NHẬP MÔN HÁN NGỮ CỔ ĐẠI - 123doc

Đó là vào thời kỳ đầu, đến giai đoạn tiếp theo thì chữ cũng tượng hình mà thêm tính cách biểu ý như nhật: cả tiếng Trung Hoa lẫn tiếng cổ Ai Cập đều có nghĩa là ngày; -nguyệt: tiếng Trun

Trang 1

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HCM

-oOo - Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

-oOo -KHOA PHẬT PHÁP HOA NGỮ TP HCM, ngày 16 tháng 09 năm 2010

BIÊN SOẠNTh.S Thích Minh Thanh

入 入 入 入

TP.HCM 2010 – PL.2554

Trang 2

TH.S THÍCH MINH THANH 2 NHẬP MÔN HÁN NGỮ CỔ ĐẠI

 muốn chỉ Mặt Trời, Trung Hoa vẽ (Ai Cập cũng tương tự), sau thành chữ 漢;

 muốn chỉ Mặt Trăng, Trung Hoa vẽ (Ai Cập vẽ ), sau thành chữ 漢;

 muốn chỉ dòng nước, Trung Hoa vẽ , sau thành chữ 漢;

 muốn chỉ khu ruộng, Trung Hoa vẽ , sau thành chữ 漢;

 muốn chỉ cây cối, Trung Hoa vẽ , sau thành chữ 漢;

 muốn chỉ cái miệng, Trung Hoa vẽ (Ai Cập cũng vẽ ), sau thành chữ 漢

Đó là vào thời kỳ đầu, đến giai đoạn tiếp theo thì chữ cũng tượng hình mà thêm tính cách biểu ý như nhật: cả tiếng Trung Hoa lẫn tiếng cổ Ai Cập đều có nghĩa là ngày; -nguyệt: tiếng Trung Hoa thêmnghĩa chỉ tháng; tiếng Ai Cập cũng dùng cách này để chỉ tháng: vẽ một mặt trăng, nhưng thêm một ngôisao:

-Qua giai đoạn sau, mỗi hình ở Ai Cập chỉ một vần, như chỉ cái miệng, nhưng miệng người Ai Cập

thời xưa đọc là ra (hay re), cho nên vần đó chỉ thêm vần ra (hay re).

Giai đoạn cuối, mỗi hình (gọi là dấu cũng được) chỉ một âm như hình không chỉ vần ra (hay re) nữa

mà chỉ phụ âm r.

Từ đó, chữ viết cổ Ai Cập không còn là chữ tượng hình mà hình thành chữ tượng thanh - cũng gọi là ký

âm - như các chữ của phương Tây: Hy Lạp, La Mã,

Trang 3

Đặc điểm:

Bất lợi

 Thời gian học dài: Người học chữ Trung Quốc phải có nhiều (hai ba năm) mới nhớ được mặt chữcủa ba bốn ngàn từ thường dùng; nếu dùng lối tượng thanh thì nhanh và đơn giản hơn

 Chữ viết phức tạp, nhiều nét: có những chữ trên hai mươi lăm nét

 In sách báo tốn công vì rất rắc rối, phải sắp gần một vạn chữ vì không thể dùng ba bốn chục ký tựmẫu và dấu như các chữ lối tượng thanh

Không đánh được tín hiệu: phải dùng khoảng 8.000 dấu hiệu (code), mỗi dấu hiệu thay cho một

chữ

Thuận Lợi:

Cái lợi của chữ Trung Hoa cũng hiển nhiên:

 Khi nhớ mặt chữ của một từ thì người học rất khó quên được ý nghĩa của nó, chẳng hạn chữ an (漢)gồm nữ (漢 đàn bà) ở dưới miên (漢 mái nhà) nên có nghĩa là an (an ổn), hoặc chữ minh (漢) gồm nhật (漢

mặt trời) và nguyệt ( 漢 mặt trăng) nên có nghĩa là sáng Như vậy mỗi từ của Trung Hoa có tính chất sống

động hơn từ của phương Tây và vì vậy đọc một bài thơ Trung Hoa viết bằng chữ Trung Hoa thì cảm thấy

có ý nghĩa hơn, thú vị hơn khi đọc cũng bài thơ đó phiên âm ra chữ quốc ngữ Cái thú còn tăng thêm gấpbội, nếu ta thưởng thức được nét bút của người viết, và ai cũng nhận ra môn "thư họa" (vẽ chữ) của TrungHoa là bước đầu của môn hoạ, người Trung Hoa nào viết chữ đẹp cũng được xem giống như một hoạ sĩ

