taponier, Susan G.; Cohen, James A. biên dịch. SAGE Publications. tr. 99–158. ISBN 0-7619-4948-8. LCCN 2002114570. OCLC 52391229.
  62. ^ Lyon, David (2002). "Cyberspace: Beyond the Information Society?" [Không gian mạng: Hơn cả xã hội thông tin?]. Trong Armitage, John; Roberts, Joanne (biên tập). Living with Cyberspace: Technology & Society in the 21st Century [Sống cùng không gian mạng: Công nghệ và xã hội trong thế kỷ 21] (bằng tiếng Anh). Continuum. tr. 21–33. ISBN 0-8264-6035-6. LCCN 2002071646. OCLC 824653965. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  63. ^ Phillips, Fred; Yu, Ching-Ying; Hameed, Tahir; El Akhdary, Mahmoud Abdullah (2017). "The knowledge society's origins and current trajectory" [Nguồn gốc và hướng đi hiện tại của xã hội tri thức]. International Journal of Innovation Studies (bằng tiếng Anh). 1 (3): 175–191. doi:10.1016/j.ijis.2017.08.001.
  64. ^ Castelfranchi, Cristiano (tháng 12 năm 2007). "Six critical remarks on science and the construction of the knowledge society" [Sáu nhận xét quan trọng về khoa học và việc xây dựng xã hội tri thức]. Journal of Science Communication (bằng tiếng Anh). 6 (4). SISSA: C03. doi:10.22323/2.06040303. ISSN 1824-2049. OCLC 56474936.
  65. ^ Lapinski, Maria Knight; Rimal, Rajiv N. (tháng 5 năm 2005). "An Explication of Social Norms" [Giải thích về các chuẩn mực xã hội]. Communication Theory (bằng tiếng Anh). 15 (2): 127–147. doi:10.1093/ct/15.2.127. ISSN 1050-3293. LCCN 91660236. OCLC 49374452.
  66. ^ Finnemore, Martha (1996). National Interests in International Society [Lợi ích quốc gia trong xã hội quốc tế] (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Cornell. tr. 22–24, 26–27. ISBN 978-0-8014-8323-3. JSTOR 10.7591/j.ctt1rv61rh. LCCN 96013991. OCLC 34473682.
  67. ^ Pristl, Ann-Catrin; Kilian, Sven; Mann, Andreas (ngày 8 tháng 11 năm 2020). "When does a social norm catch the worm? Disentangling social normative influences on sustainable consumption behaviour" [Chuẩn mực xã hội thành công khi nào? Phân tích ảnh hưởng của chuẩn mực xã hội đến hành vi tiêu dùng bền vững] (PDF). Journal of Consumer Behaviour: An International Research Review (bằng tiếng Anh). 20 (3): 635–654. doi:10.1002/cb.1890. ISSN 1472-0817. LCCN 2005206515. OCLC 49883766. S2CID 228807152. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  68. ^ Legro, Jeffrey W. (mùa đông 1997). "Which Norms Matter? Revisiting the "Failure" of Internationalism" [Những chuẩn mực nào thực sự quan trọng? Nhìn lại "sự thất bại" của chủ nghĩa quốc tế]. International Organization (bằng tiếng Anh). 51 (1): 31–63. doi:10.1162/002081897550294. ISSN 0020-8183. JSTOR 2703951. LCCN 49001752. S2CID 154368865.
  69. ^ Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 111.
  70. ^ Conerly, Holmes & Tamang 2021, tr. 112.
  71. ^ Ridgeway, Cecilia L. (2001). "Small Group Interaction and Gender" [Tương tác nhóm nhỏ và giới tính xã hội]. Trong Smelser, Neil J.; Baltes, Paul B. (biên tập). International Encyclopedia of the Social & Behavioral Sciences [Bách khoa toàn thư quốc tế về khoa học xã hội và hành vi] (bằng tiếng Anh). Quyển 21 (ấn bản thứ 1). Elsevier Science. tr. 14185–14189. doi:10.1016/B0-08-043076-7/03999-1. ISBN 0-08-043076-7. LCCN 2001044791. OCLC 47869490.
