THU DẠ LỮ HOÀI NGÂM -ĐINH NHẬT THẬN - VNthuquan
Có thể bạn quan tâm
back
Menu
THU DẠ LỮ HOÀI NGÂM -ĐINH NHẬT THẬN phantien 25.07.2010 18:37:16 (permalink) THU DẠ LỮ HOÀI NGÂM ( Khúc ngâm đêm thu của người lữ thứ) -------------------- Đinh Nhật Thận Đinh Nhật Thận, tự Tử Quý, hiệu Bạch Mao Am, sinh năm Ất Hợi 1815, mất năm 1886, người làng Thanh Liêu, nay là xã Thanh Tiên, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ôngđỗ đầu hàng tam giáp đồng tiến sĩ khoa thi Hội năm Mậu Tuất (1838) niên hiệu Minh Mệnh thứ 19, được triều đinh bổ làm tri phủ, tuy nhiên, sau một thời gian thì ông bị cách chức không rõ nguyên nhân. Năm 1843 được phục chức nhưng ông cáo bệnh không nhận. Tính tình ông phóng khoáng, thích làm thuốc, làm thơ giao du đây đó, lấy việc kết thân bạn hữu gần xa làm trọng. Ông là bạn chí thân của Cao Bá Quát (Bắc Ninh) và Nguyễn Hàm Ninh (Quảng Bình). Sau cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương của Cao Bá Quát, ông bị liên luỵ, triều đình bắt giữ và kiềm chế gắt gao. Biết ông là người học rộng tài cao nên Tự Đức quyết giữ ông lại trong cung, trước là để kiềm tỏa, sau là nhờ ông dạy cho các hoàng tôn. Sống cảnh gò bó, chán chường, lúc nào ông cũng mang nặng nỗi lòng nhớ cố hương. Vào một đêm thu thanh vắng, độc ẩm, tức cảnh sinh tình, ông viết một mạch “Thu dạ lữ hoài ngâm ”. Khúc ngâm dồn nén tất cả những tâm tư tình cảm với gia đình, với quê hương xứ sở. Tác phẩm được truyền tụng đến tai vua. Vì mến phục tài đức của một nhân cách cao thượng, vua Tự Đức đã hạ chỉ tha cho ông. Thu dạ lữ hoài ngâm được sáng tác là tác phẩm có ý nghĩa quan trọng làm nên tên tuổi Đinh Nhật Thận trong lịch sử văn học Việt Nam. Tác phẩm có 136 câu chữ Hán. Bản chúng tôi in ở đây, tương truyền do tác giả tự dịch. Thu dạ lữ hoài ngâm là tình thương nhớ quê hương, gia đình của một người bị bắt giam vô cớ, mặc dù ở giữa kinh đô nhưng lòng luôn luôn trống trải, lãnh lẽo và xa lạ. Thu dạ lữ hoài ngâm còn là khúc ngâm đặc biệt độc đáo vì tính chất thể loại của nó. Tác phẩm chữ Hán nhưng lại được viết bằng thể song thất lục bát- một thể thơ hết sức thuần Việt và có ưu thế trong việc giãi bày tâm trạng. Chọn in Thu dạ lữ hoài ngâm vào " Thanh Chương, Xưa và Nay", chúng tôi mong muốn bạn đọc được tiếp xúc trọn vẹn với một tác phẩm của một nhà thơ tài hoa của quê hương mà cuộc đời và sáng tác của ông đã đi vào công chúng như những huyền thoại. BBT (Bản phiên âm chữ Hán) Thu dạ tĩnh thiên quang ẩn ước Cách sở liêm đạm chước kim lôi Thiên thời nhân sự tương thôi Phù sinh nhược mộng kỷ hồi vi hoan? Nhân đối cảnh hoa gian nguyệt chiếu Cảnh liêu nhân, thọ diếu phong xuy Giá ban liệu thiểu nhân tri Nhàn lai phong nguyệt dữ thuỳ vi thu? Thi tứ tuyệt di du nhã ái Tửu tam bôi tiêu sái li hoài Đăng tiền độc đối thư trai, Thương tâm khách địa hữu hoài cổ nhân! Hương thuỷ ngoại hốt văn ngư vận Tùng hà lai trạo tấn giang biên? Bồi hồi nguyệt dạ sương thiên, Hàn sơn cánh nhận khách thuyền cánh phi. Khúc giang thuỷ, hà thì Đại Đỗ? Nhất cô châu hệ cố viên tâm Thời lưu bát thủ thi ngâm Linh nhân lữ tứ chuyển thâm hương tình. Tích ngã vãng thanh thanh liễu nhứ, Lưỡng tam thanh sơ ngữ hoàng oanh Nhi kim cúc dĩ hàm anh Liếu âm đình ngoại hàn minh lưu thiền. Tích ngã khứ phiên phiên đào kiểm, Lưỡng tam chi sơ chiếm đông phong, Nhi kim lan dĩ thành tùng, Đào yêu hiên ngoại lạc tòng hàn sương. Hồ vi hồ thê lương khách xá? Nhật ưu du kỷ cá quan đồng! An năng dạ dạ thư phòng? Ba tiêu khấp lộ, côn trùng minh thu. Hồ vi hồ di do lữ quán? Tuế thoan tuần dĩ bán sương yên! An năng mộ mộ tây hiên? Phong dao đình trúc, nguyệt huyền ốc lương. Bất thị tố hà lang đầu bút Tương trung can vị quốc tùng quân. Thử thân không tự phong trần, Toạ trung hư thị tẩm thần đồ văn! Bất thị tố hà nhân phủng hịch, Tương hiếu tâm ly thích tùng quan Tha hương hà sự bàn hoàn? Bạch vân phi xứ mẫu đan khai thần. Kim nhật tự hải tần viễn cố, Nhật khinh phàm trực độ quy lăng. Hương hồn phất phất như tăng, Trực phàm hốt dĩ phá từng từng ba. Minh nhật tự sơn gia viễn thiếu, Phiến cô vân đái hiểu phù không. Hương tâm niểu niểu như bồng Tuỳ vân hốt dĩ quá trùng trùng san. Hà xứ thị hương quan nhạn tín Du tai nan tả tận tâm tình Dạ văn Diệu Đế chung thanh Hải môn cổ hưởng Ngự thành pháo thôi. Giang khúc khúc trường hồi khúc khúc, Cảnh du du dạ phục du du. Tiêu điều quán lữ đình thu Lân gia thung chữ, giang đầu tạo thanh. Ta khách địa vu oanh tâm sự, Thán khuê nhân tình tự khả liên. Canh thâm đăng diệt án tiền Hàm tình yểm phiến không huyền nguyệt minh. Cô chẩm lý tam canh ngụ mị Phiến u hoài thuỳ thị vi lân? Tình đầu dạ bán vô nhân. Thuỵ lai báo điệp, tỉnh thần minh kê. Hữu thời hoặc hương khưê tịch chiếu Hạ đường lai dục tạo hoa lâu. Hốt kinh yến tráp nê sào Loan tu chiếu kính phượng sầu lại sơ. Hữu thời hoặc chức cơ dạ tĩnh Hô đồng lai, sơ chính đăng minh Hốt văn nhạn độ giang thanh Cơ dung túc đạp, thoan đình thủ phao. Khả lân dạ phần cao đạt đán Dạ trầm trầm bất kiến giai âm Trịch thoan vọng vọng đình âm Sương hàn tất suất thỉnh ngâm thanh sầu. Vọng bất kiến du du ngã độc Cố khuê môn tái phục ngôn hoàn Thính gia kê xướng tây lan Hàm tình ỷ kỷ khiêu tàn cô đăng. Khả lân nhật đăng đình tự tảo Nhật tà tà bất đáo hồi thư Lãm y bộ bộ khang cù Thiền minh dương liễu đái sầu mi khan. Vọng bất kiến phiên phiên ngã độc Cố cầm hiên cưỡng dục vi tình. Hốt chiêm điệp hí lan bình Hàm thê xuyên cược phục hành tây viên. Kim tất vị thu thiên tĩnh hảo, Ngã lương nhân tương đáo qui kỳ Hoàng tri thế lộ nghiêu khê! Quan sơn thiên lý vị kỳ hạt lai! Kim tất vị ngã ly vĩnh cửu Tự Trường An hoặc bão khâm trù. Phong tình quán tự phong lưu Phồn hoa thần hữu hoàng châu đế thành. Cầu phi hữu nhân tình dã giả Hồ nhi xuân nhi hạ nhi thu Do lai tử các hồng lâu Anh hùng bất trú trượng phu nan trì. Như thử giả, thuỳ tri chi giả? Yên ba trung sử ngã tâm sầu! Ngang tàng khởi thiếu niên du Phong lưu cựu thái, giang hồ cố gia. Lữ cảnh mỗi tùng nga lý thống Hương hồn không hướng mộng trung du Giang sơn khách diệc tri hồ Tình