 Lợi ích lớn nhất cho dân tộc Trung Hoa là nhờ lối chữ tượng hình mà họ nhanh chóng thống nhấtđược đất nước, dễ giữ được đế quốc của họ, vượt được hết nhiều dị biệt của các thổ ngữ, những hàng ràongôn ngữ Họ có rất nhiều thổ ngữ, nếu dùng một thứ chữ tượng thanh, như tự mẫu La Tinh chẳng hạn, thìngười Bắc Kinh không sao hiểu được người Vân Nam, người Tứ Xuyên không sao hiểu được người SơnĐông , mà nước của họ đã bị chia thành nhiều tiểu quốc, dân tộc rồi, như châu Âu có người Ý, Pháp,Đức, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha

Cũng nhờ lối chữ đặc biệt này mà rất nhiều Hoa kiều ở khắp thế giới từ Đông Nam Á tới Âu Châu, MỹChâu, dù sinh sống ở quốc gia nào và sử dụng ngôn ngữ của dân tộc khác nhưng vẫn giữ được nền vănhóa cổ, vẫn giữ được phong tục, truyền thống và dùng bút đàm mà hiểu được nhau

Nhưng đối với những người chưa biết nhiều về chữ Hán, thì thường có một quan niệm sai lầm là họ cứtưởng rằng chữ hán rất khó học Thật ra không hoàn toàn đúng, nếu so sánh với việc học chữ Anh, thật rachữ Hán dễ học hơn chữ Anh Lý do thật đơn giãn vì người học chữ Hán chỉ cần nhớ được 3 ngàn chữ đơn

là có thể đọc viết được các loại sách báo & tạp chí, trong khi người học chữ Anh thì cần phải nhớ 50 ngàn

từ Vả lại biên soạn & in ấn chữ Hán không còn khó khăn như xưa bởi sự trợ giúp của máy vi tính,người thông thạo gõ chữ hán có thể gõ được từ 60 ~ 200 chữ trong 1 phút

Chữ Hán ở các nước

Trang 4

TH.S THÍCH MINH THANH 4 NHẬP MÔN HÁN NGỮ CỔ ĐẠI

Trung Quốc:

Chữ Hán bắt nguồn từ Trung Quốc từ thời xa xưa dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và vẽ thànhdạng chữ tượng hình, chữ mang ý nghĩa Chữ Hán đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển Cho tới hiện nay,chữ Hán cổ nhất được cho là loại chữ Giáp Cốt (Giáp Cốt Tự 漢漢漢), chữ viết xuất hiện vào đời nhà Ân (漢)vào khoảng thời 1600-1020 trước Công Nguyên Chữ Giáp Cốt là chữ Hán cổ viết trên các mảnh xươngthú vật và có hình dạng rất gần với những vật thật quan sát được

Chữ Giáp Cốt tiếp tục được phát triển qua các thời:

 Nhà Chu 漢 (1021-256 TCN) có chữ Kim (Kim Văn 漢漢), là chữ viết trên các chuông bằng đồng vàkim loại

 Chiến Quốc 漢漢 (403-221 TCN) và thời nhà Tần 漢 (221-206 TCN) có chữ Triện (Đại Triện và TiểuTriện) và có chữ Lệ (Lệ Thư 漢漢)

 Nhà Hán 漢 (Tiền Hán 206 TCN-8 CN, Hậu Hán 25-220) có chữ Khải (Khải Thư 漢漢)

Chữ Khải còn có thể được chia thành chữ Hành (Hành Thư 漢漢) và chữ Thảo (Thảo Thư 漢漢) Chữ Khải làloại chữ được dùng bút lông chấm mực tàu viết trên giấy và rất gần với hình dáng chữ Hán ngày nay vẫncòn được dùng ở Nhật, Đài Loan hay Hồng Kông Chữ Thảo là loại chữ được viết bằng bút lông có lượcbớt hoặc ghép một số nét lại Sự phát triển chữ Hán trải qua các thời kỳ có thể được minh họa bằng một sốchữ sau:

Chữ Giáp Cốt → Chữ Kim → Chữ Triện → Chữ Lệ → Chữ Khải → Chữ Thư

Ngày nay chữ Hán ở Trung Quốc đã có xu thế được giản lược đơn giản hơn và ở Trung Quốc còn sử dụnghai loại chữ: chữ Phồn Thể (漢漢漢) và chữ Giản Thể (漢漢漢)

Triều Tiên:

Hán ngữ được du nhập vào bán đảo Triều Tiên khá lâu, khoảng thời kỳ đồ sắt Đến thế kỷ thứ 4 trướccông nguyên xuất hiện các văn bản viết tay của người Hàn Các bản viết tay này được sử dụng chữ Hán.Tiếng Hán là thứ ngôn ngữ khó, dùng chữ Hán để viết tiếng Triều Tiên trở nên phức tạp, cho nên các họcgiả người Hàn đã tìm cách cải biến chữ Hán để phù hợp với âm đọc của tiếng Triều Tiên Vào khoảng thế

kỷ thứ 15, ở Triều Tiên xuất hiện chữ Hàn, được gọi là Hangul (漢漢), chữ này trải qua nhiều thế kỷ pháttriển thăng trầm, cuối cùng chính thức được dùng thay thế cho chữ Hán cho tới ngày nay Chữ Hàn ra đời,lúc ban đầu gồm 28 ký tự, sau đó còn 24 ký tự giống như bảng chữ cái La Tinh, và được dùng để ký âm

tiếng Hàn Tuy chữ Hàn ra đời nhưng chữ Hán (Hanja) vẫn còn được giảng dạy trong trường học Năm

1972, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã quy định phải dạy 1800 chữ Hán cơ bản cho học sinh Còn ở Cộng hòaDân chủ Nhân dân Triều Tiên, người ta đã bỏ hẳn chữ Hán

Nhật Bản:

Chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua con đường Triều Tiên Chữ Hán ở Nhật được gọi là Kanji, Hán

tự (漢漢), và được du nhập vào Nhật theo con đường giao lưu buôn bán giữa Nhật và Triều Tiên vào khoảngthế kỷ thứ 4, Tiếng Nhật cổ đại vốn không có chữ viết, nên khi chữ Hán du nhập vào Nhật, người Nhậtdùng chữ Hán để viết tiếng nói của họ Dạng chữ đầu tiên người Nhật sáng tạo từ chữ Hán để viết tiếngNhật là chữ Man-yogana (Vạn Diệp Giả Danh 漢漢漢漢) Hệ thống chữ viết này dựa trên chữ Hán và kháphức tạp Chữ Vạn Diệp Giả Danh được đơn giản hóa thành Hiragana 漢漢漢漢 (Bình Giả Danh 漢漢漢), vàKatakana 漢漢漢漢 (Phiến Giả Danh 漢漢漢) Cả hai loại chữ này trải qua nhiều lần

chỉnh lý và hoàn thiện mới trở thành chữ viết ngày nay ở Nhật Tiếng Nhật hiện đại được viết bằng bốnloại ký tự

1 Chữ Hán (Kanji, 漢漢)

Trang 5

trên 400 chữ Các chữ Hán này được lập thành bảng gọi là Bảng chữ Hán thường dùng (Jyoyo Kanji Hyo

hay Thường Dụng Hán Tự Biểu 漢漢漢漢漢) và Bảng chữ Hán dùng viết tên người (Jinmeiyo Kanji Hyo hayNhân Danh Dụng Hán Tự Biểu 漢漢漢漢漢漢)

Việt Nam:

Trước khi chữ Hán du nhập vào Việt Nam, một số học giả cho rằng người Việt có chữ viết kiểu nút còngọi là chữ khoa đẩu [?] , theo các nhà nghiên cứu thì, không phải người Việt dùng kiểu thắt nút để trị quốcnhư các sách sử của Trung Quốc, mà người Việt có văn tự riêng của mình - Bằng chứng là các văn tự đượctìm thấy ở các văn bia miền núi phía Bắc Các văn tự này có chữ viết ngoằn nghèo như lửa nên còn gọi làHỏa tự Tiếng Việt cổ đại là thứ ngôn ngữ thuộc họ Mường-Khmer, khác hẳn họ ngôn ngữ với tiếng Hán.Nhiều tác giả cho rằng chữ Hán du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ 1 trước Công nguyên, ngay saukhi quân Hán phương Bắc chiếm xong Việt Nam Trong suốt một nghìn năm, từ thế kỳ 1 TCN tới năm

938, tiếng Việt bị ảnh hưởng mạnh mẽ của chữ Hán, hay còn gọi là chữ Nho Trong suốt thời gian Bắc

thuộc với chính sách Hán hóa của nhà Hán, tiếng Hán đã được giảng dạy ở Việt Nam, và người Việt Nam