  72. ^ Alters, Sandra; Schiff, Wendy (2011). Essential Concepts for Healthy Living [Những khái niệm thiết yếu cho cuộc sống lành mạnh] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 5). Jones & Bartlett Publishers. tr. 143. ISBN 978-0-7637-8975-6. LCCN 2009053267. OCLC 496282269.
  73. ^ Fortin, Nicole M. (2005). "Gender Role Attitudes and the Labour-market Outcomes of Women across OECD Countries" [Thái độ về thể hiện giới và thành quả của phụ nữ trong thị trường lao động tại các quốc gia thuộc OECD]. Oxford Review of Economic Policy (bằng tiếng Anh). 21 (3). Nhà xuất bản Đại học Oxford: 416–438. doi:10.1093/oxrep/gri024. LCCN 92648878. OCLC 39193155.
  74. ^ Gillespie, Susan D. (2000). "Beyond Kinship: An Introduction" [Bước ra từ thân tộc: Nhập môn]. Trong Joyce, Rosemary A.; Gillespie, Susan D. (biên tập). Beyond Kinship: Social and Material Reproduction in House Societies [Bước ra từ thân tộc: Sự tái sản xuất vật chất và xã hội trong xã hội gia đình] (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Pennsylvania. tr. 1–21. ISBN 0-8122-3547-9. LCCN 00021501. OCLC 43434760.
  75. ^ Itao, Kenji; Kaneko, Kunihiko (ngày 4 tháng 2 năm 2020). "Evolution of kinship structures driven by marriage tie and competition" [Sự tiến hóa của cấu trúc quan hệ họ hàng thúc đẩy bởi quan hệ hôn nhân và cạnh tranh]. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America (bằng tiếng Anh). 117 (5): 2378–2384. Bibcode:2020PNAS..117.2378I. doi:10.1073/pnas.1917716117. PMC 7007516. PMID 31964846.
  76. ^ Chandra, Kanchan (2012). "What is Ethnic Identity? A Minimalist Definition" [Bản sắc dân tộc là gì? Định nghĩa đơn giản]. Constructivist Theories of Ethnic Politics [Các lý thuyết kiến tạo về chính trị sắc tộc] (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Oxford. tr. 69–70. ISBN 978-0-19-989315-7. LCCN 2012006989. OCLC 779097212.
  77. ^ Peoples, James; Bailey, Garrick (2012). Humanity: An Introduction to Cultural Anthropology [Nhân loại: Nhập môn Nhân học Văn hóa] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 9). Wadsworth, Cengage Learning. tr. 389. ISBN 978-1-111-34956-1. LCCN 2010936947. OCLC 698482450. In essence, an ethnic group is a named social category of people based on perceptions of shared social experience or one's ancestors' experiences. Members of the ethnic group see themselves as sharing cultural traditions and history that distinguish them from other groups.
  78. ^ Chandra, Kanchan (ngày 15 tháng 6 năm 2006). "What is Ethnic Identity and Does It Matter?" [Bản sắc dân tộc là gì và liệu nó có quan trọng không?]. Annual Review of Political Science (bằng tiếng Anh). 9: 397–424. doi:10.1146/annurev.polisci.9.062404.170715. ISSN 1094-2939. LCCN 98643699. OCLC 37047805.
  79. ^ Cronk, Lee; Leech, Beth L. (ngày 20 tháng 9 năm 2017). "How Did Humans Get So Good at Politics?" [Vì sao con người làm chính trị tốt đến thế?]. Sapiens Antropology Magazine (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  80. ^ Blackmore, Erin (ngày 22 tháng 2 năm 2019). "Race and ethnicity: How are they different?" [Chủng tộc và sắc tộc: Chúng khác nhau thế nào?]. National Geographic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  81. ^ Race, Ethnicity, and Genetics Working Group (tháng 10 năm 2005). "The Use of Racial, Ethnic, and Ancestral Categories in Human Genetics Research" [Sử dụng các phạm trù chủng tộc, sắc tộc và tổ tiên trong nghiên cứu di truyền học con người]. American Journal of Human Genetics (bằng tiếng Anh). 77 (4): 519–532. doi:10.1086/491747. PMC 1275602. PMID 16175499.