trung cánh thiết lộ đồ gian nan. Tuy viết dĩ tảo tần phụ sự, Nội tề gia thượng tự tổ tiên. Giản mao hoàng thuỷ vi kiền, An tri chủ quỹ năng hiền phụ nhân. Khả tri giả thập phần gia ấu, Nhất môn trung cộng bảo vô nguy. Biệt thời chính tại hài nhi Niên lai tưởng dĩ phát thuỳ nha sinh. Khả ái giả kỳ huynh chi tử Niên thập tam, thập tứ trung lai Ngô huynh diệc viết hạnh tai Để kim vị giác thuỳ khai học đường. Khả tư giả đồng song nhị khế Chi lan hương tế tế do văn Mã bôi tự ấp khinh trần Vị thành thử hậu cố nhân diệc từ. Bất tri hậu Bắc kì khởi phỉ Nhị ngô huynh dĩ vị hồi thần Ta tai đồng bệnh tương lân Nhất Tiêu Tương, nhất hướng Tần, nhất phương. Tương hà nhật cánh tương đối ngữ Tự khuê tình hựu tự khách trung Nhi kin thu nguyệt thu phong Thu ngâm thu ẩm tình trung giả thuỳ? Đối ly cảnh lệ thuỳ song nhãn, Cố hương quan lộ hoạn trùng san, Tửu tàn độc ỷ lan can Giác lai nhãn khán dạ hoàn thê lương! Bản dịch ( Tương truyền tác giả tự dịch) Đêm thu lặng, bóng trời thấp thoáng Cách rèm thưa chuốc chén kim lôi “Thiên thời nhân sự tương thôi” Kiếp chiêm bao dễ mấy hồi hân hoan? Người đối cảnh, hoa gian trăng tỏ Cảnh trêu người ngọn gió rung cây Nỗi niềm ai biết chăng ai? Cùng ai trăng gió đêm này với thu? Thơ nhã ái, bốn câu buông vận Rượu ly hoài ba chén làm khuây Trước đèn trong chốn thư trai Chạnh lòng đất khách, nhớ người đời xưa. Ngoài Hương thủy tiếng ngư văng vẳng Thuyền từ đâu chèo thẳng bên giang? Lờ mờ đêm nguyệt trời sương Thuyền ai tưởng khách non Hàn, lại không! Khúc giang thủy nhớ ông Đại Đỗ Buộc con thuyền lòng cũ bơ vơ[1] Hứng thu đề tám bài thơ Xui người đất khách ngẩn ngơ tình làng Xưa ta đi liễu đang xanh thế Chim hoàng anh thỏ thẻ ba câu. Bằng nay cúc đã hoa thâu Liễu kia nghĩ cũng âu sầu vì ve. Xưa ta đi đào khoe tiếu kiểm Ngọn đông phong mới điểm ba hàng Bằng nay lan đã chồi sương Đào non nghĩ cũng võ vàng vì thu Làm chi vậy buồn rầu đất khách? Ngày quán đồng mượn thích làm khuây Có đêm nương bóng hồi tây Tiếng sương khóc lá hơi may gọi trùng Làm chi vậy lạnh lùng quán lữ. Năm, sương yên hết nửa đi rồi Có đêm ngồi nhẫn thư trai Gió lay bên trúc, nguyệt cài trên lương. Nào có phải như chàng ném bút Vì vua mà đồng mác cho cam? Luống đem thân thế cát lầm Thấy, ngồi hổ mắt, nghe, nằm thẹn tai! Nào có phải như ai vâng hịch Vì thân mà xa cách cho xong? Bỗng không cách địa bình bồng. Trông mây lại nhớ, xem bông lại buồn. Ngày nay đứng trông miền bể rộng Một cánh lá buồm thẳng gióng về cồn. Lòng quê đâu đã cuồn cuồn Phút theo buồm vượt mấy ngàn sóng khơi. Ngày mai đứng trông nơi non thẳm, Một làn mây sớm ngắm trên không. Lòng quê đâu đã bồng bồng. Phút theo mây kéo mấy trùng non xa Trông tin nhạn biết là đâu tá? Tâm tình này ai tả cho nên? Đêm, chùa Diệu Đế chuông rền Trống vang cửa biển, súng rên thành vàng Sông quằn quại ruột càng quằn quại. Cảnh đìu hiu đêm lại đìu hiu. Lữ du ai chẳng tiêu điều? Tiếng chày trong xóm, tiếng chèo ngoài sông!... Thân đất khách não nùng tâm sự, Thương người quê tình tự bây giờ. Đêm khuya cơn tỏ cơn mờ, Gẫm tình che quạt luống chờ bóng trăng. Năm canh những mơ màng trên gối, Mảnh tình riêng biết nói cùng ai? Thương thay đêm vắng không người, Ngủ thời bướm báo, dậy thời gà kêu. Hoặc có lúc bóng chiều trong khổn, Bước xuống thềm, lại muốn lên lầu . Phút nghe con én kêu sầu, Lược rầu tóc chải, gương rầu mặt soi. Hoặc có lúc đưa thoi đêm tối, Gọi con tì vừa tới điểm đăng. Phút nghe tiếng nhạn khơi chừng, Máy lơi chân đạp, thoi ngừng tay đưa. Thương thay có đêm chờ nửa gối, Đêm gần qua, chẳng thấy thư về. Gác thoi ra đứng bên hè, Tai nghe tiếng dế rè rè khóc sương. Trông chẳng thấy, chán chường than thở, Đoái phòng khuê muốn trở gót giầy. Gà ai eo óc hồi tây? Gẫm tình dựa gối liền tay khêu đèn. Thương thay có ngày nhìn sáu khắc Ngày gần tàn chẳng gặp thư sang, Xuống thềm, ra đứng bên đàng Mày sầu lá liễu hàng hàng khóc ve. Trông chẳng thấy, lại về đứng đợi, Đoái cầm hiên toan gợi ngón đàn. Bướm đâu trêu cợt bình lan? Buồn tình mang dép ra vườn hái hoa. Rày hẳn bảo: "Trời đà mát mẻ, Lương nhân ta có lẽ gần về..." Biết đâu đường thế nghiêu khê Dặm ngàn hồ dễ đi về cho năng? Rày hẳn nói mình chừng lâu ở, Ôm chăn mền hoặc đã có người? Phong lưu tính đã quen rồi, Phồn hoa lịch sự lại mùi Tràng An! Nếu chẳng thế, bàn hoàn chi mãi, Hết xuân rồi, hạ lại sang thu? Lầu hồng cung cấm ấy ru? Anh hùng lại với trượng phu ai từ? Như thế ấy, bây giờ, ai biết? Trông yên ba khôn xiết dạ sầu. Há còn trai trẻ chi đâu, Phong lưu thói cũ, giang hồ lối xưa. Cảnh du lữ câu thơ thổn thức, Bóng hương quan trước mắt mơ màng Non sông khách có biết chăng? Vẫn tình thì nhớ nhưng đường thì khơi. Tuy rằng nói đã người tần tảo, Trên tôn đường, trong đạo tề gia. Rau khe nước suối cũng là, Mình xa chẳng biết ở nhà làm sao? Duy biết trẻ đứa nào đứa nấy, Trong gia đình đều thấy yên vui. Lúc đi trẻ mới hay cười, Tóc răng nay đã ra người lớn khôn. Vài thằng cháu trời thương cũng khá, Tuổi năm nay chừng đã trưởng thành. Phúc nhà mừng trộm cho anh, Năm nay biết đã học hành cùng ai? Bạn đèn sách một hai tri thức, Mùi lan chi sực nức một nhà. Từ phen cất chén quan hà, Vị thành lúc ấy rồi mà Dương Quan. Sau chẳng biết ngoài miền Bắc động, Hai anh ta có chóng hồi hương? Than ôi đồng bệnh cùng thương, Một Tần, lại một Tiêu Tương một trời. Đến bao giờ cùng ngồi kể chuyện, Kể hương tình cho đến khách trung. Mà nay nào nguyệt, nào phong, Nào thi, nào tửu biết cùng ai hay. Sầu li biệt tuôn đầy hai mắt, Bóng hương quan xa khuất dặm ngàn. Rượu rồi ngồi dựa lan can Chiêm bao tỉnh giấc đêm tàn về thu... ( Theo Hán văn tinh tuý-NXB TP Hồ Chí Minh-1992) [1] Đỗ Phủ- nhà thơ nổi tiếng đời Đường. Một buổi chiều trên sông Khúc, làm tám bài Thu hứng, trong đó có câu: Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ/ Cô châu nhất hệ cố viên tâm ( Tùng cúc vài phen tuôn lệ cũ / Con thuyền buộc chặt mối tình nhà). Đinh Nhật Thận đã mượn câu thơ trên của Đỗ Phủ <bài viết được chỉnh sửa lúc 25.07.2010 18:40:00 bởi phantien > #1