đã chấp nhận thứ ngôn ngữ mới đó song song với tiếng Việt, tiếng nói truyền miệng Người Việt Nam tiếpthu tiếng Hán và chữ Hán, đồng thời đã Việt hóa nhiều từ của tiếng Hán thành từ tiếng Việt, gọi là từ Hán-Việt Có rất nhiều từ Hán-Việt đã đi vào trong từ vựng của tiếng Việt Sự phát triển của tiếng Hán ở ViệtNam trong thời kỳ bắc thuộc song song với sự phát triển của tiếng Hán ở chính Trung Quốc thời đó Tuynhiên, năm 938, sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, Việt Nam đã độc lập và không còn lệ thuộcvào phương Bắc nữa, nhưng ngôn ngữ vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của tiếng Hán Sau ngày giành đượcđộc lập, mặc dù tiếng Hán là ngôn ngữ được sử dụng chính thức nhưng đã phát triển theo hướng khác với

sự phát triển tiếng Hán ở Trung Quốc Tiếng Hán vẫn tiếp tục được dùng và phát triển nhưng cách phát âmcác chữ Hán lại theo cách phát âm của người Việt, và chúng ta có âm Hán-Việt Do nhu cầu phát triển củatiếng Việt, tiếng nói của dân tộc Việt, người Việt đã sử dụng chữ Hán để tạo ra chữ viết cho họ, đó là chữNôm

Nhưng chữ nôm không phải là bộ chữ hoàn thiện, cũng giống như người Quảng Đông Trung Quốc vậy

Họ có thể viết chữ Hán Quảng đông trong trò chuyện bình thường, nhưng họ cũng phải sử dụng chữ Hán

chuẩn trong văn thư để tỏa lòng trân trọng, dù đối tượng tiếp nhận văn thư là người Quảng Đông TrungQuốc

2 Sáu cách cấu tạo của Chữ Hán - Lục Thư (入入)

Trang 6

TH.S THÍCH MINH THANH 6 NHẬP MÔN HÁN NGỮ CỔ ĐẠI

Cũng như các chữ viết khác trên thế giới, chữ Hán được hình thành từ các nét vẽ miêu tả các sự vật hiệntượng xung quanh con người Nhưng khác ở đây là chữ Hán đã chọn một cách phát triển không giống cácchữ viết khác trên thế giới Với các chữ viết khác trên thế giới, khi xã hội phát triển, con người đã đơngiản các nét vẽ và dùng các nét đó để thể hiện cho một âm tiết nào đó trong tiếng nói của các dân tộc đó.Còn với chữ Hán, nó vẫn giữ lại ý nghĩa tượng hình ban đầu của chữ Và dùng các phép tạo chữ khác đểtạo nên các chữ có ý nghĩa trừu tượng (xem thêm ở dưới) Chính vì thế, chữ tượng hình mặc dù chiếm mộtphần không lớn trong chữ Hán, nhưng lại có tầm quan trọng rất lớn trong hệ thống chữ Hán

b Chỉ sự: sắp xếp các ký hiệu, dấu hiệu để biểu thị những khái niệm trừu tượng không thể vẽ

ra như đối với các vật cụ thể được

Vd: tức chữ  (thượng: trên)

tức chữ  (hạ: dưới)

─   (nhất: một), ━   (nhị: hai), ≡   (tam: ba)

  (phương: vuông),    (viên: tròn),   (hồi: về)

c Hội ý: ghép những thành tố có ý nghĩa lại

Vd: Chữ (: thái):  thái là “trái cây”,  là “tay”, dùng tay để lấy trái cây là “hái” Chữ tế 

gồm kết hợp (cái tay),  (nhục: thịt) và  (kỳ: thần) thành chữ (tế: cúng thần) ý nói: dùng tay bưngthịt để tế tự trước thần Ích  diễn tả ý nước tràn ra khỏi chậu, mạc  mặt trời lặn trong đám cỏ, mộ  buổichiều, minh  mặt trời với mặt trăng thì sáng, chúng  nhiều người thì đông, lâm  nhiều cây hợp thànhrừng, sâm : rừng rậm

d Hình thanh: kết hợp một yếu tố ghi âm thanh (thanh) với một yếu tố chỉ ý nghĩa (hình):

Vd: Hồ  được cấu tạo bởi nước () và âm hồ () thành ao hồ Nó còn có thể cấu tạo ra một loạt từ

đồng âm khác như , ,  hay như mã ()  , , , 

 thảo: cỏ =  thảo (ý nghĩa) +  tảo (vần)(quan hệ hình trên thanh dưới)

 viên: tròn =  vi: bao vây +  viên (quan hệ hình ngoài thanh trong)

e Chuyển chú: Từ nghĩa chính của một chữ suy ra nghĩa tương quan:

Vd: Nhật  là mặt trời, chuyển thành nghĩa “ngày”; nguyệt  mặt trăng có nghĩa “tháng”; thượng 

nghĩa “ở trên”, chuyển thành nghĩa “đi lên”; chữ lão  vốn là bộ thủ, chữ khảo  thuộc về bộ “lão” Dochữ  bớt đi phần dưới và thêm vào âm phù  tức là cùng một đầu bộ mà hai chữ tương

đồng có thể chú thích lẫn nhau (đồng ý tương thụ) Tương tự, chữ  (hình: cắt, giết) và  (hĩnh: cắt

cổ tự tử),  (điên: đỉnh, chóp) và  (đỉnh: đỉnh, chóp) đều là những chữ chuyển chú

Trang 7

f Giả tá: Mượn một chữ có sẵn để thay cho từ mới xuất hiện sau Vd:  (trường: dài)  

(trưởng: lớn),  (hảo: tốt)   (hiếu: thích),  (hòa: hòa)   (họa: xướng họa),  (lệnh: hiệu lệnh)   (lệnh: huyện lệnh),  (ly) ban đầu là tên chim, sau được dùng với nghĩa mới là “lìa” (ly khai, ly biệt, phân ly)

Nhật xét:

Có thể nói, trong “Lục thư”, cách tạo chữ theo hình thanh tỏ ra có nhiều ưu điểm nhất Lấy một âm

nào đó, cho kết hợp với những yếu tố khu biệt nghĩa (bộ) có thể tạo ra rất nhiều chữ đồng âm khác nghĩa.Điều đó có lợi cho việc học chữ Hán: nhìn vào phần âm là có thể biết cách đọc chữ Trong khi loại chữ

tượng hình, hội ý thì học chữ nào biết chữ đó Đối với chữ hình thanh, khi đã nắm vững qui luật kết hợp,

thì việc nhớ chữ, nhớ nghĩa cũng có phần thuận tiện hơn Phép tạo chữ hình thanh vẫn được áp dụng mãi

về sau này Hầu như những chữ Hán mới xuất hiện đều là chữ hình thanh

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, do sự thay đổi không ngừng vè mặt ngữ âm, nên đã dẫn đến nhữngtrường hợp không ăn khớp vè âm đọc Ngày nay, có khá nhiều chữ hình thanh không thể dựa vào phầnbiểu âm để đọc chữ nữa So sánh những cặp chữ sau đây, tuy có phần biều âm giống nhau nhưng âm đọclại khác nhau:

Phần “thanh” thì như thế, phần “hình” (biểu ý) cũng có những trường hợp chẳng có quan hệ gì vớinghĩa của chữ, nói đúng hơn là không rõ ràng

Đối với người học chữ Hán hiện nay, cách hình thanh là cần được coi trọng hàng đầu

3 Viết chữ Hán:

Như chúng ta thấy, chữ Hán có cấu tạo rất phức tạp không giống với những thứ chữ ráp vần theomẫu tự La tinh, còn có những chữ cùng âm hoặc âm đọc gần giống nhau, có những chữ tự dạng rất giốngnhau…Đó là những nguyên nhân khách quan dẫn đến vấn đề đọc lầm và viết lầm chữ…

Ngoài ra, chữ Hán có nhiều kiều chữ, đó là kết quả của từng cách viết cụ thể Chẳng hạn chữ thảo

là sản phầm của lối viết phóng khóang, bay bướm, liền mạch (ít hoặc không nhấc bút trong khi viết); chữkhải là sản phẩm của lối viết sắp xếp từng nét với nguyên tắc ngang bằng sổ thẳng; còn hành thư là docách viết vừa liên mạch phóng khóang, vừa chân phương mà có

Bàn về cách viết chữ Hán ở đây, là bàn về lối viết kiểu chữ “chân thư”, kiểu chữ chính qui thôngdụng lâu nay

Trang 8

TH.S THÍCH MINH THANH 8 NHẬP MÔN HÁN NGỮ CỔ ĐẠI

Trang 9Trang 10

TH.S THÍCH MINH THANH 10 NHẬP MÔN HÁN NGỮ CỔ ĐẠI

Trang 11Trang 12

TH.S THÍCH MINH THANH 12 NHẬP MÔN HÁN NGỮ CỔ ĐẠI

Trang 13Trang 14

TH.S THÍCH MINH THANH 14 NHẬP MÔN HÁN NGỮ CỔ ĐẠI

Trang 15

Từ khóa » Cổ đại Tiếng Hán