  82. ^ Smith, Anthony D. (1999). Myths and Memories of the Nation [Truyền thuyết và ký ức của quốc gia] (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Oxford. tr. 4–7. ISBN 978-0-19-829534-1. OCLC 41641377.
  83. ^ Banton, Michael (ngày 24 tháng 1 năm 2007). "Max Weber on 'ethnic communities': a critique" [Max Weber về 'cộng đồng sắc tộc': Một bài phê bình]. Nations and Nationalism (bằng tiếng Anh). 13 (1): 19–35. doi:10.1111/j.1469-8129.2007.00271.x.
  84. ^ Smith, Anthony D. (2006). "Ethnicity and Nationalism" [Sắc tộc và chủ nghĩa dân tộc]. Trong Delanty, Gerard; Kumar, Krishan (biên tập). The SAGE Handbook of Nations and Nationalism [Sổ tay SAGE về các quốc gia và chủ nghĩa dân tộc] (bằng tiếng Anh). London: SAGE Publications. tr. 171. ISBN 1-4129-0101-4. LCCN 2005936296. OCLC 64555613.
  85. ^ Harrison, J. Frank (2010) [2009]. "Forms and Models of Government" [Các dạng thức và mô hình chính phủ]. Trong Sekiguchi; Masashi (biên tập). Government and Politics [Chính phủ và chính trị] (bằng tiếng Anh). Quyển 1. Vương quốc Anh: Eolss Publishers. tr. 30–48. ISBN 978-1-84826-969-9. OCLC 938309332.
  86. ^ Holslag, Jonathan (2018). A Political History of the World: Three Thousand Years of War and Peace [Lịch sử chính trị thế giới: Ba nghìn năm chiến tranh và hòa bình] (bằng tiếng Anh). Penguin Books, Limited. tr. 24–25. ISBN 978-0-241-35204-5. LCCN 2018487155. OCLC 1066747142.
  87. ^ Christian, David (2004). Maps of Time: An Introduction to Big History [Những bản đồ thời gian: Giới thiệu về Lịch sử Vĩ đại] (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học California. tr. 284. ISBN 978-0-520-24476-4. LCCN 2003012764. OCLC 52458844. Where productivity increased and populations grew, farming communities and technologies spread into regions that had been only thinly populated before, thereby laying the foundations for new regions of agrarian civilization.
  88. ^ "EIU's 2024 Democracy Index: trend of global democratic decline and strengthening authoritarianism continues through 2024" (bằng tiếng Anh). Cơ quan Tình báo Kinh tế. ngày 27 tháng 2 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  89. ^ Evers, Jeanne, biên tập (ngày 19 tháng 10 năm 2023). "International Organization" [Tổ chức quốc tế]. National Geographic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  90. ^ Mingst, Karen A.; Karns, Margaret P.; Lyon, Alynna J. (2022). "The United Nations in World Politics" [Liên Hợp Quốc trong chính trị thế giới]. The United Nations in the 21st Century [Liên Hợp Quốc thế kỷ 21] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 6). Routledge. tr. 1–20. doi:10.4324/9781003038269-1. ISBN 978-1-003-03826-9. LCCN 2021042389. OCLC 1284920072.
  91. ^ a b Horan, Richard D.; Bulte, Erwin; Shogren, Jason F. (tháng 9 năm 2005). "How trade saved humanity from biological exclusion: an economic theory of Neanderthal extinction" [Thương mại đã cứu nhân loại khỏi sự loại trừ sinh học bằng cách nào: một lý thuyết kinh tế về sự tuyệt chủng của người Neanderthal]. Journal of Economic Behavior & Organization (bằng tiếng Anh). 58 (1): 1–29. doi:10.1016/j.jebo.2004.03.009. ISSN 0167-2681. LCCN 81644042. OCLC 6974696.