phantien 25.07.2010 18:41:32 (permalink) Tôn Gia Các Giáo sư Tôn Gia Các, dạy học tại Hà Nội, quê Võ Liệt, người luôn một tâm hồn bình thản, vui vẻ, lạc quan. Nghe nói, từ 60 tuổi, mỗi năm ông làm một bài thơ Di chúc. Đến năm 66 tuổi thì ông mất. Trộm vía ông, chúng tôi xin đăng bài thơ truyền khẩu này. DI CHÚC 2 ( Thơ vui) Chắc rằng cha sắp “quy tiên” Bởi cha đến tuổi “tri thiên mệnh” rồi Mặc dầu sức khỏe còn dồi Nhưng mà sống chết, số trời biết đâu Nay cha dặn lại mấy câu Khi cha chết, cứ như sau mà làm: Thấy cha thẳng cẳng, chỉ nằm Để bông vào mũi, không còn bay bay Mấy thằng phải phóng đi ngay Báo cô Thu biết cha mày hết hơi Một thằng phi xuống chợ Giời Mua cha cỗ ván, rộng dài bằng cha Mua xong chở thẳng về nhà Thằng đầu, thằng cẳng, khênh cha bỏ vào Các con đừng khóc, đừng gào Cha chết là phải, sống nào ích chi Cỗ bàn bày biện làm gì Chúng mày không đói, cha thì nghỉ ăn Cũng đừng mũ, mấn, áo khăn Mỗi thằng một mẩu khăn tang được rồi Đừng nên bắt chước mọi người Khịa ra trướng đối, lôi thôi phiền hà Mai táng phí, lĩnh cho cha Làm sao tính toán tiêu pha cho vừa Cũng nên lưu ý phòng ngừa Nếu bệnh truyền nhiễm thì đưa đi liền Mẹ mày cùng với o Tiên Tuổi già lắm bệnh chớ nên khóc nhiều Ông mày chắc sống còn lâu Phải giữ sức khỏe mới hầu được ông Cha chết đi, rất yên lòng Ngậm cười chín suối, cha không hận gì Từ nay thôi hết thị phi Đổi mới, bảo thủ, kiểu gì cũng xong Văn chương chôn chặt ngoài đồng Tung hê, hồ thỉ, tang bồng mặc ai Nhưng mà có lẽ con ơi Phải xin bác Mạnh một bài điếu văn Khi truy điệu đọc một lần Đến khi hạ huyệt, nếu cần đọc thêm Nghe người, con hiểu cha hơn Rằng cha cũng chẳng “tầm thường” lắm đâu Người ta sẽ nói có câu Rằng “cha cống hiến rất lâu, rất nhiều” Rằng “cha đáng kính yêu” “Cha chết- tổn thất không sao đền bù” Nghe văn con chớ gật gù Văn cho người chết bao giờ cũng hay! Các con ơi! Thôi từ nay Âm dương cách biệt, chúng mày thiếu cha Chúng mày sẽ mở mắt ra “Trăm năm trong cõi người ta” nhọc nhằn Dễ gì kiếm được miếng ăn Cha còn sống, nói bao lần chẳng nghe Phận cha sống gửi, thác về Thiên đường, địa ngục âm ty mặc dầu! Đời cha chẳng thiết sống lâu Các con ơi! đấy là câu cuối cùng! #2
phantien 25.07.2010 18:43:02 (permalink) Trần Nghệ GIÁ MỘT MÉT VUÔNG ĐẤT TRÊN TỔ QUỐC MÌNH Kính dâng hương hồn đồng đội Thời nay! Những kẻ hốt được "tiền chùa" Những cái đầu hãnh tiến Giương giương tự đắc Vênh váo! Trước mặt mọi người Gặp nhau: ồn ào bàn tán... Một m2 đất: Mấy cây? Mấy chỉ? Tôi tính mét vuông đất bằng máu- người- chiến- sỹ Đồng đội tắt thở trên tay giữa Sài Gòn Trước rạng đông thành phố Mỗi m2 đất thấm tràn Máu đỏ! Tháng tư này biết bao em nhỏ Thắm đỏ khăn quàng trong gió mai Đạp mi-ni trên những phố dài Anh nói cùng em- lời thương mến nhất... Giá mỗi m2 đất. Tổ quốc mình đây Lớn lên, em - Chớ tính: Bằng cây bằng chỉ Quý vô giá: Máu triệu người-chiến-sỹ Không thể mua: máu đồng chí, đồng bào. ( Rút từ: Mùa vải chín-NXB Nghệ An- 2010) Nhà giáo (đã nghỉ hưu), quê Thanh Hưng #3
phantien 25.07.2010 18:44:22 (permalink) Nguyễn Lâm Cẩn* MƠ HẦU RƯỢU CỤ TẢN ĐÀ Rượu ư ? Mấy chén cỏn con Không người đối ẩm Rượu ngon bằng thừa. Xin hầu cụ uống say sưa Trời cao Nắng! Phận thấp Mưa! Xá đời! Uống cho cô độc thành đôi Đau thì dốc cạn Buồn trôi vào lòng! Thơ ư ? Xin cụ mấy dòng Đem rao ngoài chợ thêm đồng rượu khê Cái ngông ư cụ? Đem về Ủ men tôi cất vào be giải sầu Cái tình mau ngấm, say lâu Chát! Tom! Tom! Chát! Cô đầu cụ ơi! Chùa Hương rau sắng già rồi Giang hồ quảy gánh. Về thôi! Cạn ngày. Xin hầu cụ uống cho say Nay tôi Xưa cụ Đắng cay dồn vào. ( Rút từ Đêm trắng-NXB VHDT) #4
phantien 25.07.2010 18:45:48 (permalink) Trịnh Phương Hà* HOÀI NIÊM ĐỒNG LÀNG Ta vẫn quen ngửi mùi rơm rạ Khói đốt đồng vẫn ngan ngát đâu đây Những ruộng đã xoay mùa chuyển vụ Thì còn đâu bát ngát cánh đồng xưa. Trách chi nữa... đầu ta sương trắng phủ Trở về làng phố đã kẻ thành ô Ta đã đi như trốn làng quê cũ Giờ về mơ gốc sung cũ ao nhà. Em đâu nữa... đuôi sam bờ ruộng vắng Cỏ may khâu sao kịp váy ngang đùi Làng với em đây...đâu mùa thu cũ Rạ rơm kia hết chỗ cháy rồi ư? Không cưỡng nổi đồng làng đành chấp nhận Những ngôi nhà ngạo nghễ mọc trên lưng Nhưng mùa thu ơi! Khói đốt đồng vẫn toả Trong hồn người xưa cũ của quê hương. ( Rút từ Một mình với mùa thu-NXB Nghệ An-2007) * Quê Thanh Ngọc, công tác tại Hà Nội(tác giả đã mất) #5
phantien 25.07.2010 18:48:20 (permalink) Lê Huy Mậu* KHÚC HÁT SÔNG QUÊ Ngỡ như người đã hát thay tôi Ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát Tuổi thơ ơi! Quá nửa đời phiêu dạt Ta lại về Úp mặt vào sông quê Như thuở nhỏ Úp mặt vào lòng mẹ Để tìm sự chở che Xin bắt đầu từ hạt phù sa Ta cúi nhặt tình cờ bên sông tháng chạp Ôi! phù sa Những cá thể tự do trong hành trình của đất Đêm nao chớp bể mưa nguồn Trong cơn thác lũ Trong sóng đỏ Đất đi Kiến tạo Sinh thành… Em ơi! Quả ớt cay bổi hổi Trên bãi sông Thuở chưa dấu chân người Anh nghe nói có một thời Tất cả còn hoang dại Tổ tiên ta chỉ hái lượm mà thôi Lại nghe nói Thuở ta chưa biết ăn gì cả Ta cùng cây cỏ sinh đôi Rồi cây cỏ ăn ta Rồi ta ăn cây cỏ Cũng là khi đắng cay ngọt bùi Ta và đất kết giao Lấy dòng sông làm thời thế non nước Chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất Mà đất lở sông ơi! Nơi ta chăn trâu, thả diều ngày cũ đã đâu rồi Hạt đất quê ta Giờ đã bồi về đâu chẳng biết Có làng xóm nào sinh Từ hạt đất bờ sông quê ta lở Như cuộc đời ta khuyết hao Để đắp bồi rồi rờ rỡ Những sớm má hồng ríu rít cháu con ta Này dòng sông Ai đã đặt tên cho sông là sông Cả Thế và Ai đã gọi sông Cả là sông Lam Ta đơn giản chỉ gọi là con sông Quê hương Tháng ba Phù sa sóng đỏ Cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng Tháng năm Ta lặn bắt cá ngạnh nguồn Tháng chín Cá lòng bong Ta thả câu bằng mồi con giun vạc Tháng chạp Ta nếm vị heo may Trên má em hồng… Để rồi ta đi khắp núi sông Ta lại gặp Tháng ba, tháng năm… tháng chạp Trong vị cá sông Trên má ai hồng Này dòng sông Ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ Phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta Sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế Mẹ thuê ta một xu bánh đa vừng Ta ngoan hết một ngày Ta ngoan suốt cả năm Ta thương mẹ đến trọn đời ta sống Quê hương ta nghèo lắm Ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn Ta mổ lợn Con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt Cá dưới sông cũng có tết như người Trên bãi sông Ta trồng cây cải tươi Ta ăn lá Bướm ong thì hút mật Lúa gặt rồi- còn rạ, còn rơm Trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh Cùng một bến sông Phía dưới trâu đằm Phía trên ta tắm Trong kí ức ta Sao ngày xưa yên ổn quá chừng! Một dòng xanh trong chảy mãi tới vô cùng… * Quê Thanh Tiên, công tác ở Ban Tuyên giáo Bà Rịa- Vũng Tàu #6
phantien 25.07.2010 18:49:52 (permalink) Lê Văn Bằng* Hát với sông Giăng Trên bản đồ Tổ quốc Sông Giăng không có tên Với tình người xứ sở Sông Giăng không thể quên. Nguồn cao từ Trường Sơn Qua Con Cuông góp nước Cửa Vều rồi Lộp ốp Xuôi Hàn qua Đá Gân. Hợp với nước Rào Con Sông Giăng làm Thác Muối Một cái tên chờ đợi Náo nức người Hạnh Lâm Về Chợ Chùa rất gần Sông biết dòng sắp trọn Trong xanh và chầm chậm Ôm Phong Hoa vào lòng! Tổ quốc biết sông Hồng Kể từ thời dựng nước Ôi sông Giăng thân thiết Ta biết tự khi nào? Lán trại người dựng đầu Chợ Giăng chợ Chùa đó? Cao một hòn Rú Ná Gợi cái thuở hồng hoang. * Nhà giáo, quê Phong Thịnh ( Rút từ Hát về sông Giăng- NXB Nghệ An) #7
phantien 25.07.2010 18:51:50 (permalink) Nguyễn Bùi Vợi* TIẾNG NGHỆ Cái gầu thì bảo cái đài Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi Chộ tức là thấy mình ơi Trụng là nhúng đấy đừng cười nghe em Thích chi thì bảo là sèm Nghe ai bảo đọi thì mang bát vào Cá quả lại gọi cá tràu Vo troốc là bảo gội đầu đấy em... Nghe em giọng Bắc êm êm Bà con hàng xóm đến xem chật nhà Răng chưa sang nhởi nhà choa Bà o đã nhốt con ga trong truồng Em cười bối rối mà thương Thương em một lại trăm đường thương quê Gió Lào thổi rạc bờ tre Chỉ nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn Chắt từ đã sỏi đất cằn Nên yêu thương mới sâu đằm đó em. * Quê Cát Văn, nhà thơ đã quá cố. #8
Chuyển nhanh đến: Chuyển nhanh đến - - - - - - - - - - [THÔNG BÁO] - - - - Thông Báo - - - - Hướng Dẫn Sử Dụng Diễn Đàn - - - - Thông báo lỗi của Diễn đàn - - - - - - - - Phòng đăng bài thử - - - - Thắc Mắc - Ý Kiến - - - - - - - - Diễn đàn guest [THƯ VIỆN VNTHUQUAN] - - - - Dịch Sách truyện cho Thư viện Online - - - - Bạn đọc yêu cầu - - - - Audio Truyện - Thơ - - - - - - - - Audio Truyện Ngắn - - - - - - - - Audio Truyện Dài - - - - - - - - Audio Thơ [VĂN HỌC] - - - - Văn - - - - - - - - Sách truyện tự sáng tác - - - - - - - - - - - - Tùy Bút - Tản Văn - - - - - - - - Sách truyện sưu tầm - - - - - - - - Truyện Tranh - - - - Thơ - - - - - - - - Thơ Sáng Tác - - - - - - - - - - - - Thơ Đường - - - - - - - - Thơ Sưu Tầm - - - - - - - - Thơ vui - - - - - - - - Ca Dao Tục Ngữ - - - - - - - - Đồng Dao - Vè - - - - - - - - Danh Ngôn - - - - - - - - Thơ dịch - - - - Tác giả - Tác phẩm Phòng Việt Văn - - - - - - - - Tác giả người Việt - - - - - - - - Tác giả người ngoại quốc - - - - Tác giả - Tác phẩm - Phòng Ngoại văn - - - - - - - - Tiếng Anh - - - - - - - - - - - - Truyện Tiếng Anh - - - - - - - - Tiếng Đức - - - - - - - - Tiếng Pháp - - - - - - - - Tiếng Hoa - - - - - - - - Tiếng Nga [NGHỆ THUẬT] - - - - ÂM NHẠC - - - - - - - - Nhạc sáng tác - - - - - - - - Nhạc tự trình diễn - - - - - - - - Nhạc phổ từ thơ Thành viên VNTQ - - - - - - - - Cổ Nhạc - - - - - - - - Lời bài hát - - - - - - - - Public Links - - - - - - - - Tin Tức Âm Nhạc - New Release - - - - - - - - Old Threads - - - - - - - - Cà Phê Thư Quán - - - - Hội Họa - - - - - - - - Tranh Sáng Tác - - - - - - - - Tranh Sưu Tầm - - - - Nhiếp Ảnh - - - - - - - - Ảnh Sáng Tác - - - - - - - - Ảnh Sưu Tầm - - - - - - - - Ảnh Lưu Niệm - - - - - - - - Kỹ Thuật Chụp Ảnh và Xử Lý Hậu Kỳ - - - - - - - - Máy Ảnh và Phụ Kiện - - - - - - - - Ảnh Khỏa Thân Nghệ Thuật - - - - Thủ Công Mỹ Nghệ + Điêu Khắc - - - - Sân Khấu - Điện Ảnh - - - - - - - - Sau Bức Màn Nhung - - - - - - - - Điểm Phim - Chuyện Màn Ảnh - - - - Thời Trang - Thẩm Mỹ - - - - - - - - Thời Trang Thiết Kế - - - - - - - - Y Phục May Sẵn - - - - - - - - Trang Sức - - - - - - - - Trang Điểm [ĐỜI SỐNG - XÃ HỘI] - - - - Gia Chánh Ngày Nay - - - - - - - - Hương Vị Việt Nam - - - - - - - - Mẹo Vặt - - - - Y khoa Thường Thức - - - - - - - - Sách - Tài Liệu Đông Y - - - - - - - - Sách - Tài Liệu Tây Y - - - - Du Lịch - - - - - - - - Phong Tục Tập Quán - - - - Khoa Học Huyền Bí - - - - Khoa Học Phổ Thông - - - - Kết Nối Những Tấm Lòng [GIAO LƯU - GIẢI TRÍ] - - - - Kết Bạn Bốn Phương - - - - - - - - Nhắn Tin - - - - - - - - Kim bằng hội ngộ - - - - - - - - Đôi Dòng Lưu Niệm - - - - Gỡ Rối Tơ Lòng - - - - - - - - Tâm Sự Bạn Gái - - - - - - - - Tâm Sự Bạn Trai - - - - - - - - Những Lá Thư Tình - - - - - - - - Chuyện Gia Đình - - - - - - - - Nhật Ký online - - - - - - - - Kinh nghiệm sống - - - - Lượm Lặt Đó Đây - - - - Trắc Nghiệm - - - - Hỷ Lạc quán - - - - - - - - Đố Vui - - - - - - - - Chuyện Cười - - - - - - - - Tranh Vui - - - - - - - - Phòng Tán Dóc - - - - Thể Thao - - - - Thú Tiêu Khiển - - - - Chúc Mừng - Cảm Tạ - - - - Phân Ưu [TIN HỌC] - - - - Hỏi Ðáp Tin Học - - - - Hướng Dẫn Lập trình - - - - Nhu Liệu - - - - Đồ Hoạ Vi Tính - - - - - - - - Photoshop - Hướng Dẫn - - - - - - - - Chương Trình Hổ Trợ Cho Phothoshop [CÁC CHUYÊN MỤC KHÁC] - - - - Phòng Lưu Trữ - - - - Quảng Cáo - Rao Vặt
Menu - Bài Viết Hôm Nay
- Chủ Đề Nổi Bật
- All Polls
- All FAQs
- Threads without reply
RSS Feed
Chọn Lựa
Xem trang để In
Chuyển xem chế độ Thread