  92. ^ Gibbons, John (ngày 11 tháng 8 năm 2015). "Why did Neanderthals go extinct?" [Vì sao người Neanderthal tuyệt chủng?]. Smithsonian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2024.
  93. ^ Gosch, Stephen S.; Stearns, Peter N., biên tập (2008). "Beginnings to 1000 BCE" [Từ khởi nguyên đến năm 1000 TCN]. Premodern Travel in World History [Di chuyển tiền hiện đại trong lịch sử thế giới] (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 7–9. ISBN 978-0-415-22940-1. LCCN 2007004687. OCLC 82286698.
  94. ^ Henriques, Martha. "How spices changed the ancient world" [Gia vị thay đổi thế giới cổ đại thế nào]. BBC (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  95. ^ Strauss, Ilana E. (ngày 26 tháng 2 năm 2016). "The Myth of the Barter Economy" [Huyền thoại về nền kinh tế trao đổi]. The Atlantic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2024.
  96. ^ Semenova, Alla (ngày 14 tháng 4 năm 2011). "Would You Barter with God? Why Holy Debts and Not Profane Markets Created Money" [Bạn có muốn mặc cả với Chúa không? Tại sao tiền lại được tạo ra bởi những món nợ thiêng liêng chứ không phải thị trường thế tục?]. American Journal of Economics and Sociology (bằng tiếng Anh). 70 (2): 376–400. doi:10.1111/j.1536-7150.2011.00779.x. eISSN 1536-7150. ISSN 0002-9246. LCCN 45042294. OCLC 1480136.
  97. ^ Yang, Bin (tháng 3 năm 2011). "The Rise and Fall of Cowrie Shells: The Asian Story" [Sự trỗi dậy và suy tàn của vỏ ốc xà cừ: Câu chuyện châu Á]. Journal of World History (bằng tiếng Anh). 22 (1). Nhà xuất bản Đại học Hawai'i: 1–25. eISSN 1527-8050. ISSN 1045-6007. JSTOR 23011676. LCCN 90640778. OCLC 20155374.
  98. ^ Chown, John F. (1994). A History of Money: From AD 800 [Lịch sử tiền tệ: Từ năm 800 CN] (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 0-415-10279-0. LCCN 93031293. OCLC 28708022.
  99. ^ Evans, David S. (ngày 24 tháng 1 năm 2005). "The Growth and Diffusion of Credit Cards in Society" [Sự phát triển và phổ biến của thẻ tín dụng trong xã hội]. Payment Card Economics Review (bằng tiếng Anh). 2: 59–76. ISSN 1946-4983. LCCN 2004240967. OCLC 54674679. SSRN 653382. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  100. ^ "Why do we need economists and the study of economics?" [Tại sao chúng ta cần các nhà kinh tế học và cần nghiên cứu kinh tế học?] (bằng tiếng Anh). Ngân hàng Dự trữ Liên bang San Francisco. tháng 7 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2024.
  101. ^ Zucman, Gabriel (2019). "Global Wealth Inequality" [Bất bình đẳng tài sản trên thế giới]. Annual Review of Economics (bằng tiếng Anh). 11: 124–128. doi:10.1146/annurev-economics-080218-025852. eISSN 1941-1391. LCCN 2008214322. OCLC 190859329.
  102. ^ Yong, Ed (ngày 28 tháng 9 năm 2016). "Humans: Unusually Murderous Mammals, Typically Murderous Primates" [Con người: Loài động vật có vú hung bạo bất thường, loài linh trưởng hung bạo bình thường]. The Atlantic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  103. ^ Ferguson, R. Brian (ngày 1 tháng 9 năm 2018). "War Is Not Part of Human Nature" [Chiến tranh không phải là một phần bản chất con người]. Scientific American (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2024.
  104. ^ a b Gómez, José María; Verdú, Miguel; González-Megías, Adela; Méndez, Marcos (tháng 10 năm 2016). "The phylogenetic roots of human lethal violence" [Nguồn gốc phát sinh chủng loại của bạo lực gây chết người ở con người]. Nature (bằng tiếng Anh). 538 (7624): 233–237. Bibcode:2016Natur.538..233G. doi:10.1038/nature19758. ISSN 1476-4687. LCCN 2005233250. OCLC 47076528. PMID 27680701. S2CID 4454927.
  105. ^ a b Pagel, Mark (tháng 10 năm 2016). "Animal behaviour: Lethal violence deep in the human lineage" [Hành vi động vật: Bạo lực chết người ăn sâu trong dòng dõi loài người] (PDF). Nature (bằng tiếng Anh). 538 (7624): 180–181. Bibcode:2016Natur.538..180P. doi:10.1038/nature19474. ISSN 1476-4687. LCCN 2005233250. OCLC 47076528. PMID 27680700. S2CID 4459560. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Brown, Donald E. (1988). Hierarchy, History, and Human Nature: The Social Origins of Historical Consciousness [Thứ bậc, lịch sử và bản chất con người: Nguồn gốc xã hội của ý thức lịch sử] (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Arizona. ISBN 0-8165-1060-1. LCCN 88015287. OCLC 17954611.
  • Conerly, Tanja; Holmes, Kathleen; Tamang, Asha Lal (2021). Introduction to Sociology [Nhập môn xã hội học] (PDF) (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 3). Houston, TX: OpenStax. ISBN 978-1-711493-98-5. OCLC 1269073174. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  • Lenski, Gerhard E.; Lenski, Jean (1974). Human Societies: An Introduction to Macrosociology [Xã hội loài người: Nhập môn xã hội học vĩ mô] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 2). New York: McGraw-Hill, Inc. ISBN 978-0-07-037172-9. LCCN 73008956. OCLC 650644.
  • Lenski, Gerhard E.; Lenski, Jean (1987). Human Societies: An Introduction to Macrosociology [Xã hội loài người: Nhập môn xã hội học vĩ mô] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 5). McGraw-Hill Book Company. ISBN 0-07-037181-4. LCCN 86010586. OCLC 13703170.
  • Nolan, Patrick; Lenski, Gerhard Emmanuel (2009). Human Societies: An Introduction to Macrosociology [Xã hội loài người: Nhập môn xã hội học vĩ mô] (ấn bản thứ 11). Boulder: Paradigm Publishers. ISBN 978-1-59451-578-1. LCCN 2008026843. OCLC 226355644.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Bicchieri, Cristina; Muldoon, Ryan; Sontuoso, Alessandro (ngày 24 tháng 9 năm 2018). "Social Norms" [Chuẩn mực xã hội]. Trong Zalta, Edward N. (biên tập). Stanford Encyclopedia of Philosophy (bằng tiếng Anh). Phòng Nghiên cứu Siêu hình học, Đại học Stanford. ISSN 1095-5054. LCCN sn97004494. OCLC 37550526. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2024.
  • Boyd, Robert; Richerson, Peter J. (ngày 12 tháng 11 năm 2009). "Culture and the evolution of human cooperation" [Văn hóa và sự tiến hóa của hợp tác giữa con người]. Philosophical Transactions of the Royal Society B: Biological Sciences (bằng tiếng Anh). 364 (1533): 3281–3288. doi:10.1098/rstb.2009.0134. LCCN 86645785. OCLC 1403239. PMC 2781880. PMID 19805434.
  • Calhoun, Craig, biên tập (2002). Dictionary of the Social Sciences [Từ điển khoa học xã hội] (bằng tiếng Anh). New York, NY: Nhà xuất bản Đại học Oxford. ISBN 0-19-512371-9. LCCN 00068151. OCLC 45505995.
  • Clutton-Brock, T.; West, S.; Ratnieks, F.; Foley, R. (ngày 12 tháng 11 năm 2009). "The evolution of society" [Sự tiến hóa của xã hội]. Philosophical Transactions of the Royal Society B: Biological Sciences (bằng tiếng Anh). 364 (1533): 3127–3133. doi:10.1098/rstb.2009.0207. LCCN 86645785. OCLC 1403239. PMC 2781882. PMID 19805421.