THU DẠ LỮ HOÀI NGÂM -ĐINH NHẬT THẬN phantien 25.07.2010 18:37:16 (permalink) THU DẠ LỮ HOÀI NGÂM ( Khúc ngâm đêm thu của người lữ thứ) -------------------- Đinh Nhật Thận Đinh Nhật Thận, tự Tử Quý, hiệu Bạch Mao Am, sinh năm Ất Hợi 1815, mất năm 1886, người làng Thanh Liêu, nay là xã Thanh Tiên, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ôngđỗ đầu hàng tam giáp đồng tiến sĩ khoa thi Hội năm Mậu Tuất (1838) niên hiệu Minh Mệnh thứ 19, được triều đinh bổ làm tri phủ, tuy nhiên, sau một thời gian thì ông bị cách chức không rõ nguyên nhân. Năm 1843 được phục chức nhưng ông cáo bệnh không nhận. Tính tình ông phóng khoáng, thích làm thuốc, làm thơ giao du đây đó, lấy việc kết thân bạn hữu gần xa làm trọng. Ông là bạn chí thân của Cao Bá Quát (Bắc Ninh) và Nguyễn Hàm Ninh (Quảng Bình). Sau cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương của Cao Bá Quát, ông bị liên luỵ, triều đình bắt giữ và kiềm chế gắt gao. Biết ông là người học rộng tài cao nên Tự Đức quyết giữ ông lại trong cung, trước là để kiềm tỏa, sau là nhờ ông dạy cho các hoàng tôn. Sống cảnh gò bó, chán chường, lúc nào ông cũng mang nặng nỗi lòng nhớ cố hương. Vào một đêm thu thanh vắng, độc ẩm, tức cảnh sinh tình, ông viết một mạch “Thu dạ lữ hoài ngâm ”. Khúc ngâm dồn nén tất cả những tâm tư tình cảm với gia đình, với quê hương xứ sở. Tác phẩm được truyền tụng đến tai vua. Vì mến phục tài đức của một nhân cách cao thượng, vua Tự Đức đã hạ chỉ tha cho ông. Thu dạ lữ hoài ngâm được sáng tác là tác phẩm có ý nghĩa quan trọng làm nên tên tuổi Đinh Nhật Thận trong lịch sử văn học Việt Nam. Tác phẩm có 136 câu chữ Hán. Bản chúng tôi in ở đây, tương truyền do tác giả tự dịch. Thu dạ lữ hoài ngâm là tình thương nhớ quê hương, gia đình của một người bị bắt giam vô cớ, mặc dù ở giữa kinh đô nhưng lòng luôn luôn trống trải, lãnh lẽo và xa lạ. Thu dạ lữ hoài ngâm còn là khúc ngâm đặc biệt độc đáo vì tính chất thể loại của nó. Tác phẩm chữ Hán nhưng lại được viết bằng thể song thất lục bát- một thể thơ hết sức thuần Việt và có ưu thế trong việc giãi bày tâm trạng. Chọn in Thu dạ lữ hoài ngâm vào " Thanh Chương, Xưa và Nay", chúng tôi mong muốn bạn đọc được tiếp xúc trọn vẹn với một tác phẩm của một nhà thơ tài hoa của quê hương mà cuộc đời và sáng tác của ông đã đi vào công chúng như những huyền thoại. BBT (Bản phiên âm chữ Hán) Thu dạ tĩnh thiên quang ẩn ước Cách sở liêm đạm chước kim lôi Thiên thời nhân sự tương thôi Phù sinh nhược mộng kỷ hồi vi hoan? Nhân đối cảnh hoa gian nguyệt chiếu Cảnh liêu nhân, thọ diếu phong xuy Giá ban liệu thiểu nhân tri Nhàn lai phong nguyệt dữ thuỳ vi thu? Thi tứ tuyệt di du nhã ái Tửu tam bôi tiêu sái li hoài Đăng tiền độc đối thư trai, Thương tâm khách địa hữu hoài cổ nhân! Hương thuỷ ngoại hốt văn ngư vận Tùng hà lai trạo tấn giang biên? Bồi hồi nguyệt dạ sương thiên, Hàn sơn cánh nhận khách thuyền cánh phi. Khúc giang thuỷ, hà thì Đại Đỗ? Nhất cô châu hệ cố viên tâm Thời lưu bát thủ thi ngâm Linh nhân lữ tứ chuyển thâm hương tình. Tích ngã vãng thanh thanh liễu nhứ, Lưỡng tam thanh sơ ngữ hoàng oanh Nhi kim cúc dĩ hàm anh Liếu âm đình ngoại hàn minh lưu thiền. Tích ngã khứ phiên phiên đào kiểm, Lưỡng tam chi sơ chiếm đông phong, Nhi kim lan dĩ thành tùng, Đào yêu hiên ngoại lạc tòng hàn sương. Hồ vi hồ thê lương khách xá? Nhật ưu du kỷ cá quan đồng! An năng dạ dạ thư phòng? Ba tiêu khấp lộ, côn trùng minh thu. Hồ vi hồ di do lữ quán? Tuế thoan tuần dĩ bán sương yên! An năng mộ mộ tây hiên? Phong dao đình trúc, nguyệt huyền ốc lương. Bất thị tố hà lang đầu bút Tương trung can vị quốc tùng quân. Thử thân không tự phong trần, Toạ trung hư thị tẩm thần đồ văn! Bất thị tố hà nhân phủng hịch, Tương hiếu tâm ly thích tùng quan Tha hương hà sự bàn hoàn? Bạch vân phi xứ mẫu đan khai thần. Kim nhật tự hải tần viễn cố, Nhật khinh phàm trực độ quy lăng. Hương hồn phất phất như tăng, Trực phàm hốt dĩ phá từng từng ba. Minh nhật tự sơn gia viễn thiếu, Phiến cô vân đái hiểu phù không. Hương tâm niểu niểu như bồng Tuỳ vân hốt dĩ quá trùng trùng san. Hà xứ thị hương quan nhạn tín Du tai nan tả tận tâm tình Dạ văn Diệu Đế chung thanh Hải môn cổ hưởng Ngự thành pháo thôi. Giang khúc khúc trường hồi khúc khúc, Cảnh du du dạ phục du du. Tiêu điều quán lữ đình thu Lân gia thung chữ, giang đầu tạo thanh. Ta khách địa vu oanh tâm sự, Thán khuê nhân tình tự khả liên. Canh thâm đăng diệt án tiền Hàm tình yểm phiến không huyền nguyệt minh. Cô chẩm lý tam canh ngụ mị Phiến u hoài thuỳ thị vi lân? Tình đầu dạ bán vô nhân. Thuỵ lai báo điệp, tỉnh thần minh kê. Hữu thời hoặc hương khưê tịch chiếu Hạ đường lai dục tạo hoa lâu. Hốt kinh yến tráp nê sào Loan tu chiếu kính phượng sầu lại sơ. Hữu thời hoặc chức cơ dạ tĩnh Hô đồng lai, sơ chính đăng minh Hốt văn nhạn độ giang thanh Cơ dung túc đạp, thoan đình thủ phao. Khả lân dạ phần cao đạt đán Dạ trầm trầm bất kiến giai âm Trịch thoan vọng vọng đình âm Sương hàn tất suất thỉnh ngâm thanh sầu. Vọng bất kiến du du ngã độc Cố khuê môn tái phục ngôn hoàn Thính gia kê xướng tây lan Hàm tình ỷ kỷ khiêu tàn cô đăng. Khả lân nhật đăng đình tự tảo Nhật tà tà bất đáo hồi thư Lãm y bộ bộ khang cù Thiền minh dương liễu đái sầu mi khan. Vọng bất kiến phiên phiên ngã độc Cố cầm hiên cưỡng dục vi tình. Hốt chiêm điệp hí lan bình Hàm thê xuyên cược phục hành tây viên. Kim tất vị thu thiên tĩnh hảo, Ngã lương nhân tương đáo qui kỳ Hoàng tri thế lộ nghiêu khê! Quan sơn thiên lý vị kỳ hạt lai! Kim tất vị ngã ly vĩnh cửu Tự Trường An hoặc bão khâm trù. Phong tình quán tự phong lưu Phồn hoa thần hữu hoàng châu đế thành. Cầu phi hữu nhân tình dã giả Hồ nhi xuân nhi hạ nhi thu Do lai tử các hồng lâu Anh hùng bất trú trượng phu nan trì. Như thử giả, thuỳ tri chi giả? Yên ba trung sử ngã tâm sầu! Ngang tàng khởi thiếu niên du Phong lưu cựu thái, giang hồ cố gia. Lữ cảnh mỗi tùng nga lý thống Hương hồn không hướng mộng trung du Giang sơn khách diệc tri hồ Tình trung cánh thiết lộ đồ gian nan. Tuy viết dĩ tảo tần phụ sự, Nội tề gia thượng tự tổ tiên. Giản mao hoàng thuỷ vi kiền, An tri chủ quỹ năng hiền phụ nhân. Khả tri giả thập phần gia ấu, Nhất môn trung cộng bảo vô nguy. Biệt thời chính tại hài nhi Niên lai tưởng dĩ phát thuỳ nha sinh. Khả ái giả kỳ huynh chi tử Niên thập tam, thập tứ trung lai Ngô huynh diệc viết hạnh tai Để kim vị giác thuỳ khai học đường. Khả tư giả đồng song nhị khế Chi lan hương tế tế do văn Mã bôi tự ấp khinh trần Vị thành thử hậu cố nhân diệc từ. Bất tri hậu Bắc kì khởi phỉ Nhị ngô huynh dĩ vị hồi thần Ta tai đồng bệnh tương lân Nhất Tiêu Tương, nhất hướng Tần, nhất phương. Tương hà nhật cánh tương đối ngữ Tự khuê tình hựu tự khách trung Nhi kin thu nguyệt thu phong Thu ngâm thu ẩm tình trung giả thuỳ? Đối ly cảnh lệ thuỳ song nhãn, Cố hương quan lộ hoạn trùng san, Tửu tàn độc ỷ lan can Giác lai nhãn khán dạ hoàn thê lương! Bản dịch ( Tương truyền tác giả tự dịch) Đêm thu lặng, bóng trời thấp thoáng Cách rèm thưa chuốc chén kim lôi “Thiên thời nhân sự tương thôi” Kiếp chiêm bao dễ mấy hồi hân hoan? Người đối cảnh, hoa gian trăng tỏ Cảnh trêu người ngọn gió rung cây Nỗi niềm ai biết chăng ai? Cùng ai trăng gió đêm này với thu? Thơ nhã ái, bốn câu buông vận Rượu ly hoài ba chén làm khuây Trước đèn trong chốn thư trai Chạnh lòng đất khách, nhớ người đời xưa. Ngoài Hương thủy tiếng ngư văng vẳng Thuyền từ đâu chèo thẳng bên giang? Lờ mờ đêm nguyệt trời sương Thuyền ai tưởng khách non Hàn, lại không! Khúc giang thủy nhớ ông Đại Đỗ Buộc con thuyền lòng cũ bơ vơ[1] Hứng thu đề tám bài thơ Xui người đất khách ngẩn ngơ tình làng Xưa ta đi liễu đang xanh thế Chim hoàng anh thỏ thẻ ba câu. Bằng nay cúc đã hoa thâu Liễu kia nghĩ cũng âu sầu vì ve. Xưa ta đi đào khoe tiếu kiểm Ngọn đông phong mới điểm ba hàng Bằng nay lan đã chồi sương Đào non nghĩ cũng võ vàng vì thu Làm chi vậy buồn rầu đất khách? Ngày quán đồng mượn thích làm khuây Có đêm nương bóng hồi tây Tiếng sương khóc lá hơi may gọi trùng Làm chi vậy lạnh lùng quán lữ. Năm, sương yên hết nửa đi rồi Có đêm ngồi nhẫn thư trai Gió lay bên trúc, nguyệt cài trên lương. Nào có phải như chàng ném bút Vì vua mà đồng mác cho cam? Luống đem thân thế cát lầm Thấy, ngồi hổ mắt, nghe, nằm thẹn tai! Nào có phải như ai vâng hịch Vì thân mà xa cách cho xong? Bỗng không cách địa bình bồng. Trông mây lại nhớ, xem bông lại buồn. Ngày nay đứng trông miền bể rộng Một cánh lá buồm thẳng gióng về cồn. Lòng quê đâu đã cuồn cuồn Phút theo buồm vượt mấy ngàn sóng khơi. Ngày mai đứng trông nơi non thẳm, Một làn mây sớm ngắm trên không. Lòng quê đâu đã bồng bồng. Phút theo mây kéo mấy trùng non xa Trông tin nhạn biết là đâu tá? Tâm tình này ai tả cho nên? Đêm, chùa Diệu Đế chuông rền Trống vang cửa biển, súng rên thành vàng Sông quằn quại ruột càng quằn quại. Cảnh đìu hiu đêm lại đìu hiu. Lữ du ai chẳng tiêu điều? Tiếng chày trong xóm, tiếng chèo ngoài sông!... Thân đất khách não nùng tâm sự, Thương người quê tình tự bây giờ. Đêm khuya cơn tỏ cơn mờ, Gẫm tình che quạt luống chờ bóng trăng. Năm canh những mơ màng trên gối, Mảnh tình riêng biết nói cùng ai? Thương thay đêm vắng không người, Ngủ thời bướm báo, dậy thời gà kêu. Hoặc có lúc bóng chiều trong khổn, Bước xuống thềm, lại muốn lên lầu . Phút nghe con én kêu sầu, Lược rầu tóc chải, gương rầu mặt soi. Hoặc có lúc đưa thoi đêm tối, Gọi con tì vừa tới điểm đăng. Phút nghe tiếng nhạn khơi chừng, Máy lơi chân đạp, thoi ngừng tay đưa. Thương thay có đêm chờ nửa gối, Đêm gần qua, chẳng thấy thư về. Gác thoi ra đứng bên hè, Tai nghe tiếng dế rè rè khóc sương. Trông chẳng thấy, chán chường than thở, Đoái phòng khuê muốn trở gót giầy. Gà ai eo óc hồi tây? Gẫm tình dựa gối liền tay khêu đèn. Thương thay có ngày nhìn sáu khắc Ngày gần tàn chẳng gặp thư sang, Xuống thềm, ra đứng bên đàng Mày sầu lá liễu hàng hàng khóc ve. Trông chẳng thấy, lại về đứng đợi, Đoái cầm hiên toan gợi ngón đàn. Bướm đâu trêu cợt bình lan? Buồn tình mang dép ra vườn hái hoa. Rày hẳn bảo: "Trời đà mát mẻ, Lương nhân ta có lẽ gần về..." Biết đâu đường thế nghiêu khê Dặm ngàn hồ dễ đi về cho năng? Rày hẳn nói mình chừng lâu ở, Ôm chăn mền hoặc đã có người? Phong lưu tính đã quen rồi, Phồn hoa lịch sự lại mùi Tràng An! Nếu chẳng thế, bàn hoàn chi mãi, Hết xuân rồi, hạ lại sang thu? Lầu hồng cung cấm ấy ru? Anh hùng lại với trượng phu ai từ? Như thế ấy, bây giờ, ai biết? Trông yên ba khôn xiết dạ sầu. Há còn trai trẻ chi đâu, Phong lưu thói cũ, giang hồ lối xưa. Cảnh du lữ câu thơ thổn thức, Bóng hương quan trước mắt mơ màng Non sông khách có biết chăng? Vẫn tình thì nhớ nhưng đường thì khơi. Tuy rằng nói đã người tần tảo, Trên tôn đường, trong đạo tề gia. Rau khe nước suối cũng là, Mình xa chẳng biết ở nhà làm sao? Duy biết trẻ đứa nào đứa nấy, Trong gia đình đều thấy yên vui. Lúc đi trẻ mới hay cười, Tóc răng nay đã ra người lớn khôn. Vài thằng cháu trời thương cũng khá, Tuổi năm nay chừng đã trưởng thành. Phúc nhà mừng trộm cho anh, Năm nay biết đã học hành cùng ai? Bạn đèn sách một hai tri thức, Mùi lan chi sực nức một nhà. Từ phen cất chén quan hà, Vị thành lúc ấy rồi mà Dương Quan. Sau chẳng biết ngoài miền Bắc động, Hai anh ta có chóng hồi hương? Than ôi đồng bệnh cùng thương, Một Tần, lại một Tiêu Tương một trời. Đến bao giờ cùng ngồi kể chuyện, Kể hương tình cho đến khách trung. Mà nay nào nguyệt, nào phong, Nào thi, nào tửu biết cùng ai hay. Sầu li biệt tuôn đầy hai mắt, Bóng hương quan xa khuất dặm ngàn. Rượu rồi ngồi dựa lan can Chiêm bao tỉnh giấc đêm tàn về thu... ( Theo Hán văn tinh tuý-NXB TP Hồ Chí Minh-1992) [1] Đỗ Phủ- nhà thơ nổi tiếng đời Đường. Một buổi chiều trên sông Khúc, làm tám bài Thu hứng, trong đó có câu: Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ/ Cô châu nhất hệ cố viên tâm ( Tùng cúc vài phen tuôn lệ cũ / Con thuyền buộc chặt mối tình nhà). Đinh Nhật Thận đã mượn câu thơ trên của Đỗ Phủ <bài viết được chỉnh sửa lúc 25.07.2010 18:40:00 bởi phantien > #1