  • Griffen, Leonid (2021). "The Society as a Superorganism" [Xã hội như một siêu sinh vật] (PDF). The Scientific Heritage (bằng tiếng Anh). 5 (67): 51–60. ISSN 9215-0365. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  • Jenkins, Richard (2002). Foundations of Sociology: Towards a Better Understanding of the Human World [Những nền tảng của xã hội học: Hướng tới sự hiểu biết tốt hơn về thế giới loài người] (bằng tiếng Anh). London, UK: Palgrave MacMillan. ISBN 978-0-333-96050-9. LCCN 2002071539. OCLC 49859950.
  • Lenski, Gerhard (1966). "Agrarian Societies [Parts I & II]" [Xã hội nông nghiệp [Phần I & II]]. Power and Privilege: A Theory of Social Stratification [Quyền lực và Đặc quyền: Một lý thuyết về phân tầng xã hội] (bằng tiếng Anh). McGraw-Hill Book Company. tr. 189–296. ISBN 0-07-037165-2. LCCN 65028594. OCLC 262063.
  • Postone, Moishe (1993). Time, Labour, and Social Domination: A Reinterpretation of Marx's Critical Theory [Thời gian, Lao động và Sự thống trị xã hội: Một sự diễn giải lại lý thuyết phê phán của Marx] (bằng tiếng Anh). Vương quốc Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. ISBN 978-0-521-56540-0. LCCN 92035758. OCLC 26853972.
  • Rummel, Ruldolph Joseph (1976). "The State, Political System and Society" [Quốc gia, hệ thống chính trị và xã hội]. Understanding Conflict and War, Vol. 2: The Conflict Helix [Hiểu về xung đột và chiến tranh, Tập 2: Vòng xoáy xung đột] (bằng tiếng Anh). SAGE Publications. ISBN 978-0-470-15123-5. LCCN 74078565. OCLC 59238703. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2026.
  • Williams, Raymond (1976). Keywords: A Vocabulary of Culture and Society [Những từ khóa: Từ vựng về văn hóa và xã hội] (bằng tiếng Anh). London, UK: Fontana/Croom Helm. ISBN 0-85664-289-4. LCCN 76377757. OCLC 2176518.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn] Wikiquote có bộ sưu tập danh ngôn về: Xã hội
  • Tư liệu liên quan tới Society tại Wikimedia Commons
  • Xã hội tại Từ điển bách khoa Việt Nam
  • Định nghĩa của xã hội tại Wiktionary
  • x
  • t
  • s
Nhân văn học
  • Lịch sử
  • Ngôn ngữ
  • Luật pháp
  • Văn học
  • Nghệ thuật biểu diễn
  • Chính trị
  • Triết học
  • Tôn giáo
  • Nghệ thuật thị giác
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn Sửa dữ liệu tại Wikidata
Quốc tế
  • GND
Quốc gia
  • Hoa Kỳ
  • Nhật Bản
  • Cộng hòa Séc
  • Israel
Khác
  • NARA
  • İslâm Ansiklopedisi
  • Yale LUX
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Xã_hội&oldid=74729813” Thể loại:
  • Xã hội
  • Loại tổ chức
  • Con người
  • Bài viết chủ đề chính
Thể loại ẩn:
  • Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
  • Nguồn CS1 có chữ Trung (zh)
  • Nguồn CS1 tiếng Trung (zh)
  • Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
  • Bài cơ bản
  • Trang sử dụng bản mẫu nhiều hình với các hình được chia tỷ lệ tự động
  • Bài viết có văn bản tiếng Anh
  • Bài viết có văn bản tiếng Trung Quốc
  • Bài viết có văn bản tiếng Pháp
  • Bài viết có văn bản tiếng Latinh
  • Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
Tìm kiếm Tìm kiếm Đóng mở mục lục Xã hội 171 ngôn ngữ Thêm đề tài

Từ khóa » Giải Nghĩa Từ Nhòm