phantien 25.07.2010 18:41:32 (permalink) Tôn Gia Các Giáo sư Tôn Gia Các, dạy học tại Hà Nội, quê Võ Liệt, người luôn một tâm hồn bình thản, vui vẻ, lạc quan. Nghe nói, từ 60 tuổi, mỗi năm ông làm một bài thơ Di chúc. Đến năm 66 tuổi thì ông mất. Trộm vía ông, chúng tôi xin đăng bài thơ truyền khẩu này. DI CHÚC 2 ( Thơ vui) Chắc rằng cha sắp “quy tiên” Bởi cha đến tuổi “tri thiên mệnh” rồi Mặc dầu sức khỏe còn dồi Nhưng mà sống chết, số trời biết đâu Nay cha dặn lại mấy câu Khi cha chết, cứ như sau mà làm: Thấy cha thẳng cẳng, chỉ nằm Để bông vào mũi, không còn bay bay Mấy thằng phải phóng đi ngay Báo cô Thu biết cha mày hết hơi Một thằng phi xuống chợ Giời Mua cha cỗ ván, rộng dài bằng cha Mua xong chở thẳng về nhà Thằng đầu, thằng cẳng, khênh cha bỏ vào Các con đừng khóc, đừng gào Cha chết là phải, sống nào ích chi Cỗ bàn bày biện làm gì Chúng mày không đói, cha thì nghỉ ăn Cũng đừng mũ, mấn, áo khăn Mỗi thằng một mẩu khăn tang được rồi Đừng nên bắt chước mọi người Khịa ra trướng đối, lôi thôi phiền hà Mai táng phí, lĩnh cho cha Làm sao tính toán tiêu pha cho vừa Cũng nên lưu ý phòng ngừa Nếu bệnh truyền nhiễm thì đưa đi liền Mẹ mày cùng với o Tiên Tuổi già lắm bệnh chớ nên khóc nhiều Ông mày chắc sống còn lâu Phải giữ sức khỏe mới hầu được ông Cha chết đi, rất yên lòng Ngậm cười chín suối, cha không hận gì Từ nay thôi hết thị phi Đổi mới, bảo thủ, kiểu gì cũng xong Văn chương chôn chặt ngoài đồng Tung hê, hồ thỉ, tang bồng mặc ai Nhưng mà có lẽ con ơi Phải xin bác Mạnh một bài điếu văn Khi truy điệu đọc một lần Đến khi hạ huyệt, nếu cần đọc thêm Nghe người, con hiểu cha hơn Rằng cha cũng chẳng “tầm thường” lắm đâu Người ta sẽ nói có câu Rằng “cha cống hiến rất lâu, rất nhiều” Rằng “cha đáng kính yêu” “Cha chết- tổn thất không sao đền bù” Nghe văn con chớ gật gù Văn cho người chết bao giờ cũng hay! Các con ơi! Thôi từ nay Âm dương cách biệt, chúng mày thiếu cha Chúng mày sẽ mở mắt ra “Trăm năm trong cõi người ta” nhọc nhằn Dễ gì kiếm được miếng ăn Cha còn sống, nói bao lần chẳng nghe Phận cha sống gửi, thác về Thiên đường, địa ngục âm ty mặc dầu! Đời cha chẳng thiết sống lâu Các con ơi! đấy là câu cuối cùng! #2
phantien 25.07.2010 18:43:02 (permalink) Trần Nghệ GIÁ MỘT MÉT VUÔNG ĐẤT TRÊN TỔ QUỐC MÌNH Kính dâng hương hồn đồng đội Thời nay! Những kẻ hốt được "tiền chùa" Những cái đầu hãnh tiến Giương giương tự đắc Vênh váo! Trước mặt mọi người Gặp nhau: ồn ào bàn tán... Một m2 đất: Mấy cây? Mấy chỉ? Tôi tính mét vuông đất bằng máu- người- chiến- sỹ Đồng đội tắt thở trên tay giữa Sài Gòn Trước rạng đông thành phố Mỗi m2 đất thấm tràn Máu đỏ! Tháng tư này biết bao em nhỏ Thắm đỏ khăn quàng trong gió mai Đạp mi-ni trên những phố dài Anh nói cùng em- lời thương mến nhất... Giá mỗi m2 đất. Tổ quốc mình đây Lớn lên, em - Chớ tính: Bằng cây bằng chỉ Quý vô giá: Máu triệu người-chiến-sỹ Không thể mua: máu đồng chí, đồng bào. ( Rút từ: Mùa vải chín-NXB Nghệ An- 2010) Nhà giáo (đã nghỉ hưu), quê Thanh Hưng #3
phantien 25.07.2010 18:44:22 (permalink) Nguyễn Lâm Cẩn* MƠ HẦU RƯỢU CỤ TẢN ĐÀ Rượu ư ? Mấy chén cỏn con Không người đối ẩm Rượu ngon bằng thừa. Xin hầu cụ uống say sưa Trời cao Nắng! Phận thấp Mưa! Xá đời! Uống cho cô độc thành đôi Đau thì dốc cạn Buồn trôi vào lòng! Thơ ư ? Xin cụ mấy dòng Đem rao ngoài chợ thêm đồng rượu khê Cái ngông ư cụ? Đem về Ủ men tôi cất vào be giải sầu Cái tình mau ngấm, say lâu Chát! Tom! Tom! Chát! Cô đầu cụ ơi! Chùa Hương rau sắng già rồi Giang hồ quảy gánh. Về thôi! Cạn ngày. Xin hầu cụ uống cho say Nay tôi Xưa cụ Đắng cay dồn vào. ( Rút từ Đêm trắng-NXB VHDT) #4
phantien 25.07.2010 18:45:48 (permalink) Trịnh Phương Hà* HOÀI NIÊM ĐỒNG LÀNG Ta vẫn quen ngửi mùi rơm rạ Khói đốt đồng vẫn ngan ngát đâu đây Những ruộng đã xoay mùa chuyển vụ Thì còn đâu bát ngát cánh đồng xưa. Trách chi nữa... đầu ta sương trắng phủ Trở về làng phố đã kẻ thành ô Ta đã đi như trốn làng quê cũ Giờ về mơ gốc sung cũ ao nhà. Em đâu nữa... đuôi sam bờ ruộng vắng Cỏ may khâu sao kịp váy ngang đùi Làng với em đây...đâu mùa thu cũ Rạ rơm kia hết chỗ cháy rồi ư? Không cưỡng nổi đồng làng đành chấp nhận Những ngôi nhà ngạo nghễ mọc trên lưng Nhưng mùa thu ơi! Khói đốt đồng vẫn toả Trong hồn người xưa cũ của quê hương. ( Rút từ Một mình với mùa thu-NXB Nghệ An-2007) * Quê Thanh Ngọc, công tác tại Hà Nội(tác giả đã mất) #5
phantien 25.07.2010 18:48:20 (permalink) Lê Huy Mậu* KHÚC HÁT SÔNG QUÊ Ngỡ như người đã hát thay tôi Ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát Tuổi thơ ơi! Quá nửa đời phiêu dạt Ta lại về Úp mặt vào sông quê Như thuở nhỏ Úp mặt vào lòng mẹ Để tìm sự chở che Xin bắt đầu từ hạt phù sa Ta cúi nhặt tình cờ bên sông tháng chạp Ôi! phù sa Những cá thể tự do trong hành trình của đất Đêm nao chớp bể mưa nguồn Trong cơn thác lũ Trong sóng đỏ Đất đi Kiến tạo Sinh thành… Em ơi! Quả ớt cay bổi hổi Trên bãi sông Thuở chưa dấu chân người Anh nghe nói có một thời Tất cả còn hoang dại Tổ tiên ta chỉ hái lượm mà thôi Lại nghe nói Thuở ta chưa biết ăn gì cả Ta cùng cây cỏ sinh đôi Rồi cây cỏ ăn ta Rồi ta ăn cây cỏ Cũng là khi đắng cay ngọt bùi Ta và đất kết giao Lấy dòng sông làm thời thế non nước Chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất Mà đất lở sông ơi! Nơi ta chăn trâu, thả diều ngày cũ đã đâu rồi Hạt đất quê ta Giờ đã bồi về đâu chẳng biết Có làng xóm nào sinh Từ hạt đất bờ sông quê ta lở Như cuộc đời ta khuyết hao Để đắp bồi rồi rờ rỡ Những sớm má hồng ríu rít cháu con ta Này dòng sông Ai đã đặt tên cho sông là sông Cả Thế và Ai đã gọi sông Cả là sông Lam Ta đơn giản chỉ gọi là con sông Quê hương Tháng ba Phù sa sóng đỏ Cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng Tháng năm Ta lặn bắt cá ngạnh nguồn Tháng chín Cá lòng bong Ta thả câu bằng mồi con giun vạc Tháng chạp Ta nếm vị heo may Trên má em hồng… Để rồi ta đi khắp núi sông Ta lại gặp Tháng ba, tháng năm… tháng chạp Trong vị cá sông Trên má ai hồng Này dòng sông Ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ Phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta Sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế Mẹ thuê ta một xu bánh đa vừng Ta ngoan hết một ngày Ta ngoan suốt cả năm Ta thương mẹ đến trọn đời ta sống Quê hương ta nghèo lắm Ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn Ta mổ lợn Con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt Cá dưới sông cũng có tết như người Trên bãi sông Ta trồng cây cải tươi Ta ăn lá Bướm ong thì hút mật Lúa gặt rồi- còn rạ, còn rơm Trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh Cùng một bến sông Phía dưới trâu đằm Phía trên ta tắm Trong kí ức ta Sao ngày xưa yên ổn quá chừng! Một dòng xanh trong chảy mãi tới vô cùng… * Quê Thanh Tiên, công tác ở Ban Tuyên giáo Bà Rịa- Vũng Tàu #6
phantien 25.07.2010 18:49:52 (permalink) Lê Văn Bằng* Hát với sông Giăng Trên bản đồ Tổ quốc Sông Giăng không có tên Với tình người xứ sở Sông Giăng không thể quên. Nguồn cao từ Trường Sơn Qua Con Cuông góp nước Cửa Vều rồi Lộp ốp Xuôi Hàn qua Đá Gân. Hợp với nước Rào Con Sông Giăng làm Thác Muối Một cái tên chờ đợi Náo nức người Hạnh Lâm Về Chợ Chùa rất gần Sông biết dòng sắp trọn Trong xanh và chầm chậm Ôm Phong Hoa vào lòng! Tổ quốc biết sông Hồng Kể từ thời dựng nước Ôi sông Giăng thân thiết Ta biết tự khi nào? Lán trại người dựng đầu Chợ Giăng chợ Chùa đó? Cao một hòn Rú Ná Gợi cái thuở hồng hoang. * Nhà giáo, quê Phong Thịnh ( Rút từ Hát về sông Giăng- NXB Nghệ An) #7
phantien 25.07.2010 18:51:50 (permalink) Nguyễn Bùi Vợi* TIẾNG NGHỆ Cái gầu thì bảo cái đài Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi Chộ tức là thấy mình ơi Trụng là nhúng đấy đừng cười nghe em Thích chi thì bảo là sèm Nghe ai bảo đọi thì mang bát vào Cá quả lại gọi cá tràu Vo troốc là bảo gội đầu đấy em... Nghe em giọng Bắc êm êm Bà con hàng xóm đến xem chật nhà Răng chưa sang nhởi nhà choa Bà o đã nhốt con ga trong truồng Em cười bối rối mà thương Thương em một lại trăm đường thương quê Gió Lào thổi rạc bờ tre Chỉ nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn Chắt từ đã sỏi đất cằn Nên yêu thương mới sâu đằm đó em. * Quê Cát Văn, nhà thơ đã quá cố. #8
Chuyển nhanh đến: Chuyển nhanh đến - - - - - - - - - - [THÔNG BÁO] - - - - Thông Báo - - - - Hướng Dẫn Sử Dụng Diễn Đàn - - - - Thông báo lỗi của Diễn đàn - - - - - - - - Phòng đăng bài thử - - - - Thắc Mắc - Ý Kiến - - - - - - - - Diễn đàn guest [THƯ VIỆN VNTHUQUAN] - - - - Dịch Sách truyện cho Thư viện Online - - - - Bạn đọc yêu cầu - - - - Audio Truyện - Thơ - - - - - - - - Audio Truyện Ngắn - - - - - - - - Audio Truyện Dài - - - - - - - - Audio Thơ [VĂN HỌC] - - - - Văn - - - - - - - - Sách truyện tự sáng tác - - - - - - - - - - - - Tùy Bút - Tản Văn - - - - - - - - Sách truyện sưu tầm - - - - - - - - Truyện Tranh - - - - Thơ - - - - - - - - Thơ Sáng Tác - - - - - - - - - - - - Thơ Đường - - - - - - - - Thơ Sưu Tầm - - - - - - - - Thơ vui - - - - - - - - Ca Dao Tục Ngữ - - - - - - - - Đồng Dao - Vè - - - - - - - - Danh Ngôn - - - - - - - - Thơ dịch - - - - Tác giả - Tác phẩm Phòng Việt Văn - - - - - - - - Tác giả người Việt - - - - - - - - Tác giả người ngoại quốc - - - - Tác giả - Tác phẩm - Phòng Ngoại văn - - - - - - - - Tiếng Anh - - - - - - - - - - - - Truyện Tiếng Anh - - - - - - - - Tiếng Đức - - - - - - - - Tiếng Pháp - - - - - - - - Tiếng Hoa - - - - - - - - Tiếng Nga [NGHỆ THUẬT] - - - - ÂM NHẠC - - - - - - - - Nhạc sáng tác - - - - - - - - Nhạc tự trình diễn - - - - - - - - Nhạc phổ từ thơ Thành viên VNTQ - - - - - - - - Cổ Nhạc - - - - - - - - Lời bài hát - - - - - - - - Public Links - - - - - - - - Tin Tức Âm Nhạc - New Release - - - - - - - - Old Threads - - - - - - - - Cà Phê Thư Quán - - - - Hội Họa - - - - - - - - Tranh Sáng Tác - - - - - - - - Tranh Sưu Tầm - - - - Nhiếp Ảnh - - - - - - - - Ảnh Sáng Tác - - - - - - - - Ảnh Sưu Tầm - - - - - - - - Ảnh Lưu Niệm - - - - - - - - Kỹ Thuật Chụp Ảnh và Xử Lý Hậu Kỳ - - - - - - - - Máy Ảnh và Phụ Kiện - - - - - - - - Ảnh Khỏa Thân Nghệ Thuật - - - - Thủ Công Mỹ Nghệ + Điêu Khắc - - - - Sân Khấu - Điện Ảnh - - - - - - - - Sau Bức Màn Nhung - - - - - - - - Điểm Phim - Chuyện Màn Ảnh - - - - Thời Trang - Thẩm Mỹ - - - - - - - - Thời Trang Thiết Kế - - - - - - - - Y Phục May Sẵn - - - - - - - - Trang Sức - - - - - - - - Trang Điểm [ĐỜI SỐNG - XÃ HỘI] - - - - Gia Chánh Ngày Nay - - - - - - - - Hương Vị Việt Nam - - - - - - - - Mẹo Vặt - - - - Y khoa Thường Thức - - - - - - - - Sách - Tài Liệu Đông Y - - - - - - - - Sách - Tài Liệu Tây Y - - - - Du Lịch - - - - - - - - Phong Tục Tập Quán - - - - Khoa Học Huyền Bí - - - - Khoa Học Phổ Thông - - - - Kết Nối Những Tấm Lòng [GIAO LƯU - GIẢI TRÍ] - - - - Kết Bạn Bốn Phương - - - - - - - - Nhắn Tin - - - - - - - - Kim bằng hội ngộ - - - - - - - - Đôi Dòng Lưu Niệm - - - - Gỡ Rối Tơ Lòng - - - - - - - - Tâm Sự Bạn Gái - - - - - - - - Tâm Sự Bạn Trai - - - - - - - - Những Lá Thư Tình - - - - - - - - Chuyện Gia Đình - - - - - - - - Nhật Ký online - - - - - - - - Kinh nghiệm sống - - - - Lượm Lặt Đó Đây - - - - Trắc Nghiệm - - - - Hỷ Lạc quán - - - - - - - - Đố Vui - - - - - - - - Chuyện Cười - - - - - - - - Tranh Vui - - - - - - - - Phòng Tán Dóc - - - - Thể Thao - - - - Thú Tiêu Khiển - - - - Chúc Mừng - Cảm Tạ - - - - Phân Ưu [TIN HỌC] - - - - Hỏi Ðáp Tin Học - - - - Hướng Dẫn Lập trình - - - - Nhu Liệu - - - - Đồ Hoạ Vi Tính - - - - - - - - Photoshop - Hướng Dẫn - - - - - - - - Chương Trình Hổ Trợ Cho Phothoshop [CÁC CHUYÊN MỤC KHÁC] - - - - Phòng Lưu Trữ - - - - Quảng Cáo - Rao Vặt Thống kê hiện tại
Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc. Kiểu: Classic Mobile Original 2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9Từ khóa » Thu Tịch Lữ Hoài
-
Bài Thơ: Thu Tịch Lữ Hoài - 秋夕旅懷 (Lý Bạch - 李白) - Thi Viện
-
Thu Tịch Lữ Hoài – Wikisource Tiếng Việt
-
Thu Tịch Lữ Hoài - Lý Bạch, Li Bai - Laiquangnam - Chim Việt Cành Nam
-
Các Bài Dịch Thơ Thu Tịch Lữ Hoài Của Lý Bạch (Mailoc, Đỗ Chiêu ...
-
Ly Bach - Thu Tich Lu Hoai
-
Thu Tịch Lữ Hoài - Lý Bạch - HHD Bellephoto
-
GS. Lê Đình Thông – Mùa Thu Trong Thơ Đường - Lê Diễm Chi Huệ
-
XUÂN TỊCH LỮ HOÀI - LƯU KHÂM HƯNG (劉欽興)
-
Chi Tiết Thủ Tục Hành Chính
-
Dịch Vụ Xin Giấy Phép Lữ Hành Quốc Tế Tại Huyện Hoài Đức - Luật ACC
-
Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm 秋夜旅懷吟 - LaTeX Và Ubuntu
-
Lạnh Lùng Gió Vượt Bể Thu. Hồn Quê Theo Gió Như Vù Vù Bay. Chạy ...
-
Thu Tịch Lữ Hoài - Website Trần Thị Hoàng Dung
-
Tìm Kiếm Truyện Lữ Hoài Thu - Trang 1 - TruyenFun